LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu riêng của cá nhân. Những số
liệu nêu trong luận văn là trung thực và được sự đồng ý của phòng Nội vụ, Văn
phòng Quận ủy, Văn phòng UBND và 15 phường của quận Lê Chân, thành phố Hải
Phòng.
Các kết luận khoa học của luận văn chưa từng được công bố trong bất cứ
công trình nghiên cứu nào.
Hải Phòng, ngày 15 tháng 8 năm 2013
Tác giả luận văn
Nguyễn Thành Việt
1
MỤC LỤC
Trang
2
DANH MỤC SƠ ĐỒ, HÌNH VẼ, BẢNG, PHỤC LỤC
3
NHỮNG CHỮ VIẾT TẮT
BQL : Ban quản lý
CNH : Công nghiệp hóa
CTCP : Công ty cổ phần
CTTNHH : Công ty trách nhiệm hữu hạn
DNTN : Doanh nghiệp tư nhân
ĐCSVN : Đảng Cộng sản Việt Nam
ĐTH : Đô thị hóa
ĐU : Đảng ủy
GPMB : Giải phóng mặt bằng
HĐH : Hiện đại hóa
HĐND : Hội đồng Nhân dân
HĐQT : Hội đồng Quản trị
HTX : Hợp tác xã
KT - XH : Kinh tế - xã hội
là một thực tế khách quan đã từng tồn tại trong lịch sử phát triển lâu dài của xã hội
loài người cho tới tận bây giờ. Về mặt quản lý, nó thể hiện trên hai hình diện: theo
ngành và theo lãnh thổ (vùng). Hệ thống phân chia hành chính của đất nước chính
là nhằm thực hiện quản lý kinh tế và quản lý xã hội.
Thứ tư, trong hoàn cảnh nước ta hiện nay, nhiều hạn chế của quản lý hành
chính đang cản trở sự phát triển của kinh tế, kinh doanh và các doanh nghiệp.
Vì thế, nghiên cứu về vai trò, đặc điểm quản lý hành chính của nhà nước là
điều hết sức quan trọng và có ý nghĩa đối với quản lý kinh tế, quản lý kinh doanh.
Đó chính là căn cứ để chọn đề tài nghiên cứu của Luận văn này.
5
Quản lý hành chính nhà nước có tác động rất lớn tới sự ổn định chính trị và
phát triển kinh tế - xã hội của một quốc gia. Cuộc sống rất phong phú, đa dạng và
không ngừng phát triển. Vì thế, công tác quản lý hành chính nhà nước cũng phải
được thường xuyên cải tiến, nâng cao và hoàn thiện để đáp ứng những yêu cầu của
từng thời kỳ phát triển đất nước.
Qua 26 năm thực hiện đường lối đổi mới của Đảng, kể từ Đại hội Đảng lần
thứ VI (1986), nước ta đã có bước chuyển từ nền kinh tế tập trung quan liêu, bao
cấp sang nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa có sự quản lý của
nhà nước. Cùng với sự thay đổi ấy, hoạt động của hệ thống chính trị nói chung và
công tác quản lý hành chính nhà nước của các cấp chính quyền nói riêng đã có
nhiều biến chuyển tích cực; chức năng và hoạt động của các cơ quan trong hệ
thống hành chính đã tập trung nhiều hơn vào quản lý nhà nước; đã từng bước đổi
mới, thực hiện có hiệu quả các chương trình phát triển kinh tế - xã hội; bảo đảm an
ninh trật tự, an toàn xã hội; cải thiện và nâng cao đời sống của mọi tầng lớp nhân
dân.
Trong hệ thống quản lý nhà nước, cùng với xã, thị trấn, phường là cấp chính
quyền cơ sở “gần dân” nhất. Những công vụ được thực hiện hàng ngày mang tính
sự vụ tức thời, yêu cầu phải giải quyết ngay. Đội ngũ cán bộ, công chức của
phường là yếu tố cơ bản và quyết định mọi kết quả, hoàn thành nhiệm vụ của cấp
chính quyền cơ sở. Vì vậy, đây là cấp chính quyền được nhà nước quan tâm kiện
- Phân tích những nguyên nhân dẫn đến những hạn chế của đội ngũ cán bộ
chủ chốt chính quyền cấp phường hiện nay;
- Đưa ra những khuyến nghị và giải pháp nhằm góp phần nâng cao năng lực,
hiệu quả quản lý của đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp phường.
3. Đối tượng và phạm vị nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Đội ngũ cán bộ, công chức của chính quyền phường,
đặc biệt là cán bộ, công chức chủ chốt gồm những công dân Việt Nam, được bầu
cử giữ chức vụ theo nhiệm kỳ trong Thường trực HĐND, UBND, Bí thư, Phó Bí
thư ĐU, những người đứng đầu tổ chức chính trị - xã hội (cán bộ) và những công
dân Việt Nam được tuyển dụng giữ một chức danh chuyên môn, nghiệp vụ thuộc
UBND, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước (công chức).
7
Phạm vi nghiên cứu
- Giới hạn không gian: Quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng;
- Giới hạn thời gian: Từ tháng 3/ 2013 đến 8/ 2013.
4. Giới hạn lĩnh vực nghiên cứu
Mô tả thực trạng chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức và hoạt động quản lý
của chính quyền cấp phường cũng như đánh giá của quần chúng nhân dân, qua đó
xem xét hiệu quả quản lý nhà nước của chính quyền cấp phường ở nước ta hiện
nay.
5. Giả thuyết nghiên cứu
Hiệu quả quản lý của chính quyền cấp phường hiện nay còn chưa thực sự
cao, cụ thể là:
- Chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức còn nhiều vấn đề cần quan tâm, như:
thiếu đội ngũ cán bộ trẻ, mặt bằng chung về trình độ học vấn và các trình độ
chuyên môn nghiệp vụ khác còn thấp;
- Kết quả cụ thể trong các hoạt động quản lý còn nhiều hạn chế;
- Chưa nhận được sự đánh giá cao từ phía quần chúng nhân dân.
6. Phương pháp nghiên cứu
Trên cơ sở những nguyên lý cơ bản của Chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ
Đảng và Nhà nước đang triển khai thí điểm một số cơ chế chính sách mới đối với
cấp chính quyền cơ sở, như:
- Thí điểm không tổ chức HĐND cấp quận, phường ở 10 tỉnh, thành trong cả
nước và quận Lê Chân cũng là một trong các đơn vị thí điểm đó;
- Thí điểm (bắt đầu từ năm 2012) đưa 600 trí thức trẻ có trình độ, phẩm chất,
năng lực về làm Phó chủ tịch UBND tại các xã miền núi, hải đảo và các xã đặc biệt
khó khăn.
Bên cạnh đó, được triển khai nghiên cứu dưới góc độ khoa xã hội học, đặc
biệt là xã hội học quản lý, đề tài còn có những đóng góp vào việc bổ sung về lý
luận đối với chuyên ngành này, kiểm chứng việc vận dụng các lý thuyết xã hội
học, xã hội học quản lý vào việc giải quyết các vấn đề mà đề tài đưa ra.
Ý nghĩa thực tiễn. Về mặt thực tiễn, đề tài cung cấp một bức tranh toàn cảnh
về thực trạng của đội ngũ cán bộ, công chức của chính quyền cấp phường thuộc
9
quận Lê Chân; cho ta thấy được những ưu điểm và hạn chế, trên cơ sở đó đưa ra
những khuyến nghị và giải pháp nhằm góp phần phát huy ưu điểm, khắc phục hạn
chế, nâng cao năng lực hiệu quả quản lý của đội ngũ cán bộ, công chức cấp
phường nói riêng và cấp cơ sở nói chung.
Kết quả nghiên cứu cũng mong muốn sẽ là tài liệu tham khảo, giúp cho Quận
ủy, UBND quận Lê Chân xây dựng quy hoạch cán bộ, công chức cấp phường trên
địa bàn.
8. Kết cấu của Luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung luận văn gồm 3 chương:
Chương 1. Cơ sở lý luận về năng lực quản lý của đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp
phường.
Chương 2. Thực trang về năng lực quản lý của đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp
phường thuộc quận Lê Chân thành phố Hải Phòng.
Chương 3. Những khuyến nghị và giải pháp góp phần nâng cao năng lực quản
lý của đội ngũ cán bộ, công chức cấp phường thuộc quận Lê Chân thành phố Hải
Phòng.
chức, có ý thức hướng đích của chủ thể vào đối tượng nhằm đạt được hiệu quản
tối ưu so với yêu cầu đặt ra.
Liên hệ trực tiếp
Lệnh từ cấp trên
Liên hệ ngược (thông tin phản hồi)
Sơ đồ 1.1.Mô hình hoạt động quản lý
Trong khuôn khổ của đề tài, khái niệm quản lý được cụ thể hoá với chủ thể là
đội ngũ cán bộ, công chức chính quyền cấp phường, đối tượng quản lý là quần
chúng nhân dân trên địa bàn phường.
1.1.1.2. Khái niệm quản lý nhà nước
Quản lý nhà nước là dạng quản lý xã hội sử dụng quyền lực nhà nước để điều
chỉnh các quan hệ xã hội và hoạt động của con người. Quản lý nhà nước khác với
dạng quản lý của các chủ thể khác ở chỗ các chủ thể này không dùng quyền lực
pháp luật của nhà nước để điều chỉnh các quan hệ quản lý mà chỉ dùng phương
thức giáo dục, vận động quần chúng. Quản lý nhà nước còn gọi là quản lý hành
chính nhà nước, vì hành chính nhà nước là một dạng hoạt động tổ chức và điều
hành để thực hiện quyền lực nhà nước.
Quản lý hành chính nhà nước là hoạt động hành chính của các cơ quan thực
thi quyền lực nhà nước (quyền hành pháp) để quản lý, điều hành các lĩnh vực của
đời sống xã hội theo pháp luật. Các cơ quan đó là chính phủ và các cơ quan chính
quyền địa phương các cấp. Hoạt động quản lý của các tổ chức, dù thuộc quyền sở
hữu của nhà nước, nhưng không nằm trong cơ cấu quyền lực nhà nước, như các
12
Chủ thể Đối tượng
doanh nghiệp và các đơn vị sự nghiệp, thì không phải là quản lý hành chính nhà
nước. Quyền hành pháp có hai nội dung: một là, lập quy, được thực hiện bằng việc
ra văn bản pháp quy, quy phạm pháp luật để chấp hành luật và hai là, tổ chức, điều
hành, phối hợp các hoạt động kinh tế - xã hội để đưa luật pháp vào đời sống.
Hoạt động quản lý nhà nước là điều chỉnh các quá trình xã hội và hoạt động
của con người bằng quyền lực của nhà nước. Hoạt động đó được thể hiện bằng các
nước thông qua các yếu tố:
+ Cơ cấu tổ chức bộ máy của cơ quan;
+ Thực hiện chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền;
+ Năng lực, uy tín và phong cách của cán bộ, nhất là người lãnh đạo;
+ Thời gian đầu tư để giải quyết các tình huống quản lý;
+ Tính pháp chế, kỉ luật, kỉ cương nhà nước và trách nhiệm;
+ Tính dân chủ, công bằng, đoàn kết nội bộ;
+ Uy tín chính trị của cơ quan đối với xã hội thông qua việc sử dụng quyền
lực nhà nước tác động lên các quá trình xã hội.
Trong khuôn khổ của đề tài, khái niệm hiệu quả quản lý nhà nước được hiểu
là thành quả hoạt động của chính quyền các cấp (cụ thể ở đây là cấp phường) trong
mọi lĩnh vực đời sống xã hội và được đánh giá qua các căn cứ:
- Chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức;
- Những số liệu cụ thể về tình hình công tác quản lý kinh tế - xã hội trên địa
bàn;
- Đánh giá của quần chúng nhân dân.
1.2. Khái niệm phường và chính quyền phường
1.2.1. Phường
Thuật ngữ “phường” đã xuất hiện từ năm 1010 khi Lý Công Uẩn dời đô từ
Hoa Lư ra Đại La, đổi tên là Thăng Long. Xung quanh Hoàng thành đã hình thành
các điểm tập trung dân cư theo phường nghề. Cả kinh thành đựơc xem như một
phủ gồm 61 phường. Thể chế phường này được giữ nguyên qua các triều đại
phong kiến sau này. Sau Cách mạng giành độc lập năm 1945 cho đến tận năm
1981, trong cơ chế hành chính của nước ta không có khái niệm phường, mà chỉ tồn
14
tại khu phố, khối và tiểu khu. Từ năm 1981 tiểu khu được đổi thành phường và duy
trì cho đến nay.
Theo Hiến pháp 1980, các đơn vị hành chính của nước Cộng hoà xã hội chủ
nghĩa Việt Nam gồm có tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; huyện, quận, thành
phố thuộc tỉnh, thị xã; xã, phường và thị trấn.
nước, là cấp chính quyền có tầm quan trọng đặc biệt, là cấp được ví như “chiếc cầu
nối” giữa nhà nước, chính phủ với nhân dân. Thông qua chính quyền cơ sở, chính
phủ nắm được thực tế, nguyện vọng của nhân dân và khẳng định được uy tín trước
nhân dân.
Về tổ chức chính quyền cơ sở thì tuỳ hoàn cảnh, điều kiện mà có sự giống và
khác nhau giữa các nước.
- Ở Cộng hòa Pháp, trong cơ cấu tổ chức chính quyền địa phương, cấp xã là
cấp cơ sở, cấp thấp nhất trong hệ thống hành chính bốn cấp, nhưng lại có vai trò
cực kỳ quan trọng. Mỗi xã đều có người đứng đầu gọi là Xã trưởng, bên cạnh Xã
trưởng có Hội đồng xã. Tất cả đều đặt dưới sự kiểm soát trực tiếp của Quận trưởng
(tương đương như cấp huyện ở nước ta);
- Ở Cộng hoà Liên bang Đức, cấp xã được ghi nhận trong Hiến pháp của Liên
bang với tư cách là đơn vị hành chính cơ sở, thực hiện chế độ tự quản, chịu sự
kiểm soát của cấp bang;
- Ở Vương quốc Thái Lan, cấp hành chính cơ sở là làng, là cấp cuối cùng
trong mô hình hành chính năm cấp. Đứng đầu cấp hành chính này là Trưởng làng,
do nhân dân trong làng bầu lên, có chức năng quản lý mọi mặt đời sống xã hội của
dân làng. Ngoài ra, còn có Hội đồng làng cùng tham gia công tác tư vấn và quản lý
công việc chung;
- Ở In-đô-nê-xi-a , trong hệ thống chính quyền địa phương, cấp làng hoặc
thôn là cấp thứ tư, cấp hành chính thấp nhất. Mỗi làng hoặc thôn có một người
đứng đầu gọi là Trưởng làng hoặc Trưởng thôn, là công chức nhà nước do Huyện
trưởng bổ nhiệm.
16
Như vậy, qua ví dụ về tổ chức chính quyền địa phường ở một số nước, có thể
thấy, tuy tên gọi cấp hành chính cơ sở có khác nhau, song cũng có những điểm
tương đồng với ta.
1.3. Khái niệm cán bộ, công chức
Điều 1, chương 1 Pháp lệnh Cán bộ, công chức do UBTVQH nước Cộng hoà
xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 26/2/1998 quy định:
- Chủ tịch Hội Cựu chiến binh Việt Nam.
Riêng tại quận Lê Chân, do không có sản xuất nông nghiệp và làm thí điểm
không tổ chức HĐND quận và phường, nên không có các chức danh Chủ tịch Hội
nông dân Việt Nam và Chủ tịch, Phó chủ tịch HĐND.
1.3.1.2. Công chức phường có các chức danh sau:
- Trưởng Công an;
- Chỉ huy trưởng quân sự;
- Văn phòng - Thông kê;
- Địa chính - Xây dựng và Môi trường;
- Tài chính - Kế toán;
- Tư pháp - Hộ tịch;
- Văn hóa - Xã hội.
Thông tư số 06/2012/TT-BNV ngày 30/10/2012 của Bộ Nội vụ quy định chức
trách, tiêu chuẩn cụ thể và nhiệm vụ của công chức phường như sau:
- Chức trách: công chức phường, làm công tác chuyên môn thuộc biên chế
của UBND cấp phường, có trách nhiệm tham mưu, giúp UBND cấp phường thực
hiện chức năng quản lý nhà nước về lĩnh vực công tác được phân công và thực
hiện những nhiệm vụ khác do Chủ tịch UBND cấp phường giao;
- Tiêu chuẩn cụ thể:
+ Từ 18 tuổi trở lên;
+ Trình độ văn hóa: tốt nghiệp phổ thông trung học;
+ Trình độ chuyên môn: tốt nghiệp trung cấp chuyên nghiệp trở lên với ngành
nghề đào tạo phù hợp yêu cầu nhiệm vụ của chức danh đảm nhiệm;
+ Trình độ tin học: có chứng chỉ Tin học văn phòng trình độ A trở lên;
+ Sau khi được tyển dụng, phải hoàn thành lớp đào tạo, bồi dưỡng quản lý
hành chính nhà nước và lớp đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị theo chương trình
đối với chức danh công chức phường hiện đang đảm nhiệm.
18
- Đối với hai chức danh Chỉ huy trưởng quân sự và Trưởng Công an phường,
thì thực hiện theo quy định của pháp luật chuyên ngành. Nếu pháp luật chuyên
biết thu nhận được từ sách vở, từ học hỏi và từ kinh nghiệm cuộc sống của mỗi
người. Còn kỹ năng là sự vận dụng bước đầu những kiến thức thu lượm từ thực tế
để tiến hành một hoạt động nào đó và kỹ xảo là những kỹ năng được lặp đi lặp lại
nhiều lần đến mức thuần thục, cho phép con người không phải tập trung nhiều ý
thức vào việc mình đang làm.
Khác với tri thức, kỹ năng và kỹ xảo, năng lực là một tổ hợp phẩm chất tương
đối ổn định, tương đối cơ bản của cá nhân, cho phép thực hiện có kết quả một hoạt
động. Do đó, người có trình độ học vấn cao (đại học, trên đại học,…) hoặc có
nhiều kinh nghiệm sống do công tác lâu năm và kinh qua nhiều cương vị khác
nhau, vẫn có thể thiếu năng lực cần thiết của người lãnh đạo quản lý, như năng lực
tổ chức, năng lực trí tuệ. Nếu chỉ căn cứ vào bằng cấp hay quá trình công tác mà đề
bạt là chưa đủ. Chỉ có căn cứ vào hiệu quả hoàn thành nhiệm vụ được giao để đánh
giá năng lực của cán bộ, công chức thì mới đúng đắn.
Tuy nhiên, cũng cần thấy rằng, năng lực và tri thức, kỹ năng, kỹ xảo có quan
hệ mật thiết với nhau. Năng lực tư duy không thể phát triển cao ở người có học vấn
thấp, cũng như năng lực tổ chức không thể có được ở người chưa hề quản lý, điều
hành một tổ chức hay một đơn vị sản xuất - kinh doanh cụ thể. Do đó, khi đánh giá
năng lực của một cán bộ, công chức, cần phải căn cứ vào hiệu quả hoàn thành công
việc là chính, đồng thời cũng nên biết về trình độ học vấn và quá trình công tác của
người đó.
Năng lực của người lãnh đạo, người quản lý chính là năng lực tổ chức, Lênin
đã vạch ra đầy đủ cấu trúc của năng lực tổ chức, chỉ ra những thuộc tính mà người
làm công tác tổ chức cần phải có là: sự minh mẫn và tài sắp xếp công việc, sự hiểu
biết mọi người, tính cởi mở hay là năng lực thâm nhập vào các nhóm người, sự sắc
sảo về trí tuệ và óc tháo vát thực tiễn, các phẩm chất ý chí, khả năng hiểu biết mọi
người và kỹ năng tiếp xúc với con người, Do đó, khi xem xét kết quả công việc
của một con người, cần phân tích rõ những yếu tố đã làm cho cá nhân đó hoàn
thành công việc. Không nên chỉ xem cá nhân đó làm gì, kết quả ra sao, mà còn
xem anh/chị ta đã làm như thế nào, bởi chính năng lực thể hiện ở chỗ làm tốn ít
thời gian, ít sức lực và của cải vật chất, nhưng kết quả lại tốt.
chỉ thị, nghị quyết của Đảng và Nhà nước.
21
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1
Phường là đơn vị hành chính cơ sở ở nội thành, nội thị; là nơi trực tiếp thực
hiện mọi chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước, thực hiện
quyền và nghĩa vụ công dân. Chính quyền cấp phường có chức năng chủ yếu là
quản lý hành chính nhà nước, quản lý xã hội và chăm lo phục vụ đời sống dân cư.
Đội ngũ cán bộ, công chức, trước hết là đội ngũ cán bộ, công chức chủ chốt,
của cấp phường là yếu tố quyết định mọi hiệu quả hoạt động của chính quyền
phường. Vì vậy, nâng cao năng lực của đội ngũ cán bộ, công chức cấp hành chính
cơ sở nói chung và cấp phường nói riêng là nhiệm vụ cực kỳ quan trọng được
Đảng và Nhà nước ta quan tâm.
Căn cứ các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về công tác cán bộ,
các tiêu chí về trình độ năng lực phẩm chất cán bộ, công chức cấp phường được
quy định trong các nghị định, thông tư của Chính phủ, các Bộ ngành liên quan, kết
hợp với việc sử dụng các phương pháp hiện đại của lý thuyết trong khoa học quản
lý, xã hội học giúp cho ta có những phương tiện hữu hiệu để nghiên cứu thực trạng
đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp phường tại quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng.
Thông qua đó để có những khuyến nghị, đề xuất thiết thực nhằm nâng cao năng
lực quản lý của đội ngũ cán bộ, công chức cấp phường tại quận Lê Chân, thành
phố Hải Phòng trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa của địa phương Hải
phòng và cả nước.
22
Chương 2
HIỆN TRẠNG NĂNG LỰC QUẢN LÝ CỦA ĐỘI NGŨ CÁN BỘ,
CÔNG CHỨC PHƯỜNG QUẬN LÊ CHÂN, TP. HẢI PHÒNG
2.1. Tổng quan về điều kiện địa lý và kinh tế - xã hội của quận Lê Chân
Hải Phòng là thành phố cảng lớn nhất ở miền bắc Việt Nam và là trung tâm
kinh tế, văn hoá, giáo dục, khoa học và công nghệ của Vùng duyên hải Bắc Bộ,
đồng thời là đô thị loại 1, một trong 5 thành phố trực thuộc trung ương.
thể xây dựng theo quy hoạch chung của cả đô thị.
Về dân cư, cộng đồng dân cư ở phường có sự gắn bó trực tiếp và chặt chẽ với
nhau về các nhu cầu và lợi ích vật chất cũng như tinh thần. Dân cư của phường về
cơ bản được tập hợp từ nhiều vùng, miền khác nhau, đa dạng, phức tạp, chủ yếu
kiếm sống bằng các ngành nghề phi nông nghiệp và nhìn chung, thường có trình độ
học vấn, nhận thức xã hội cao hơn dân cư ở các xã.
2.1.1. Đôi nét lịch sử phát triển
Thời Hùng Vương, mảnh đất Hải Phòng ngày nay thuộc bộ Dương Tuyền của
nhà nước Văn Lang.
Vào những năm đầu công nguyên, dưới thời bắc thuộc, nữ tướng Lê Chân
trong cuộc khởi nghĩa của hai Bà Trưng đã về đây gây dựng căn cứ chống giặc
Đông Hán, trở thành người có công đầu trong việc khai phá lập nên trang An Biên
xưa - tiền thân của TP. Hải Phòng ngày nay.
Trải qua nhiều biến cố lịch sử, tách nhập hành chính, ngày 19 tháng 7 năm
1888, Hải Phòng được thành lập, chính thức có tên trên bản đồ Liên bang Đông
Dương.
Ngày 27-10-1962, Quốc hội nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra quyết định
thành lập thành phố Hải Phòng, về cơ bản, có ranh giới như hiện nay trên cơ sở
hợp nhất thành phố Hải Phòng cũ và tỉnh Kiến An với khu vực nội thành được chia
thành ba khu phố mới là Hồng Bàng, Ngô Quyền và Lê Chân.
24
Bảng 2.1. Các đơn vị hành chính của thành phố Hải Phòng
TT Quận, huyện
Phường, xã,
thị trấn
Diện tích,
km
2
Dân số,
ng.
2 thị trấn, 35 xã 242,8 303.094 1.248,32
14 Tiên Lãng
1 thị trấn, 22 xã 191,2 141.288 738,95
15 Vĩnh Bảo
1 thị trấn, 29 xã 180,5 173.083 958,91
Cộng huyện
10 th.tr., 148
xã
1.261,98 1.067.434 845,84
Thành phố 228 đơn vị 1.505,74 1.837.173 1.220,11
Nguồn: Bách khoa toàn thư mở Wikipedia. Dân số (số liệu điểu tra
1/4/2009).
25