luận văn thạc sĩ Chất lượng cán bộ, công chức chính quyền cấp xã ở tỉnh Điện Biên - Pdf 13

chất lợng cán bộ, công chức chính quyền cấp xã ở
tỉnh điện biên
hà nội - 2009
MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU
1
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHẤT LƯỢNG CÁN BỘ, CÔNG CHỨC
CHÍNH QUYỀN CẤP XÃ
8
1.1. Khái niệm, vị trí vai trò, đặc điểm, tiêu chuẩn của cán bộ, công
chức chính quyền cấp xã; Khái niệm chất lượng cán bộ, công
chức chính quyền cấp xã 8
1.2. Các tiêu chí đánh giá chất lượng cán bộ, công chức chính quyền
cấp xã 25
1.3. Các yếu tố đảm bảo chất lượng cán bộ, công chức chính quyền cấp xã 44
Chương 2: THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG CÁN BỘ, CÔNG CHỨC
CHÍNH QUYỀN CẤP XÃ Ở TỈNH ĐIỆN BIÊN (TỪ 2004
ĐẾN 2008)
53
2.1. Đội ngũ cán bộ, công chức chính quyền cấp xã ở tỉnh Điện Biên 53
2.2. Đánh giá thực trạng đội ngũ cán bộ, công chức chính quyền cấp xã ở
tỉnh Điện Biên 70
2.3. Nguyên nhân hạn chế về chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức
chính quyền cấp xã ở tỉnh Điện Biên 79
Chương 3: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT
LƯỢNG CÁN BỘ, CÔNG CHỨC CHÍNH QUYỀN CẤP XÃ
Ở TỈNH ĐIỆN BIÊN
82
3.1. Yêu cầu của việc nâng cao chất lượng cán bộ, công chức chính
quyền cấp xã ở tỉnh Điện Biên 82

tác xây dựng Đảng, trung tâm trong kiện toàn hệ thống Nhà nước.
Cán bộ, công chức cấp xã là những người gần dân nhất, trực tiếp tiếp
xúc với nhân dân, hàng ngày triển khai, hướng dẫn, vận động nhân dân thực
hiện mọi chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà
nước, trực tiếp lắng nghe, giải quyết hoặc kiến nghị lên chính quyền cấp trên
những kiến nghị, ý kiến, nguyện vọng của nhân dân.
Vì vậy, chất lượng hoạt động của cán bộ, công chức chính quyền cấp
xã ảnh hưởng trực tiếp đến sức mạnh của hệ thống chính trị ở cơ sở, tác động
trực tiếp đến sự nghiệp cách mạng và đổi mới của Đảng và Nhà nước.
Cán bộ là một yếu tố quan trọng nhất trong việc xây dựng và củng cố
chính quyền cấp xã vững mạnh. Đồng thời muốn xây dựng và củng cố chính
1
quyền cấp xã vững mạnh thì phải xây dựng cán bộ, công chức có đủ năng lực
và phẩm chất để thực hiện sự nghiệp đổi mới mà Đảng ta đã khởi xướng.
Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng (2001) khẳng định:
Hoàn thiện chế độ công vụ, quy chế cán bộ, công chức, coi
trọng cả năng lực và đạo đức; bảo đảm tính nghiêm túc, trung thực
trong thi tuyển cán bộ, công chức. Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công
chức, trước hết là cán bộ lãnh đạo, cán bộ quản lý, về đường lối,
chính sách, về kiến thức và kỹ năng quản lý hành chính nhà nước.
Sắp xếp lại đội ngũ cán bộ, công chức theo đúng chức năng, tiêu
chuẩn. Định kỳ kiểm tra, đánh giá chất lượng cán bộ, công chức,
kịp thời thay thế những cán bộ, công chức yếu kém và thoái hóa.
Tăng cường cán bộ cho cơ sở. Có chế độ, chính sách đào tạo, bồi
dưỡng, đãi ngộ đối với cán bộ xã, phường, thị trấn [14].
Trong Nghị quyết Hội nghị lần thứ 5 Ban chấp hành Trung ương
Đảng khóa IX về đổi mới và nâng cao chất lượng của hệ thống chính trị ở
cơ sở xã, phường, thị trấn nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước
đã xác định từ nay đến năm 2005, cần tập trung giải quyết mấy vấn đề cơ
bản và bức xúc trong đó ghi rõ:

đào tạo, bồi dưỡng và tạo nguồn đội ngũ cán bộ hệ thống chính trị cơ sở vùng
Tây Bắc (giai đoạn 2007 - 2010) là cơ sở pháp lý quan trọng để làm tốt công
tác cán bộ, công chức chính quyền cấp xã.
Điện Biên là một tỉnh miền núi nghèo, có địa hình phức tạp, chủ yếu là
núi cao, độ dốc lớn, xen kẽ với các thung lũng hẹp. Ngay từ khi thành lập tỉnh
(tách ra từ tỉnh Lai Châu năm 2004), tỉnh Điện Biên có nhiều thuận lợi và khó
khăn, trong đó khó khăn lớn nhất là sự thiếu hụt trầm trọng và sự yếu kém của
cán bộ, công chức trong toàn tỉnh nói chung và cán bộ, công chức chính
quyền cấp xã nói riêng, nên hiệu quả kinh tế - xã hội của tỉnh không cao.
Trong những năm qua, cấp uỷ và chính quyền tỉnh Điện Biên đã quan
tâm tới công tác cán bộ, nhưng thực tế năng lực quản lý nhà nước của cán bộ,
3
công chức đang còn thấp, nhất là năng lực quản lý nhà nước của cán bộ, công
chức chính quyền cấp xã, chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển của Tỉnh, do
tỉnh Điện Biên còn thiếu hệ thống giải pháp đồng bộ về nâng cao năng lực
quản lý nhà nước của cán bộ, công chức chính quyền cấp xã.
Xuất phát từ những lý do trên, việc nghiên cứu Chất lượng cán bộ,
công chức chính quyền cấp xã ở tỉnh Điện Biên là rất cấp thiết và có ý
nghĩa quan trọng cả về mặt lý luận và thực tiễn.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Vấn đề chất lượng cán bộ, công chức đã được nhiều chuyên gia, nhà
khoa học, nhà nghiên cứu và nhiều công trình khoa học cũng đã nghiên cứu vấn
đề này dưới nhiều gốc độ khác nhau. Có thể liệt kê một số công trình nghiên cứu
liên quan đến lĩnh vực trên như sau:
PGS.TS Nguyễn Phú Trọng và PGS.TS Trần Xuân Sầm chủ biên: Luận cứ
khoa học cho việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ trong thời kỳ đẩy mạnh
công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2003;
GS. Hồ Văn Thông: Tình hình các tổ chức chính trị ở nông thôn nước ta
được in trong cuốn sách Kinh tế xã hội nông thôn Việt Nam ngày nay, tập 2, Nxb
Tư tưởng văn hóa, Hà Nội 1991;

PGS Hà Quang Ngọc: Đội ngũ cán bộ chính quyền cơ sở: thực trạng và
giải pháp, Tạp chí Cộng sản số 2/1999;
GS.TSKH Vũ Huy Từ: Một số giải pháp tăng cường năng lực đội ngũ
cán bộ cơ sở, Tạp chí Quản lý nhà nước số 5/2002;
Dưới góc độ khoa học, các công trình nói trên là hết sức có giá trị đối
với những người đã và đang nghiên cứu về chất lượng cán bộ, công chức. Tuy
nhiên, đến nay đề tài: Chất lượng cán bộ, công chức chính quyền cấp xã ở
tỉnh Điện Biên là công trình nghiên cứu đầu tiên mang tính toàn diện đối với
cán bộ, công chức chính quyền cấp xã ở tỉnh Điện Biên.
3. Mục đích, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu cơ sở lý luận của vấn đề chất lượng cán bộ, công
chức chính quyền cấp xã; đánh giá thực trạng chất lượng cán bộ, công chức
5
chính quyền cấp xã trong những năm qua ở Điện Biên, qua đó đưa ra những
quan điểm, giải pháp để nâng cao chất lượng cán bộ, công chức chính quyền
cấp xã ở Điện Biên trong những năm tiếp theo.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Xây dựng và hệ thống hóa một số quan điểm lý luận về chất lượng cán
bộ, công chức cấp xã; xây dựng khái niệm và nêu ra những đặc điểm của chất
lượng cán bộ, công chức cấp xã. Phân tích nội dung, vị trí, vai trò của cán bộ,
công chức cấp xã cũng như những nguyên nhân và xu hướng phát triển của
cán bộ, công chức cấp xã ở Điện Biên;
Đánh giá những kết quả đạt được cũng như những hạn chế của đội ngũ
cán bộ, công chức cấp xã ở Điện Biên trong những năm qua và chỉ ra nguyên
nhân khách quan và chủ quan của những hạn chế đó.
Dự báo và xây dựng những tiêu chuẩn về cán bộ, công chức cấp xã ở
tỉnh Điện Biên, đề xuất các giải pháp cụ thể có tính khả thi nhằm đảm bảo về
chất lượng cán bộ, công chức cấp xã ở Điện Biên hiện nay.
3.3. Phạm vi nghiên cứu

Các giải pháp đưa ra cũng có thể được tiếp tục nghiên cứu, phát triển
và áp dụng rộng ngoài phạm vi tỉnh Điện Biên. Qua đó, tác giả hy vọng sẽ
được đóng góp một phần nhỏ vào tiến trình quản lý nhà nước nhằm nâng cao
chất lượng cán bộ, công chức cấp xã tại Việt Nam.
6. Ý nghĩa của luận văn
Đề tài có ý nghĩa lý luận và thực tiễn, giúp cho công tác quản lý nhà
nước trong việc nâng cao chất lượng cán bộ, công chức cấp xã ở tỉnh Điện
Biên được hoàn thiện hơn.
Các giải pháp của đề tài sẽ làm cơ sở để xây dựng mô hình về chất
lượng cán bộ, công chức cấp xã trên địa bàn tỉnh.
Đề tài có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu nâng
cao chất lượng cán bộ, công chức cấp xã đối với các lĩnh vực khác.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục,
luận văn gồm 3 chương, 9 tiết.
7
Chương 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ CHẤT LƯỢNG CÁN BỘ, CÔNG CHỨC
CHÍNH QUYỀN CẤP XÃ
1.1. KHÁI NIỆM, VỊ TRÍ VAI TRÒ, ĐẶC ĐIỂM, TIÊU CHUẨN CỦA CÁN
BỘ, CÔNG CHỨC CHÍNH QUYỀN CẤP XÃ; KHÁI NIỆM CHẤT LƯỢNG CÁN
BỘ, CÔNG CHỨC CHÍNH QUYỀN CẤP XÃ
1.1.1. Khái niệm, vị trí vai trò, đặc điểm, tiêu chuẩn của cán bộ,
công chức chính quyền cấp xã
a) Khái niệm cán bộ, công chức chính quyền cấp xã
Nước ta khi bước vào thời kỳ mới vừa đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện
đại hóa, vừa xây dựng và hoàn chỉnh Nhà nước pháp quyền xã hội chủ
nghĩa, vừa tiến hành xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân
tộc. Chính vì vậy, chúng ta cần phải xây dựng cán bộ, công chức có chất
lượng đồng bộ, phù hợp với những yêu cầu mới đặt ra, đặc biệt là cán bộ,

là sĩ quan, hạ sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc
phòng; được xếp vào ngạch bậc và hưởng lương từ ngân sách nhà
nước [46, Điều 1].
Qua gần 20 năm đổi mới, nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn
và quan trọng về kinh tế, xã hội, giữ vững ổn định về chính trị và hiện nay
đang đứng trước yêu cầu đổi mới của sự phát triển. Đòi hỏi phải đổi mới và
nâng cao chất lượng của hệ thống chính trị ở cơ sở xã, phường, thị trấn cũng
được đặt ra.
Công chức là những người được Nhà nước tuyển dụng, bổ nhiệm hoặc
được giao nhiệm vụ thường xuyên làm việc trong các cơ quan Nhà nước, tổ
chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội ở Trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện
hoặc cơ quan đơn vị thuộc quân đội nhân dân hay công an nhân dân mà
không phải là hạ sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, được phân loại theo chế
độ đào tạo, ngành chuyên môn, được xếp vào một ngạch hành chính trong
biên chế và hưởng lương từ ngân sách Nhà nước [26, tr.18].
9
Trên cơ sở đó, Nghị quyết Hội nghị lần thứ 5 Ban Chấp hành Trung
ương Đảng khóa IX xác định: Đội ngũ cán bộ của hệ thống chính trị ở cơ sở
có cán bộ chuyên trách và cán bộ không chuyên trách.
Cán bộ chuyên trách là những cán bộ phải dành phần lớn thời gian lao
động làm việc công để thực hiện chức trách được giao, bao gồm: Cán bộ giữ
chức vụ qua bầu cử và cán bộ chuyên môn được ủy ban Nhân dân tuyển chọn;
đội ngũ này có chế độ làm việc và được hưởng chính sách về cơ bản như cán
bộ, công chức nhà nước. Cán bộ, công chức cơ sở có đủ điều kiện được thi
tuyển vào ngạch công chức ở cấp trên.
Tại Điểm g, h Khoản 1, Điều 1 Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều
của Pháp lệnh cán bộ, công chức ngày 26/2/1998 (được ủy ban Thường vụ
Quốc hội thông qua ngày 29/4/2003) quy định: Những người do bầu cử để
đảm nhiệm chức vụ theo nhiệm kỳ trong Thường trực Hội đồng nhân dân, ủy
ban Nhân dân; Bí thư, Phó Bí thư Đảng ủy; người đứng đầu tổ chức chính trị -

còn có đội ngũ cán bộ không chuyên trách và cán bộ thôn, bản bao gồm:
+ Phó trưởng Công an (nơi chưa bố trí lực lượng công an chính quy).
+ Phó chỉ huy trưởng quân sự.
+ Cán bộ Kế hoạch- Giao thông- Thuỷ lợi- Nông, Lâm, Ngư nghiệp.
+ Cán bộ Lao động-Thương binh-Xã hội.
+ Cán bộ Dân số- Gia đình và Trẻ em.
+ Thủ quỹ- Văn thư- Lưu trữ.
+ Cán bộ phụ trách đài truyền thanh
+ Cán bộ quản lý Nhà văn hoá.
+ Trưởng thôn, bản, tổ dân phố.
+ Công an viên ở thôn, bản, tổ dân phố.
Cán bộ không chuyên trách ở cấp xã là những người không làm công
việc thường xuyên, liên tục, không hưởng lương từ ngân sách của nhà nước.
Những người này họ được hưởng phụ cấp hàng tháng do Uỷ ban nhân dân
tỉnh quyết định.
Từ những phân tích trên có thể đưa ra khái niệm như sau:
11
Khái niệm cán bộ chính quyền cấp xã: Cán bộ chính quyền cấp xã là
công dân Việt Nam trong biên chế; được hưởng lương từ ngân sách Nhà
nước, gồm những người được bầu giữ chức vụ Chủ tịch, Phó Chủ tịch Hội
đồng nhân dân, Chủ tịch, Phó Chủ tịch Uỷ ban nhân dân có trách nhiệm lãnh
đạo, chỉ đạo, điều hành thực hiện chức năng, nhiệm vụ của Hội đồng nhân
dân và Uỷ ban nhân dân theo quy định của Hiến pháp và pháp luật, bảo đảm
phát triển kinh tế - xã hội, ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn
xã, phường, thị trấn.
Khái niệm công chức chính quyền cấp xã: Công chức chính quyền cấp xã
là công dân Việt Nam trong biên chế, được hưởng lương từ ngân sách Nhà nước,
được tuyển dụng, giao giữ một chức danh chuyên môn nghiệp vụ thuộc Uỷ ban
nhân dân cấp xã thực hiện nhiệm vụ theo quy định của Hiến pháp và pháp luật.
Khái niệm cán bộ, công chức chính quyền cấp xã: Cán bộ, công chức

hoàn thành, cán bộ có vai trò quyết định đối với công việc “Muôn việc thành
công hoặc thất bại đều do cán bộ tốt hay kém” [20, tr.240].
Cán bộ, công chức có vị trí, vai trò quan trọng đối với cơ quan, tổ chức.
Cán bộ, công chức là thành viên, phần tử cấu thành tổ chức bộ máy. Cán bộ,
công chức có quan hệ mật thiết với tổ chức và quyết định mọi sự hoạt động
của tổ chức. Hiệu quả hoạt động trong tổ chức, bộ máy phụ thuộc vào cán bộ.
Cán bộ, công chức tốt sẽ làm cho bộ máy hoạt động nhịp nhàng, cán bộ, công
chức kém sẽ làm cho bộ máy tê liệt "Cán bộ là cái dây chuyền của bộ máy.
Nếu dây chuyền không tốt, không chạy thì động cơ dù tốt, dù chạy toàn bộ
máy cũng tê liệt" [21, tr.54].
Đối với công việc "cán bộ là cái gốc của mọi công việc", "Muôn việc
thành công hay thất bại đều do cán bộ tốt hoặc kém" [21, tr.269, 240].
Đảng ta luôn coi trọng công tác cán bộ, đặc biệt là thời kỳ đẩy mạnh
công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, Đảng nhận định: "Cán bộ là nhân tố
quyết định sự thành bại của cách mạng gắn liền với vận mệnh của Đảng, của
chế độ, là khâu then chốt trong công tác xây dựng Đảng" [12, tr.34].
13
Vốn quý nhất của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta là cán bộ. Cán bộ là
một trong những nhân tố quan trọng quyết định sự thành công hay thất bại
của sự nghiệp cách mạng. Lênin chỉ rõ: "Trong lịch sử chưa hề có một giai
cấp nào giành được quyền thống trị nếu không đào tạo ra được trong hàng
ngũ của mình những lãnh tụ chính trị, người đại biểu tiên phong có đủ khả
năng tổ chức và lãnh đạo phong trào” [16, tr.478]. Năm 1922, khi đã giành
được chính quyền, Lênin khẳng định: "Nghiên cứu con người, tìm ra những
cán bộ có bản lĩnh. Hiện nay đó là then chốt, nếu không thế thì tất cả mệnh
lệnh và quyết định chỉ là mớ giấy lộn" [17, tr.449].
Để xây dựng đất nước Việt Nam độc lập có chủ quyền với mục tiêu
dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Hồ Chí Minh
cũng đã khẳng định: "Cán bộ là cái gốc của mọi công việc và công việc thành
công hay thất bại đều do cán bộ tốt hay kém" [21, tr.273].

Trên thực tế cán bộ, công chức chính quyền cấp xã hàng ngày cọ sát với
thực tiễn rất phức tạp thuộc nhiều lĩnh vực nên họ cần phải có bản lĩnh, có bề
dày kinh nghiệm và hiểu biết. Song họ lại ít được đào tạo, bồi dưỡng lý luận,
nghiệp vụ và thông tin về chính sách pháp luật. Việc chăm lo đời sống vật
chất, tinh thần đối với họ cũng chưa tương xứng. Thực tế này là một trong
những nguyên nhân làm hạn chế năng lực trình độ quản lý điều hành của cán
bộ, công chức chính quyền ở cơ sở.
Như vậy, cán bộ, công chức là cầu nối giữa Đảng, Nhà nước với nhân
dân, là nhân tố quyết định đến sự thành bại của cách mạng, là khâu then chốt
trong công tác xây dựng Đảng. Ngoài những vị trí, vai trò trên cán bộ, công chức
chính quyền cấp xã còn có vị trí, vai trò thể hiện những phương diện sau đây:
- Cán bộ, công chức chính quyền cấp xã vừa là người đại diện Nhà
nước, vừa là người đại diện cộng đồng, vừa là người cùng làng, cùng họ, vừa
là người dân, là người gần gũi dân, sát dân nhất cho nên họ là người trực tiếp
nắm bắt tâm tư, nguyện vọng tình cảm của dân để phản ánh lên các cấp chính
quyền để các cấp chính quyền đặt ra chính sách đúng. Thực tế cho thấy, ở đâu
mà cán bộ, công chức chính quyền cấp xã gần dân, hiểu dân, nắm bắt kịp thời
15
tâm tư, nguyện vọng của dân thì ở đó các cấp chính quyền sẽ đề ra chính sách
đúng, ngược lại ở đâu mà cán bộ chính quyền cấp xã quan liêu, hách dịch, cửa
quyền thì sẽ đề ra chính sách không phù hợp.
- Cán bộ, công chức chính quyền cấp xã là người trực tiếp tuyên truyền,
phổ biến đường lối, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước cho nhân
dân và vận động nhân dân thực hiện tốt đường lối, chính sách, pháp luật đó
trong cuộc sống. Là người tiên phong gương mẫu trong việc thực hiện chính
sách pháp luật và xây dựng gia đình văn hóa ở khu dân cư.
- Cán bộ, công chức chính quyền cấp xã là người trực tiếp giải quyết
những yêu cầu, những thắc mắc về lợi ích chính đáng của nhân dân.
- Cán bộ, công chức chính quyền cấp xã là người am hiểu các phong
tục tập quán, truyền thống dân tộc của địa phương, họ là người tập hợp

60%) chính vì vậy số lượng thường xuyên bị biến động do hết nhiệm kỳ nhân
dân lại bầu những đại diện mới.
- Cán bộ, công chức cấp xã cả nước hiện nay rất đông (gần bằng số
lượng cán bộ, công chức hành chính của trung ương và 64 tỉnh thành cộng lại).
Tuy nhiên về chất lượng lại rất yếu, độ tuổi tương đối già, chính vì vậy nó là
những nguyên nhân dẫn đến hiệu quả giải quyết công việc không cao.
d) Tiêu chuẩn của cán bộ, công chức chính quyền cấp xã
Tiêu chuẩn cán bộ, công chức là vấn đề rất quan trọng trong công tác
cán bộ. Đó là cơ sở để tiến hành tổ chức, xem xét, đánh giá, lựa chọn, bố trí
sắp xếp và sử dụng cán bộ; đó cũng là cơ sở để bản thân mỗi người cán bộ
phấn đấu, tự rèn luyện, hoàn thiện mình. Chủ nghĩa Mác-Lênin đòi hỏi cán bộ
phải là người "Có nhiều trí tuệ hơn một chút, nhiều sự phân minh trong tư
tưởng hơn một chút… và kiến thức rộng" [19, tr.389], và yêu cầu người cán
bộ "Không nấp sau một chế độ quan liêu giấy tờ, không ngại thừa nhận những
sai lầm của mình bằng cách sửa chữa những sai lầm ấy"[19, tr.35].
Trên cơ sở quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin, Hồ Chí Minh đánh
giá rất cao vị trí, vai trò của người cán bộ, đồng thời cũng đòi hỏi ở người cán
bộ phải có những tiêu chuẩn nhất định, phải tự giác rèn luyện mình về mọi
17
mặt, không ngừng nâng cao phẩm chất, năng lực để xứng đáng với vị trí, vai
trò của mình. Đưa ra những tiêu chuẩn đó đối với cán bộ là Hồ Chí Minh xuất
phát từ những yêu cầu khách quan của cách mạng chứ không phải xuất phát từ ý
chí chủ quan của mình. Tư tưởng Hồ Chí Minh về những tiêu chuẩn ấy mang
tính toàn diện và đầy đủ, gồm các tiêu chuẩn về đạo đức, phẩm chất năng lực, về
trình độ lý luận, về phong cách và phương pháp của người cán bộ.
Trong bất kỳ một hệ thống công chức nào, tiêu chuẩn công chức theo
ngạch hay theo vị trí việc làm đều có vai trò rất quan trọng. Đó là cơ sở để
tuyển dụng, bố trí sử dụng, đào tạo bồi dưỡng. Tiêu chuẩn cũng là căn cứ để
mỗi công chức yên tâm làm việc theo chức trách được giao, xác định hướng
phấn đấu, nâng cao trình độ và khả năng làm việc, các cấp quản lý cũng căn

+ Lý luận chính trị: Có trình độ trung cấp lý luận chính trị trở lên đối
với khu vực đồng bằng; khu vực miền núi phải được bồi dưỡng lý luận chính
trị tương đương trình độ sơ cấp.
+ Chuyên môn nghiệp vụ: Có trình độ trung cấp chuyên môn trở lên đối
với khu vực đồng bằng; khu vực miền núi phải được bồi dưỡng kiến thức chuyên
môn (tương đương trình độ sơ cấp trở lên), nếu tham gia giữ chức vụ lần đầu phải
có trình độ trung cấp chuyên môn trở lên. Đã qua lớp bồi dưỡng quản lý hành
chính Nhà nước, nghiệp vụ quản lý kinh tế, kiến thức và kỹ năng hoạt động đại
biểu Hội đồng nhân dân cấp xã.
- Đối với Chủ tịch, Phó Chủ tịch Uỷ ban nhân dân:
+ Tuổi đời: Do Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh quy định nhưng tuổi
tham gia lần đầu phải đảm bảo làm việc ít nhất hai nhiệm kỳ.
+ Học vấn: Có trình độ tốt nghiệp Phổ thông trung học.
+ Lý luận chính trị: Có trình độ trung cấp lý luận chính trị trở lên đối
với khu vực đồng bằng; khu vực miền núi phải được bồi dưỡng lý luận chính
trị tương đương trình độ sơ cấp trở lên.
+ Chuyên môn nghiệp vụ: Có trình độ trung cấp chuyên môn trở lên
đối với khu vực đồng bằng; khu vực miền núi phải được bồi dưỡng kiến thức
chuyên môn tương đương trình độ sơ cấp trở lên, nếu tham gia giữ chức vụ
19
lần đầu phải có trình độ trung cấp chuyên môn trở lên. Đã qua bồi dưỡng
quản lý hành chính Nhà nước, quản lý kinh tế.
- Đối với công chức Tài chính - Kế toán:
+ Độ tuổi: Không quá 35 tuổi khi tuyển dụng lần đầu.
+ Học vấn: Tốt nghiệp trung học phổ thông đối với khu vực đồng bằng
và đô thị, tốt nghiệp trung học cơ sở trở lên đối với khu vực miền núi.
+ Lý luận chính trị: Sau khi được tuyển dụng phải được bồi dưỡng lý
luận chính trị với trình độ tương đương sơ cấp trởlên.
+ Chuyên môn nghiệp vụ: ở khu vực đồng bằng có trình độ trung cấp
Tài chính Kế toán trở lên. Với công chức đang công tác ở khu vực miền núi

trung cấp Địa chính hoặc xây dựng trở lên. Sau khi được tuyển dụng phải qua
bồi dưỡng về quản lý đất đai, đo đạc bản đồ, quản lý hành chính Nhà nước. ở
khu vực đồng bằng và đô thị phải sử dụng được kỹ thuật tin học trong công
tác chuyên môn.
- Đối với công chức Văn phòng - Thống kê.
+ Độ tuổi: Không quá 35 tuổi khi tuyển dụng lần đầu.
+ Học vấn: Tốt nghiệp trung học phổ thông đối với khu vực đồng bằng
và đô thị, tốt nghiệp trung học cơ sở trở lên đối với khu vực miền núi.
+ Lý luận chính trị: Sau khi được tuyển dụng phải được bồi dưỡng lý
luận chính trị tương đương trình độ sơ cấp trở lên.
+ Chuyên môn, nghiệp vụ: ở khu vực đồng bằng có trình độ trung
cấp Văn thư, lưu trữ hoặc trung cấp Hành chính, trung cấp Luật trở lên.
Với công chức đang công tác ở khu vực miền núi hiện nay, tối thiểu được
bồi dưỡng kiến thức chuyên môn về một trong các ngành chuyên môn trên;
nếu mới được tuyển dụng lần đầu phải có trình độ trung cấp của một trong
ba ngành chuyên môn trên. Sau khi được tuyển dụng phải qua bồi dưỡng
quản lý hành chính Nhà nước (nếu chưa qua trung cấp hành chính). Ở khu
vực đồng bằng và đô thị phải sử dụng được kỹ thuật tin học phục vụ công
tác chuyên môn.
21
- Đối với công chức Văn hoá - Xã hội
+ Độ tuổi: Không quá 35 tuổi khi tuyển dụng lần đầu.
+ Học vấn: Tốt nghiệp trung học phổ thông đối với khu vực đồng bằng
và đô thị, tốt nghiệp trung học cơ sở trở lên đối với khu vực miền núi.
+ Lý luận chính trị: Sau khi được tuyển dụng phải được bồi dưỡng lý
luận chính trị tương đương trình độ sơ cấp trở lên.
+ Chuyên môn nghiệp vụ: ở khu vực đồng bằng phải đạt trung cấp về
văn hoá nghệ thuật (chuyên ngành) hoặc trung cấp quản lý Văn hoá - Thông
tin hoặc trung cấp nghiệp vụ Lao động - Thương binh và xã hội trở lên. Với
công chức đang công tác ở khu vực miền núi hiện nay, tối thiểu được bồi

tương đương trung cấp về quân sự của sĩ quan dự bị cấp phân đội trở lên. Đối
với công chức đang công tác ở khu vực miền núi hiện nay, tối thiểu được bồi
dưỡng kiến thức chuyên môn ngành quân sự; nếu mới được tuyển dụng lần đầu
phải tương đương trung cấp quân sự của sĩ quan dự bị cấp phân đội trở lên. Sau
khi được tuyển dụng phải qua bồi dưỡng quản lý Nhà nước về quốc phòng cấp
xã. Sử dụng thành thạo trang, thiết bị phục vụ công tác chuyên môn.
Ngoài những tiêu chuẩn cụ thể trên, những cán bộ, công chức cấp xã
công tác tại các nơi có đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống phải biết ít nhất
tiếng của một dân tộc thiểu số.
1.1.2. Khái niệm chất lượng cán bộ, công chức chính quyền cấp xã
Theo Từ điển tiếng Việt thì chất lượng hiểu ở nghĩa chung nhất là "cái
tạo nên phẩm chất, giá trị của một con người, sự vật, sự việc" [25, tr.44].
Đối với một con người sống trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại
hóa. Chất lượng của cá nhân đó được hiểu là tổng hợp những phẩm chất nhất
định về sức khỏe, trí tuệ, khoa học, chuyên môn nghề nghiệp, phẩm chất đạo
đức, ý chí, niềm tin, năng lực; luôn gắn bó với tập thể, với cộng đồng và tham
gia một cách tích cực vào quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước yêu cầu chất
lượng đối với mỗi người trong xã hội nói chung vốn đã cao thì yêu cầu đối
23


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status