LUẬN VĂN: Nâng cao năng lực quản lý nhà nước của cán bộ, công chức chính quyền cấp xó ở tỉnh Hà Tĩnh hiện nay - Pdf 15


LUẬN VĂN:

Nâng cao năng lực quản lý nhà nước của
cán bộ, công chức chính quyền cấp xó ở
tỉnh Hà Tĩnh hiện nay


nước ta đã ban hành nhiều Nghị quyết, văn bản quy phạm pháp luật quy định về cán bộ
như: Nghị quyết hội nghị lần thứ 8 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá VII, Nghị
quyết Hội nghị lần thứ 3, 7 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá VIII, Văn kiện đại hội
Đảng X, đặc biệt là Nghị quyết hội nghị lần thứ 5 khoá IX Ban Chấp hành Trung ương
Đảng "về đổi mới và nâng cao chất lượng hệ thống chính trị ở cơ sở xã, phường, thị trấn",
trong đó nhấn mạnh:

Xây dựng đội ngũ cán bộ ở cơ sở có năng lực tổ chức và vận động nhân
dân thực hiện đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước, công tâm, thạo
việc, tận tuỵ với dân, biết phát huy sức dân, không tham nhũng, không ức hiếp
dân, trẻ hoá đội ngũ, chăm lo công tác đào tạo, bồi dưỡng, giải quyết hợp lý và
đồng bộ chính sách đối với cán bộ cơ sở [30, tr 167-168].
Pháp lệnh cán bộ, công chức (đã được sửa sổi, bổ sung năm 2000, 2003); Quyết định
số 136/2001/QĐ-TTg ngày 17-9-2001 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình
tổng thể cải cách hành chính giai đoạn 2001 - 2010; Nghị định số 114/2003/NĐ-CP ngày
10-10-2003 của Chính phủ về CBCC xã, phường, thị trấn; Thông tư số 03/2004/TT-BNV
ngày 16-01-2004 của Bộ Nội vụ hướng dẫn thực hiện Nghị định số 114/2003/NĐ-CP ngày
10-10-2003 của Chính phủ về CBCC xã, phường, thị trấn; Nghị định số 121/2003/NĐ-CP
ngày 21-10-2003 của Chính phủ về chế độ, chính sách đối với CBCC ở xã, phường, thị
trấn; Thông tư liên tịch số 34/2004/TTLT-BNV-BTC-BLĐXH ngày 14-5-2004 của Bộ
Nội vụ, Bộ Tài chính, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội hướng dẫn thực hiện Nghị
định số 121/2003/NĐ-CP ngày 21-10-2003 của Chính phủ về chế độ, chính sách đối với
CBCC xã, phường, thị trấn; Quyết định số 03/2004/QĐ-TTG ngày 07-01-2004 của Thủ
tướng Chính phủ phê duyệt định hướng quy hoạch đào tạo, bồi dưỡng CBCC xã, phường,
thị trấn đến năm 2010; Quyết định số 04/2004/QĐ-BNV ngày 16-01-2004 của Bộ trưởng
Bộ Nội vụ về việc ban hành Quy định tiêu chuẩn cụ thể đối với CBCC xã, phường, thị
trấn là cơ sở pháp lý quan trọng để làm tốt công tác CBCC chính quyền cấp xã.
Hà Tĩnh là một tỉnh miền Trung nghèo, có địa hình phức tạp (miền núi, đồng bằng,
duyên hải và đảo), là nơi gánh chịu sự khắc nghiệt của khí hậu, chịu nhiều tổn thất trong
chiến tranh và thiên tai. Ngay từ khi tái lập tỉnh (tách ra từ tỉnh Nghệ Tĩnh năm 1991), tỉnh

Phú Thọ hiện nay, Luận văn thạc sĩ Luật, Hà Nội, 2004.
- Trần Thị Ngà: Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ chính quyền xã ở các tỉnh miền
núi phía Bắc nước ta, Luận văn thạc sĩ Quản lý nhà nước, Hà Nội 1999.
- Phạm Thị Thu Vinh: Nâng cao năng lực của đội ngũ cán bộ chính quyền cơ sở trên
địa bàn tỉnh Phú Thọ, Luận văn thạc sĩ Quản lý nhà nước, Hà Nội 2003.
- PGS Hà Quang Ngọc: Đội ngũ cán bộ chính quyền cơ sở: Thực trạng và giải pháp,
Tạp chí Cộng sản số 2/1999.

- GS,TSKH Vũ Huy Từ: Một số giải pháp tăng cường năng lực đội ngũ cán bộ cơ sở,
Tạp chí Quản lý nhà nước số 5/2002.
Nhìn chung các công trình trên chủ yếu tập trung đánh giá về chất lượng CBCC như
trình độ học vấn, chuyên môn chưa đánh giá sâu sắc về kỹ năng của CBCC hoặc có
đánh giá về kỹ năng nhưng chưa gắn với hiệu quả phát triển kinh tế - xã hội, với yêu cầu
xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, với đề
cao tính tự quản của cộng đồng dân cư.
Việc nghiên cứu nâng cao năng lực quản lý nhà nước của CBCC chính quyền cấp xã
ở tỉnh Hà Tĩnh hiện nay, chưa có tác giả nào nghiên cứu một cách hệ thống dưới góc độ luật
học. Cho nên, tác giả mạnh dạn nghiên cứu vấn đề này, với mong muốn góp phần nhỏ bé vào
công tác cán bộ của tỉnh nhà.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Luận văn chỉ tập trung nghiên cứu năng lực quản lý nhà nước của CBCC Hội đồng
nhân dân (HĐND) và Uỷ ban nhân dân (UBND) cấp xã ở tỉnh Hà Tĩnh từ năm 1991 đến
nay.
4. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
* Mục đích: Luận văn nhằm đề xuất các giải pháp nâng cao năng lực quản lý nhà
nước của CBCC chính quyền cấp xã ở tỉnh Hà Tĩnh trong giai đoạn hiện nay.
* Nhiệm vụ:
- Phân tích cơ sở lý luận về năng lực quản lý nhà nước của CBCC chính quyền cấp xã
trên cơ sở hệ thống hoá quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh, của
Đảng và quy định của Nhà nước ta. Chương 1
cơ sở lý luận về năng lực quản lý nhà nước
của cán bộ, công chức chính quyền cấp xã

1.1. Chính quyền cấp xã và vị trí, vai trò của cán bộ, công chức chính quyền cấp

1.1.1. Khái niệm và đặc điểm của chính quyền cấp xã
1.1.1.1. Khái niệm chính quyền cấp xã
Chính quyền cấp xã có vị trí, vai trò rất quan trọng trong công cuộc phát triển kinh tế
- xã hội của đất nước, đặc biệt là trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước hiện nay.
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: "Cấp xã là gần dân nhất, là nền tảng của hành chính.
Cấp xã làm được việc thì mọi việc đều xong xuôi" [48, tr.371-372]. Vị trí và vai trò của
chính quyền cấp xã được thể hiện ở những nội dung sau đây:
- Chính quyền cấp xã là nơi trực tiếp tổ chức và thực hiện đường lối, chính sách của
Đảng và pháp luật của Nhà nước đi vào cuộc sống. Thực tiễn cho thấy có hệ thống đường
lối, chính sách pháp luật đúng đắn, khoa học nhưng ở đó chính quyền cấp xã hoạt động
yếu kém thì đường lối, chính sách, pháp luật chưa thực sự đi vào cuộc sống, chưa phát huy
được sức mạnh của mình; ở đâu chính quyền cấp xã hoạt động có hiệu quả thì ở đó đường
lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước được thực thi nghiêm minh, chính trị ổn
định, kinh tế - xã hội phát triển, đời sống nhân dân ngày càng được nâng cao. Chính quyền
cấp xã là nơi thể nghiệm chính xác đường lối, chính sách pháp luật của Đảng, pháp luật
của Nhà nước.
- Chính quyền cấp xã là cấp quản lý các mặt chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội, an
ninh quốc phòng trên địa bàn cơ sở. Hiệu quả hoạt động của chính quyền cấp xã là cơ sở
quan trọng để đánh giá hiệu lực, hiệu quả hoạt động trong cả bộ máy nhà nước.
- Chính quyền cấp xã là cấp chính quyền trực tiếp với dân, gần dân, sát dân nhất, là

của Nhà nước ta (Trung ương, tỉnh, huyện, xã); là cấp quản lý hành chính Nhà nước trên
các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hoá - xã hội, an ninh, quốc phòng ở địa bàn cơ sở.

Thứ hai, chính quyền cấp xã là cấp trực tiếp tổ chức và thực hiện đường lối chính trị,
chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước trong cuộc sống, là cầu nối giữa Đảng, Nhà
nước với nhân dân, là cấp gần gũi dân nhất, là nơi trực tiếp đáp ứng và giải quyết các yêu
cầu chính đáng của nhân dân.
Thứ ba, chính quyền cấp xã gồm HĐND và UBND, mà không có cơ quan Toà án
nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân. HĐND là cơ quan quyền lực Nhà nước và đại diện cho
ý chí, nguyện vọng quyền làm chủ của nhân dân ở cơ sở. UBND là cơ quan chấp hành, cơ
quan quản lý hành chính nhà nước trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hoá - xã hội, an
ninh, quốc phòng trên địa bàn cơ sở.
Thứ tư, chính quyền cấp xã là nơi phát huy tính tự quản của cộng đồng dân cư, là nơi
trực tiếp vận động và tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân.
1.1.2. Khái niệm, vị trí, vai trò của cán bộ, công chức chính quyền cấp xã
1.1.2.1. Khái niệm cán bộ, công chức chính quyền cấp xã
Từ "cán bộ" được hiểu với nhiều nghĩa khác nhau trong từng giai đoạn lịch sử cụ thể.
Dù cách hiểu, cách dùng khác nhau nhưng về cơ bản, từ cán bộ bao hàm nghĩa chính của
nó là bộ khung, là nòng cốt, là chỉ huy. Quan niệm một cách chung nhất, cán bộ là khái
niệm chỉ những người có chức vụ, vai trò và cương vị nòng cốt trong một tổ chức có tác
động ảnh hưởng đến hoạt động của tổ chức và các quan hệ trong lãnh đạo, chỉ huy, quản
lý, điều hành, góp phần định hướng sự phát triển của tổ chức [63, tr.18].
Công chức là những người được Nhà nước tuyển dụng, bổ nhiệm hoặc được giao
nhiệm vụ thường xuyên làm việc trong các cơ quan Nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức
chính trị - xã hội ở Trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện hoặc cơ quan đơn vị thuộc quân đội
nhân dân hay công an nhân dân mà không phải là hạ sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp,
được phân loại theo chế độ đào tạo, ngành chuyên môn, được xếp vào một ngạch hành
chính trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách Nhà nước [57, tr.18].
Theo quy định của Nghị quyết Trung ương 5 khoá IX:
Hệ thống chính trị ở cơ sở có cán bộ chuyên trách và cán bộ không chuyên trách.

phủ về cán bộ, công chức xã, phường, thị trấn.
1. Những người do bầu cử để đảm nhiệm chức vụ theo nhiệm kỳ (gọi
chung là cán bộ chuyên trách cấp xã) gồm có các chức vụ sau đây:

a. Bí thư, Phó Bí thư Đảng uỷ, Thường trực Đảng uỷ (nơi có Phó Bí thư
chuyên trách công tác Đảng), Bí thư, Phó Bí thư chi bộ (nơi chưa thành lập
Đảng uỷ cấp xã);
b. Chủ tịch, Phó Chủ tịch HĐND
c. Chủ tịch, Phó Chủ tịch UBND
d. Chủ tịch Uỷ ban Mặt trận tổ quốc, Bí thư Đoàn Thanh niên Cộng sản
Hồ Chí Minh, Chủ tịch Hội liên hiệp phụ nữ, Chủ tịch Hội nông dân và Chủ
tịch Hội cựu chiến binh.
2. Những người được tuyển dụng, giao giữ một chức danh chuyên môn,
nghiệp vụ thuộc UBND cấp xã (gọi chung là công chức cấp xã), gồm các chức
danh sau đây:
a. Trưởng công an (nơi chưa bố trí lực lượng công an chính quy)
b. Chỉ huy trưởng quân sự
c. Văn phòng - Thống kê
d. Địa chính - Xây dựng
đ. Tài chính - Kế toán
e. Tư pháp - Hộ tịch
g. Văn hoá - Xã hội [53, tr.378].
Theo các quy định trên thì cán bộ chính quyền cấp xã gồm: Chủ tịch, Phó Chủ tịch
HĐND; Chủ tịch, Phó Chủ tịch UBND; công chức xã gồm: Trưởng Công an (nơi chưa bố
trí lực lượng công an chính quy); Chỉ huy trưởng quân sự; Văn phòng - Thống kê; Địa
chính - Xây dựng; Tài chính - Kế toán; Tư pháp - Hộ tịch; Văn hoá - Xã hội.
Khái niệm cán bộ chính quyền cấp xã: Cán bộ chính quyền cấp xã là công dân Việt
Nam trong biên chế; được hưởng lương từ ngân sách Nhà nước, gồm những người được
bầu giữ chức vụ Chủ tịch, Phó Chủ tịch HĐND, Chủ tịch, Phó Chủ tịch UBND có trách
nhiệm lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành thực hiện chức năng, nhiệm vụ của HĐND và UBND

thất bại đều do cán bộ tốt hoặc kém" [48, tr.269, 240].
Đảng ta luôn coi trọng công tác cán bộ, đặc biệt là thời kỳ đẩy mạnh CNH - HĐH
đất nước, Đảng nhận định: "Cán bộ là nhân tố quyết định sự thành bại của cách mạng gắn
liền với vận mệnh của Đảng, của chế độ, là khâu then chốt trong công tác xây dựng Đảng"
[20, tr.34].

Như vậy, CBCC là "cầu nối" giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân, là "nhân tố quyết
định" đến sự thành bại của cách mạng, "là khâu then chốt trong công tác xây dựng Đảng".
Ngoài những vị trí, vai trò trên CBCC chính quyền cấp xã còn có vị trí, vai trò thể hiện
những phương diện sau đây:
- CBCC chính quyền cấp xã vừa là người đại diện Nhà nước, vừa là người đại diện
cộng đồng, vừa là người cùng làng, cùng họ, vừa là người dân, là người gần gũi dân, sát
dân nhất cho nên họ là người trực tiếp nắm bắt tâm tư, nguyện vọng tình cảm của dân để
phản ánh lên các cấp chính quyền để các cấp chính quyền đặt ra chính sách đúng. Thực tế
cho thấy, ở đâu mà CBCC chính quyền cấp xã gần dân, hiểu dân, nắm bắt kịp thời tâm tư,
nguyện vọng của dân thì ở đó các cấp chính quyền sẽ đề ra chính sách đúng, ngược lại ở
đâu mà cán bộ chính quyền cấp xã quan liêu, hách dịch, cửa quyền thì sẽ đề ra chính sách
không phù hợp.
- CBCC chính quyền cấp xã là người trực tiếp tuyên truyền, phổ biến đường lối,
chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước cho nhân dân và vận động nhân dân thực
hiện tốt đường lối, chính sách, pháp luật đó trong cuộc sống. Là người tiên phong gương
mẫu trong việc thực hiện chính sách pháp luật và xây dựng gia đình văn hóa ở khu dân cư.
- CBCC chính quyền cấp xã là người trực tiếp giải quyết những yêu cầu, những thắc
mắc về lợi ích chính đáng của nhân dân.
- CBCC chính quyền cấp xã là người am hiểu các phong tục tập quán, truyền
thống dân tộc của địa phương, họ là người tập hợp được khối đại đoàn kết toàn dân ở
cơ sở, là người phát huy tính tự quản của cộng đồng dân cư.
Tóm lại, CBCC chính quyền cấp xã là người có vị trí, vai trò quan trọng trong việc ổn
định chính trị, phát triển kinh tế - xã hội ở cơ sở, tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân,
tạo điều kiện phát huy tính tự quản trong cộng đồng dân cư.

trình, căn cứ vào những quy định, định luật hay nguyên tắc tương ứng để cho hệ thống hay
quy trình ấy vận động theo ý muốn của người quản lý nhằm đạt được những mục đích đã
định trước.
Theo giáo trình Nhà nước và pháp luật, quản lý hành chính nhà nước của Học viện
Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh thì: Quản lý trong xã hội nói chung là quá trình tổ chức,

điều hành các hoạt động nhằm đạt được những mục tiêu và yêu cầu nhất định dựa trên
những quy luật khách quan.
Quản lý nhà nước là sự tác động, tổ chức, điều chỉnh mang tính quyền lực Nhà nước,
thông qua hoạt động của bộ máy Nhà nước bằng phương tiện, công cụ, cách thức tác động
của Nhà nước đối với các lĩnh vực của đời sống chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội và các
lĩnh vực khác của đời sống xã hội theo đường lối, nghị quyết của Đảng, pháp luật của Nhà
nước.
Quản lý nhà nước được hiểu theo nghĩa rộng và nghĩa hẹp:
Theo nghĩa rộng, quản lý nhà nước là hoạt động tổ chức, điều hành của cả bộ máy
Nhà nước, nghĩa là bao hàm cả sự tác động tổ chức của quyền lực Nhà nước trên các
phương diện lập pháp, hành pháp và tư pháp. Theo cách hiểu này, quản lý nhà nước được
đặt trong cơ chế "Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ".
Theo nghĩa hẹp, quản lý nhà nước chủ yếu là quá trình tổ chức, điều hành trong hệ
thống các cơ quan hành chính Nhà nước đối với các quá trình xã hội và hoạt động của con
người theo pháp luật, nhằm đạt được những mục tiêu, yêu cầu, nhiệm vụ quản lý nhà nước.
Đồng thời, các cơ quan Nhà nước nói chung cần thực hiện các hoạt động có tính chất chấp
hành, điều hành, tính chất hành chính Nhà nước nhằm xây dựng, tổ chức bộ máy và củng
cố chế độ công tác nội bộ của mình.
* Đặc điểm của quản lý nhà nước:
+ Luôn mang tính quyền lực Nhà nước, tính tổ chức cao;
+ Là hoạt động có mục tiêu rõ ràng, có chiến lược và kế hoạch để thực hiện mục tiêu;
+ Là hoạt động có tính chủ động, sáng tạo và linh hoạt trong thực tiễn điều hành,
quản lý;
+ Có tính liên tục và ổn định trong tổ chức và hoạt động trong quản lý hành chính

- Năng lực quản lý văn hoá - xã hội, y tế, giáo dục;
- Năng lực quản lý an ninh quốc phòng.
1.2.2. Đặc điểm năng lực quản lý nhà nước của cán bộ, công chức chính quyền
cấp xã
Xuất phát từ chức trách nhiệm vụ của CBCC chính quyền cấp xã, năng lực quản lý nhà
nước của CBCC chính quyền cấp xã thể hiện ở những điểm sau đây:
- Năng lực của Chủ tịch, Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân cấp xã thể hiện:

+ Năng lực triệu tập, chủ toạ các kỳ họp, năng lực chủ trì tham gia xây dựng nghị
quyết, năng lực giám sát, đôn đốc, kiểm tra việc thực hiện các nghị quyết của HĐND.
+ Năng lực tiếp xúc cử tri, lấy ý kiến cử tri, tổ chức tiếp dân, đôn đốc, kiểm tra việc
giải quyết các kiến nghị, khiếu nại, tố cáo của nhân dân.
+ Năng lực quan hệ với đại biểu HĐND và phối hợp công tác với Uỷ ban Mặt trận
Tổ quốc Việt Nam cùng cấp, năng lực báo cáo công tác với các cơ quan hữu quan.
+ Năng lực chủ trì và phối hợp với UBND trong việc quyết định đưa ra bãi nhiệm đại
biểu HĐND theo đề nghị của Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp.
- Năng lực của Chủ tịch, Phó Chủ tịch UBND cấp xã thể hiện:
+ Năng lực triệu tập, chủ toạ các phiên họp UBND, năng lực quyết định các vấn đề
thuộc thẩm quyền của Chủ tịch, Phó Chủ tịch, tham gia quyết định các vấn đề thuộc thẩm
quyền của UBND, năng lực tổ chức chỉ đạo, đôn đốc, kiểm tra việc thực hiện chính sách,
pháp luật của cơ quan Nhà nước cấp trên, Nghị quyết của HĐND và các quyết định của
UBND cấp xã.
+ Năng lực tiếp dân, xét và giải quyết kiến nghị, khiếu nại, tố cáo của công dân, năng
lực giải quyết và trả lời các kiến nghị của Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn
thể ở xã, phường, thị trấn.
+ Năng lực áp dụng các biện pháp cải tiến lề lối làm việc, quản lý và điều hành bộ
máy hành chính ở cơ sở; năng lực trực tiếp quản lý, chỉ đạo thực hiện một số nhiệm vụ
theo quy định của pháp luật. Năng lực báo cáo công tác trước HĐND cùng cấp và UBND
cấp trên.
+ Năng lực tổ chức quản lý, điều hành hoạt động của trưởng, phó thôn, tổ dân phố

thực hiện các nhiệm vụ tư pháp khác theo quy định của pháp luật.
- Năng lực của công chức Địa chính - Xây dựng:
+ Năng lực lập và quản lý hồ sơ địa chính ở xã, phường, thị trấn.
+ Năng lực giải quyết các thủ tục hành chính liên quan đến đất đai theo quy định của
pháp luật.
+ Năng lực tham gia xây dựng và kiểm tra việc thực hiện quy hoạch; kế hoạch sử
dụng đất ở xã, phường, thị trấn; tiến hành kiểm kê, thống kê đất đai ở xã, phường, thị trấn.
Năng lực tuyên truyền, phổ biến về chính sách pháp luật, đất đai cho nhân dân ở xã,
phường, thị trấn.

+ Năng lực hoà giải tranh chấp đất đai, tiếp nhận đơn thư khiếu nại, tố cáo của dân về
đất đai để giúp UBND cấp có thẩm quyền giải quyết; năng lực kiểm tra phát hiện các
trường hợp vi phạm pháp luật đất đai để kiến nghị UBND cấp xã xử lý.
+ Năng lực phối hợp với các cơ quan chuyên môn cấp trên trong việc đo đạc, lập bản
đồ địa chính, bản đồ địa giới hành chính, giải phóng mặt bằng.
+ Năng lực tham mưu cho UBND cấp xã quản lý công tác xây dựng, giám sát về kỹ
thuật trong việc xây dựng các công trình phúc lợi ở địa phương.
- Năng lực của công chức Văn phòng - Thống kê:
+ Năng lực giúp UBND cấp xã xây dựng chương trình công tác, lịch làm việc và theo
dõi việc thực hiện chương trình, lịch làm việc đó; năng lực tổng hợp báo cáo tình hình kinh
tế - xã hội, tham mưu giúp UBND trong chỉ đạo thực hiện.
+ Năng lực soạn thảo văn bản.
+ Năng lực quản lý văn bản, lập hồ sơ lưu trữ, lập biểu báo cáo thống kê, theo dõi
biến động số lượng, chất lượng CBCC cấp xã.
+ Năng lực giúp HĐND tổ chức kỳ họp, năng lực giúp UBND tổ chức tiếp dân, tiếp
khách, nhận đơn từ khiếu nại của nhân dân chuyển đến HĐND và UBND hoặc lên cấp có
thẩm quyền giải quyết.
+ Năng lực đảm bảo điều kiện vật chất phục vụ cho các kỳ họp của HĐND, cho công
việc của UBND.
+ Năng lực nhận và trả kết quả trong giao dịch công việc giữa UBND với cơ quan, tổ

tra các quy định về an ninh trật tự trên địa bàn theo thẩm quyền.
+ Năng lực xử lý người có hành vi vi phạm pháp luật; tổ chức việc quản lý, giáo dục
đối tượng trên địa bàn theo quy định của pháp luật.
+ Năng lực bảo vệ hiện trường, bắt người phạm tội quả tang, tổ chức bắt có lệnh truy
nã, tiếp nhận và dẫn giải người bị bắt lên công an cấp trên, cấp cứu người bị nạn.
+ Năng lực bảo vệ mục tiêu quan trọng về chính trị, kinh tế, an ninh, quốc phòng ở
địa bàn theo hướng dẫn của công an cấp trên.
+ Năng lực xây dựng nội bộ lực lượng công an xã, trong sạch, vững mạnh và thực
hiện một số nhiệm vụ khác do cấp uỷ Đảng, UBND xã, công an cấp trên giao.
- Năng lực của công chức Chỉ huy trưởng quân sự:

+ Năng lực tham mưu đề xuất về chủ trương, giải pháp lãnh đạo, chỉ đạo và trực tiếp
tổ chức thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, quân sự, xây dựng lực lượng dân quân, lực lượng
dự bị động viên. Xây dựng kế hoạch và phối hợp với các đoàn thể triển khai thực hiện các
nhiệm vụ liên quan tới công tác quốc phòng, quân sự trên địa bàn.
+ Năng lực chỉ đạo dân quân phối hợp với công an và lực lượng khác thường xuyên
hoạt động bảo vệ an ninh trật tự, sẵn sàng chiến đấu, phục vụ công tác và tổ chức khắc
phục thiên tai, sơ tán, cứu hộ, cứu nạn.
+ Năng lực phối hợp với các đoàn thể giáo dục toàn dân ý thức quốc phòng, quân sự
và các vi phạm pháp luật liên quan tới quốc phòng, quân sự.
+ Năng lực phối hợp với các tổ chức kinh tế, văn hoá và xã hội thực hiện nền quốc
phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân.
+ Năng lực thực hiện chính sách hậu phương quân đội, các tiêu chuẩn, chế độ, chính
sách cho dân quân tự vệ, quân nhân dự bị theo quy định.
+ Năng lực tổ chức thực hiện nghiêm chế độ quản lý sử dụng, bảo quản vũ khí trang
bị, sẵn sàng chiến đấu; quản lý công trình quốc phòng theo phân cấp, thực hiện chế độ
kiểm tra, báo cáo, sơ kết, tổng kết công tác quốc phòng, quân sự ở xã, phường, thị trấn.
1.2.3. Các tiêu chí đánh giá năng lực quản lý nhà nước của cán bộ, công chức
chính quyền cấp xã
Các tiêu chí cơ bản đánh giá năng lực quản lý nhà nước của CBCC chính quyền cấp

đức cách mạng mới hoàn thành được nhiệm vụ cách mạng".
CBCC chính quyền cấp xã là người trực tiếp làm việc và sinh hoạt cùng với người
dân. Cho nên đạo đức của người CBCC sẽ có tác động rất lớn đối với người dân, có ảnh
hưởng rất lớn đối với hiệu quả quản lý nhà nước của chính quyền cấp xã. Nếu người
CBCC có đầy đủ các phẩm chất "Cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư" thì nhân dân sẽ
tin tưởng họ, tin tưởng vào sự nghiệp cách mạng của Đảng, từ đó nhân dân tự giác thực
hiện đường lối, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước. Ngược lại, nếu người
CBCC không có đủ các phẩm chất trên thì họ sẽ bị mất niềm tin của nhân dân, ảnh hưởng
đến uy tín của Đảng, nhiệm vụ của cách mạng, họ trở thành "sâu mọt của dân".
Người CBCC chính quyền cấp xã chỉ tuyên truyền, phổ biến đường lối, chính sách
thôi chưa đủ mà họ phải là người tiền phong gương mẫu trong việc chấp hành đường lối,

chủ trương, chính sách đó, họ phải "nói đi đôi với làm", họ phải là tấm gương sáng để
nhân dân noi theo như Bác Hồ đã dạy "Một tấm gương sáng còn giá trị hơn một triệu bài
diễn văn tuyên truyền".
Người CBCC có đạo đức cách mạng là người phải tích cực đấu tranh chống lại các
tiêu cực của xã hội như: Tham nhũng, lãng phí, quan liêu, tha hoá, sa sút về đạo đức lối
sống chạy theo địa vị danh lợi, tranh giành kèn cựa lẫn nhau mất đoàn kết nội bộ, dối trá,
lười biếng, suy thoái về tư tưởng chính trị, phai nhạt lý tưởng cách mạng
Người CBCC chính quyền cấp xã muốn được dân tin yêu (nói dân nghe, làm dân tin)
thì phải thường xuyên rèn luyện tu dưỡng đạo đức trong mọi lúc, mọi nơi như Bác Hồ đã
từng khuyên "đạo đức cách mạng không phải từ trên trời sa xuống. Nó do đấu tranh rèn
luyện bền bỉ hàng ngày mà phát triển và củng cố. Cũng như ngọc càng mài càng sáng,
vàng càng luyện càng trong" [51, tr.293].
Thứ ba, về trình độ (trình độ học vấn, trình độ lý luận chính trị, trình độ chuyên môn
nghiệp vụ, trình độ quản lý hành chính nhà nước).
- Trình độ học vấn (trình độ văn hoá) không phải là yếu tố duy nhất quyết định hiệu
quả hoạt động của CBCC cơ sở nhưng đây là tiêu chí quan trọng ảnh hưởng đến hoạt động
quản lý trong đội ngũ này. Nó là nền tảng cho việc nhận thức, tiếp thu đường lối, chủ
trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước; là tiền đề tổ chức thực hiện đường

sẽ lúng túng trong việc giải quyết công việc, chắc chắn sẽ khó hoàn thành công việc, hiệu
quả quản lý nhà nước sẽ thấp.
Thứ tư, về kỹ năng quản lý nhà nước.
Kỹ năng quản lý nhà nước của CBCC chính quyền cấp xã là khả năng vận dụng khéo
léo, thành thạo những kiến thức và kinh nghiệm vào thực hiện chức trách, nhiệm vụ quản
lý nhà nước trên các lĩnh vực ở cơ sở:
Kỹ năng quản lý nhà nước bao gồm: Kỹ năng xây dựng và tổ chức thực hiện chương
trình, kế hoạch cấp xã. Kỹ năng tổ chức kỳ họp và ra nghị quyết của HĐND cấp xã; kỹ
năng tổ chức và điều hành hoạt động của UBND cấp xã: Kỹ năng tuyên truyền, phổ biến
pháp luật, thi hành và áp dụng pháp luật trong quản lý nhà nước; kỹ năng lập và quản lý
thực hiện dự án cấp xã; kỹ năng tổ chức kiểm tra hành chính, xử phạt và cưỡng chế hành
chính ở cấp xã; kỹ năng phát hiện, xử lý tình huống phát sinh trên địa bàn cấp xã; kỹ năng
soạn thảo văn bản ở cấp xã, kỹ năng nghiệp vụ văn phòng và thống kê cấp xã; kỹ năng

phối hợp và chỉ đạo trưởng thôn, bản trong việc thực hiện một số nhiệm vụ của chính
quyền cấp xã, kỹ năng ứng dụng khoa học công nghệ vào quản lý nhà nước ở cấp xã Nếu
kỹ năng quản lý nhà nước trong CBCC chính quyền cấp xã không tốt thì giải quyết công
việc mất rất nhiều thời gian và hiệu quả quản lý nhà nước thấp; nếu kỹ năng quản lý nhà
nước của CBCC chính quyền cấp xã tốt, thì họ sẽ giải quyết công việc nhanh chóng và
hiệu quả quản lý nhà nước sẽ cao.
Thứ năm, về phương pháp quản lý nhà nước.
Phương pháp quản lý nhà nước của CBCC chính quyền cấp xã là cách thức mà
CBCC chính quyền cấp xã sử dụng để thực hiện chức năng, nhiệm vụ quản lý nhà nước
trên các lĩnh vực ở cơ sở có hiệu quả cao.
Các phương pháp quản lý nhà nước được chia làm 2 nhóm:
Nhóm thứ nhất: Các phương pháp chủ yếu của khoa học quản lý gồm: Phương pháp
giáo dục tư tưởng, đạo đức XHCN; phương pháp tổ chức; phương pháp kinh tế ; phương
pháp hành chính.
Nhóm thứ hai: Các phương pháp của các môn khoa học khác được sử dụng trong
quản lý nhà nước gồm: phương pháp kế hoạch hoá; phương pháp thống kê; phương pháp


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status