LUẬN VĂN:
Nâng cao năng lực quản lý nhà nước
của
cán bộ, công chức chính quyền cấp xã
ở
tỉnh Hải Dương hiện
nay
Mở
đầu
1. Tính cấp thiết của đề tài
Cán bộ có vai trò rất quan trọng, là nhân tố quyết định sự thành bại của cách mạng.
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: "Cán bộ là cái gốc của mọi công việc", "Muôn việc
thành công hay thất bại, đều do cán bộ tốt hoặc kém" [48, tr 269, 240].
ở nước ta, cấp xã (xã, phường, thị trấn) là một trong bốn cấp hành chính. Cấp xã là
cấp thấp nhất, gần dân nhất, là cấp trực tiếp tổ chức và vận động nhân dân thực hiện đường
lối, chủ trương, nghị quyết của Đảng, pháp luật của Nhà nước, tăng cường đại đoàn kết
toàn dân, phát huy quyền làm chủ của nhân dân, huy động mọi khả năng phát triển kinh tế
- xã hội, tổ chức cuộc sống của cộng đồng dân cư. Chính quyền cấp xã thực hiện
quản
lý
nhà nước trên các lĩnh vực: Chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội, an ninh,
quốc phòng. Để chính quyền cấp xã thực hiện chức năng quản lý nhà nước một
cách có hiệu lực và hiệu quả thì cần phải có đội ngũ cán bộ, công chức (CBCC)
chính quyền cấp xã có năng lực quản lý nhà nước tốt. Thực tế cho thấy ở đâu mà
năng lực quản lý nhà nước của CBCC chính quyền cấp xã tốt thì hiệu lực, hiệu quả
quản lý cao. Ngược lại, ở đâu mà năng lực quản lý nhà nước của CBCC chính
quyền cấp xã không tốt thì hiệu lực, hiệu quả quản lý thấp, tiềm ẩn nguy cơ mất
đoàn kết nội bộ, mất dân chủ, tình trạng khiếu nại, tố cáo kéo dài, tạo nên điểm
nóng làm ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của cả hệ thống chính trị ở cơ
s
ở
ng
Bộ Nội vụ về việc ban hành Quy định tiêu chuẩn cụ thể đối với CBCC xã, phường, thị
trấn là cơ sở pháp lý quan trọng để làm tốt công tác CBCC chính quyền cấp xã.
Hải Dương là một tỉnh đồng bằng bắc bộ, có địa hình khá phức tạp (miền núi, đồng
bằng), là nơi gánh chịu sự khắc nghiệt của khí hậu, chịu nhiều tổn thất trong chiến tranh
và thiên tai. Ngay từ khi tái lập tỉnh (tách ra từ tỉnh Nghệ Tĩnh năm 1991), tỉnh Hải Dương
có nhiều thuận lợi và khó khăn, trong đó khó khăn lớn nhất là sự thiếu hụt trầm trọng và
sự yếu kém của đội ngũ CBCC nói chung và CBCC chính quyền cấp xã nói riêng, nên hiệu
quả kinh tế - xã hội của tỉnh không cao.
Trong những năm gần đây, cấp uỷ và chính quyền Hải Dương đã quan tâm tới công
tác cán bộ, nhưng thực tế năng lực quản lý nhà nước của đội ngũ CBCC đang còn thấp,
nhất là năng lực quản lý nhà nước của đội ngũ CBCC chính quyền cấp xã, chưa đáp ứng
được yêu
cầu phát triển của tỉnh nhà, do tỉnh Hải Dương còn thiếu hệ thống giải pháp đồng bộ về
nâng cao năng lực quản lý nhà nước của CBCC chính quyền cấp xã.
Với những lý do trên, tác giả chọn đề tài: " Nâng cao năng lực quản lý nhà nước
của cán bộ, công chức chính quyền cấp xó ở tỉnh Hải Dương hiện nay " làm luận văn
thạc sĩ, nhằm đưa ra một số giải pháp góp phần giải quyết những yêu cầu nêu trên.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Về vấn đề CBCC chính quyền cấp xã được nhiều nhà khoa học phân tích nghiên cứu,
gồm các công trình, các bài viết của tác giả sau:
- PGS,TS Nguyễn Phú Trọng và PGS,TS Trần Xuân Sầm chủ biên: Luận cứ khoa
học
cho việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá,
hiện đại hoá đất nước. Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001.
- TS Nguyễn Văn Sáu và GS Hồ Văn Thông chủ biên: Cộng đồng làng xã
Việt
Nam
hiện nay, của Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Nxb Hà Nội, 2001.
sở,
Tạp chí Quản lý nhà nước số 5/2002.
Nhìn chung các công trình trên chủ yếu tập trung đánh giá về chất lượng CBCC như
trình độ học vấn, chuyên môn chưa đánh giá sâu sắc về kỹ năng của CBCC hoặc có
đánh giá về kỹ năng nhưng chưa gắn với hiệu quả phát triển kinh tế - xã hội, với yêu cầu
xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, với đề
cao tính tự quản của cộng đồng dân cư.
Việc nghiên cứu nâng cao năng lực quản lý nhà nước của CBCC chính quyền cấp xã
ở tỉnh Hải Dương hiện nay, chưa có tác giả nào nghiên cứu một cách hệ thống dưới góc độ
luật học. Cho nên, tác giả mạnh dạn nghiên cứu vấn đề này, với mong muốn góp phần nhỏ
bé vào công tác cán bộ của tỉnh nhà.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Luận văn chỉ tập trung nghiên cứu năng lực quản lý nhà nước của CBCC Hội đồng
nhân dân (HĐND) và Uỷ ban nhân dân (UBND) cấp xã ở tỉnh Hải Dương từ năm 1991
đến nay.
4. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
* Mục đích: Luận văn nhằm đề xuất các giải pháp nâng cao năng lực quản lý nhà
nước của CBCC chính quyền cấp xã ở tỉnh Hải Dương trong giai đoạn hiện nay.
* Nhiệm vụ:
- Phân tích cơ sở lý luận về năng lực quản lý nhà nước của CBCC chính quyền cấp
xã trên cơ sở hệ thống hoá quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, Tư tưởng Hồ
Chí Minh, của Đảng và quy định của Nhà nước ta.
- Phân tích thực trạng năng lực quản lý nhà nước của CBCC chính quyền cấp xã
ở
tỉnh Hải Dương, qua đó rút ra những hạn chế cần khắc phục và tìm ra những
nguyên nhân của hạn chế đó.
- Đề xuất các giải pháp nâng cao năng lực quản lý nhà nước của CBCC
chính
quyền
cấp xã đáp ứng yêu cầu phát triển trong giai đoạn hiện nay ở tỉnh Hải
trong
công tác xây dựng CBCC chính quyền cấp xã.
- Luận văn còn dùng làm tài liệu tham khảo cho việc giảng dạy ở Trường Chính
trị
và
cho những ai quan tâm đến vấn đề này.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn được
kết cấu gồm 3 chương, 8 tiết.
Chương
1
cơ sở lý luận về năng lực quản lý nhà
nước
của cán bộ, công chức chính quyền cấp
xã
1.1. Chính quyền cấp xã và vị trí, vai trò của cán bộ, công chức chính quyền cấp
xã
1.1.1. Khái niệm và đặc điểm của chính quyền cấp xã
1.1.1.1. Khái niệm chính quyền cấp xã
Chính quyền cấp xã có vị trí, vai trò rất quan trọng trong công cuộc phát triển kinh tế
- xã hội của đất nước, đặc biệt là trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước
hiện
nay.
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: "Cấp xã là gần dân nhất, là nền tảng của
hành chính. Cấp xã làm được việc thì mọi việc đều xong xuôi" [48, tr.371-372]. Vị
trí và vai trò của chính quyền cấp xã được thể hiện ở những nội dung sau đây:
- Chính quyền cấp xã là nơi trực tiếp tổ chức và thực hiện đường lối, chính
sách
của
quyền
cấp xã là cấp trực tiếp tuyên truyền, phổ biến, giáo dục đường lối, chính
sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước cho nhân dân hiểu và thực hiện
đường lối, chính sách, pháp luật đó và chính quyền cấp xã là cấp nắm bắt tâm tư,
nguyện vọng, ý chí của nhân dân để phản ánh với cấp liên quan.
- Cấp xã là nơi lưu giữ các giá trị văn hoá truyền thống, phong tục tập quán
tiến
bộ
của dân tộc Việt Nam. Chính quyền cấp xã có vai trò rất quan trọng trong việc
giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân, xây dựng
đời sống văn hoá mới, đặc biệt là ở vùng nông thôn.
Chính quyền cấp xã là bộ máy mang tính quyền lực Nhà nước điều hành, quản lý
hành chính Nhà nước trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội, an ninh quốc
phòng trên địa bàn cơ sở. Chính quyền cấp xã chỉ bao gồm HĐND và UBND. Trong đó
"HĐND là cơ quan quyền lực Nhà nước ở địa phương, đại diện cho ý chí, nguyện vọng và
quyền làm chủ của nhân dân, do nhân dân địa phương bầu ra, chịu trách nhiệm trước nhân
dân địa phương và cơ quan Nhà nước cấp trên" [59, tr.5-6]; "UBND do HĐND bầu là cơ
quan chấp hành của HĐND, cơ quan hành chính Nhà nước ở địa phương, chịu trách nhiệm
trước HĐND cùng cấp và cơ quan Nhà nước cấp trên" [59, tr.6].
Qua phân tích ở trên có thể khái niệm: chính quyền cấp xã là cấp thấp nhất, cấp gần
gũi dân nhất, bao gồm HĐND và UBND thực hiện quyền lực Nhà nước và đại diện cho ý
chí, nguyện vọng, quyền làm chủ của nhân dân ở cơ sở, quyết định và thực hiện những chủ
trương, biện pháp phát triển kinh tế - xã hội, củng cố quốc phòng an ninh trên địa bàn theo
quy định của Hiến pháp, pháp luật là tổ chức phát huy tính tự quản của nhân dân.
1.1.1.2. Đặc điểm của chính quyền cấp xã
Thứ nhất, chính quyền cấp xã là cấp thấp nhất trong hệ thống chính quyền các cấp
của Nhà nước ta (Trung ương, tỉnh, huyện, xã); là cấp quản lý hành chính Nhà nước trên
các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hoá - xã hội, an ninh, quốc phòng ở địa bàn cơ
s
ở
Hệ thống chính trị ở cơ sở có cán bộ chuyên trách và cán bộ không chuyên trách.
Cán bộ chuyên trách là những cán bộ phải dành phần lớn thời gian lao
động, làm việc
công
để thực hiện chức trách được giao, bao gồm:
Cán bộ giữ chức vụ qua bầu cử gồm: Cán bộ chủ chốt của cấp uỷ Đảng,
HĐND, UBND những người đứng đầu Uỷ ban mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể
chính trị - xã hội.
Cán bộ chuyên môn được UBND tuyển chọn gồm: Công an trưởng, xã đội
trưởng, cán bộ văn phòng, địa chính, tài chính - kế toán, tư pháp, văn hoá - xã
hội. Số lượng cán bộ chuyên trách do Chính phủ quy định.
Cán bộ chuyên trách ở cơ sở có chế độ làm việc và được hưởng chính
sách về cơ bản như cán bộ, công chức Nhà nước; khi không còn là cán bộ
chuyên trách mà chưa đủ điều kiện để hưởng chế độ hưu trí, được tiếp tục tự
đóng bảo hiểm xã hội hoặc hưởng phụ cấp một lần theo chế độ nghỉ việc. Cán
bộ, công chức cơ sở có đủ điều kiện được thi tuyển vào ngạch công chức ở cấp
trên. Pháp lệnh cán bộ, công chức hiện hành cần được sửa đổi theo hướng bao
gồm cả cán bộ, công chức cơ
s
ở
.
Cán bộ không chuyên trách là những người chỉ tham gia việc công trong
một phần thời gian lao động. Căn cứ hướng dẫn của Trung ương, UBND cấp
tỉnh quy định khung về số lượng và mức phụ cấp cho cán bộ không chuyên trách
trong hệ thống chính trị ở cấp cơ sở (kể cả trưởng thôn) [30, tr.178, 179].
Theo quy định tại khoản 1, điều 1, pháp lệnh cán bộ, công chức (sửa đổi, bổ sung
năm 2000 và 2003):
Cán bộ, công chức quy định tại pháp lệnh này là công dân Việt Nam,
trong biên chế bao gồm:
Những người do bầu cử để đảm nhiệm chức vụ theo nhiệm kỳ trong
Kế
toán
e. Tư pháp - Hộ tịch
g. Văn hoá - Xã hội [53, tr.378].
Theo các quy định trên thì cán bộ chính quyền cấp xã gồm: Chủ tịch, Phó Chủ tịch
HĐND; Chủ tịch, Phó Chủ tịch UBND; công chức xã gồm: Trưởng Công an (nơi chưa bố
trí lực lượng công an chính quy); Chỉ huy trưởng quân sự; Văn phòng - Thống kê; Địa
chính - Xây dựng; Tài chính - Kế toán; Tư pháp - Hộ tịch; Văn hoá - Xã hội.
Khái niệm cán bộ chính quyền cấp xã: Cán bộ chính quyền cấp xã là công dân Việt
Nam trong biên chế; được hưởng lương từ ngân sách Nhà nước, gồm những người được
bầu giữ chức vụ Chủ tịch, Phó Chủ tịch HĐND, Chủ tịch, Phó Chủ tịch UBND có trách
nhiệm lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành thực hiện chức năng, nhiệm vụ của HĐND và UBND
theo quy định của Hiến pháp và pháp luật, bảo đảm phát triển kinh tế -xã hội, ổn định
chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn xã, phường, thị trấn.
Khái niệm công chức chính quyền cấp xã: Công chức chính quyền cấp xã là công dân
Việt Nam trong biên chế, được hưởng lương từ ngân sách Nhà nước, được tuyển dụng,
giao giữ một chức danh chuyên môn nghiệp vụ thuộc UBND cấp xã thực hiện nhiệm vụ
theo quy định của Hiến pháp và pháp luật.
1.1.2.2. Vị trí, vai trò của cán bộ, công chức chính quyền cấp xã
Các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác -Lênin đã từng nêu cao vai trò của người cán
bộ. Lênin chỉ rõ: "Trong lịch sử chưa hề có một giai cấp nào giành được quyền thống trị,
nếu nó không đào tạo ra được hàng ngũ của mình những lãnh tụ chính trị, những đại biểu
tiền phong có đủ khả năng tổ chức và lãnh đạo phong trào" [38, tr 473].
Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm đến cán bộ, coi đây là "vấn đề then chốt".
Người khẳng định: "Cán bộ là những người đem chính sách của Đảng, của Chính phủ giải
thích cho dân chúng hiểu rõ và thi hành, đồng thời đem tình hình của dân chúng báo cáo
cho Đảng, Chính phủ hiểu rõ để đặt chính sách cho đúng" [48, tr 269].
Cán bộ có vị trí rất quan trọng là "cầu nối" giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân. Cán
bộ là người đặt ra đường lối, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước. Đường lối,
chính sách, pháp luật có đúng đắn, khoa học phần lớn phụ thuộc nhiều vào cán bộ, có
hợp.
- CBCC chính quyền cấp xã là người trực tiếp tuyên truyền, phổ biến
đường
lối,
chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước cho nhân dân và vận động
nhân dân thực hiện tốt đường lối, chính sách, pháp luật đó trong cuộc sống. Là
người tiên phong gương mẫu trong việc thực hiện chính sách pháp luật và xây
dựng gia đình văn hóa ở khu dân cư.
- CBCC chính quyền cấp xã là người trực tiếp giải quyết những yêu cầu, những
thắc mắc về lợi ích chính đáng của nhân dân.
- CBCC chính quyền cấp xã là người am hiểu các phong tục tập quán,
truyền thống dân tộc của địa phương, họ là người tập hợp được khối đại đoàn
kết toàn dân ở cơ sở, là người phát huy tính tự quản của cộng đồng dân cư.
Tóm lại, CBCC chính quyền cấp xã là người có vị trí, vai trò quan trọng trong việc ổn
định chính trị, phát triển kinh tế - xã hội ở cơ sở, tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân,
tạo điều kiện phát huy tính tự quản trong cộng đồng dân cư.
1.2. Khái niệm, đặc điểm, tiêu chí đánh giá năng lực quản lý nhà nước của cán
bộ, công chức chính quyền cấp xã
1.2.1. Khái niệm năng lực quản lý nhà nước của cán bộ, công chức chính
quyền cấp xã
Muốn hiểu rõ khái niệm năng lực quản lý nhà nước của CBCC chính quyền cấp xã
trước hết phải tìm hiểu một số khái niệm như sau:
Thứ nhất, khái niệm năng lực.
Năng lực được con người sử dụng ở nhiều phương diện như: Năng lực công tác, năng
lực sản xuất, năng lực quản lý điều hành
- Theo cuốn Gốc và nghĩa của từ tiếng Việt thông dụng thì năng lực được
chia
làm
hai vế: Năng là làm nổi việc; lực là sức mạnh. Năng lực được hiểu là sức
mạnh
điều hành các hoạt động nhằm đạt được những mục tiêu và yêu cầu nhất định dựa trên
những quy luật khách quan.
Quản lý nhà nước là sự tác động, tổ chức, điều chỉnh mang tính quyền lực Nhà nước,
thông qua hoạt động của bộ máy Nhà nước bằng phương tiện, công cụ, cách thức tác động
của Nhà nước đối với các lĩnh vực của đời sống chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội và các
lĩnh vực khác của đời sống xã hội theo đường lối, nghị quyết của Đảng, pháp luật của Nhà
nước.
Quản lý nhà nước được hiểu theo nghĩa rộng và nghĩa hẹp:
Theo nghĩa rộng, quản lý nhà nước là hoạt động tổ chức, điều hành của cả bộ máy
Nhà nước, nghĩa là bao hàm cả sự tác động tổ chức của quyền lực Nhà nước trên các
phương diện lập pháp, hành pháp và tư pháp. Theo cách hiểu này, quản lý nhà nước được
đặt trong cơ chế "Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ".
Theo nghĩa hẹp, quản lý nhà nước chủ yếu là quá trình tổ chức, điều hành trong hệ
thống các cơ quan hành chính Nhà nước đối với các quá trình xã hội và hoạt động của con
người theo pháp luật, nhằm đạt được những mục tiêu, yêu cầu, nhiệm vụ quản lý nhà nước.
Đồng thời, các cơ quan Nhà nước nói chung cần thực hiện các hoạt động có tính chất chấp
hành, điều hành, tính chất hành chính Nhà nước nhằm xây dựng, tổ chức bộ máy và củng
cố chế độ công tác nội bộ của mình.
* Đặc điểm của quản lý nhà nước:
+ Luôn mang tính quyền lực Nhà nước, tính tổ chức cao;
+ Là hoạt động có mục tiêu rõ ràng, có chiến lược và kế hoạch để thực hiện mục tiêu;
+ Là hoạt động có tính chủ động, sáng tạo và linh hoạt trong thực tiễn điều hành,
quản lý;
+ Có tính liên tục và ổn định trong tổ chức và hoạt động trong quản lý hành chính
Nhà nước;
+ Có tính chuyên môn hoá và nghề nghiệp cao;
+ Có tính hệ thống thứ bậc chặt chẽ, là hệ thống thông suốt từ trên
xuống
dưới;
+ Không có sự cách biệt về mặt xã hội giữa chủ thể và khách thể quản lý;
Xuất phát từ chức trách nhiệm vụ của CBCC chính quyền cấp xã, năng lực quản lý
nhà nước của CBCC chính quyền cấp xã thể hiện ở những điểm sau đây:
- Năng lực của Chủ tịch, Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân cấp xã thể hiện:
+ Năng lực triệu tập, chủ toạ các kỳ họp, năng lực chủ trì tham gia xây dựng nghị
quyết, năng lực giám sát, đôn đốc, kiểm tra việc thực hiện các nghị quyết của HĐND.
+ Năng lực tiếp xúc cử tri, lấy ý kiến cử tri, tổ chức tiếp dân, đôn đốc, kiểm tra việc
giải quyết các kiến nghị, khiếu nại, tố cáo của nhân dân.
+ Năng lực quan hệ với đại biểu HĐND và phối hợp công tác với Uỷ ban Mặt trận
Tổ quốc Việt Nam cùng cấp, năng lực báo cáo công tác với các cơ quan hữu quan.
+ Năng lực chủ trì và phối hợp với UBND trong việc quyết định đưa ra bãi nhiệm đại
biểu HĐND theo đề nghị của Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp.
- Năng lực của Chủ tịch, Phó Chủ tịch UBND cấp xã thể hiện:
+ Năng lực triệu tập, chủ toạ các phiên họp UBND, năng lực quyết định các vấn đề
thuộc thẩm quyền của Chủ tịch, Phó Chủ tịch, tham gia quyết định các vấn đề thuộc thẩm
quyền của UBND, năng lực tổ chức chỉ đạo, đôn đốc, kiểm tra việc thực hiện chính sách,
pháp luật của cơ quan Nhà nước cấp trên, Nghị quyết của HĐND và các quyết định của
UBND cấp xã.
+ Năng lực tiếp dân, xét và giải quyết kiến nghị, khiếu nại, tố cáo của công dân, năng
lực giải quyết và trả lời các kiến nghị của Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn
thể ở xã, phường, thị trấn.
+ Năng lực áp dụng các biện pháp cải tiến lề lối làm việc, quản lý và điều hành bộ
máy hành chính ở cơ sở; năng lực trực tiếp quản lý, chỉ đạo thực hiện một số nhiệm vụ
theo quy định của pháp luật. Năng lực báo cáo công tác trước HĐND cùng cấp và UBND
cấp trên.
+ Năng lực tổ chức quản lý, điều hành hoạt động của trưởng, phó thôn, tổ dân phố
theo quy định của pháp luật.
- Năng lực của công chức Tài chính - Kế toán:
+ Năng lực xây dựng, thực hiện dự toán thu, chi ngân sách, quyết toán ngân sách,
kiểm tra hoạt động tài chính khác của xã.
+ Năng lực thực hiện việc quản lý các dự án đầu tư xây dựng cơ bản, tài sản công tại
dụng đất ở xã, phường, thị trấn; tiến hành kiểm kê, thống kê đất đai ở xã, phường, thị trấn.
Năng lực tuyên truyền, phổ biến về chính sách pháp luật, đất đai cho nhân dân ở xã,
phường, thị trấn.
+ Năng lực hoà giải tranh chấp đất đai, tiếp nhận đơn thư khiếu nại, tố cáo của dân về
đất đai để giúp UBND cấp có thẩm quyền giải quyết; năng lực kiểm tra phát hiện các
trường hợp vi phạm pháp luật đất đai để kiến nghị UBND cấp xã xử lý.
+ Năng lực phối hợp với các cơ quan chuyên môn cấp trên trong việc đo đạc, lập bản
đồ địa chính, bản đồ địa giới hành chính, giải phóng mặt bằng.
+ Năng lực tham mưu cho UBND cấp xã quản lý công tác xây dựng, giám sát về kỹ
thuật trong việc xây dựng các công trình phúc lợi ở địa phương.
- Năng lực của công chức Văn phòng - Thống kê:
+ Năng lực giúp UBND cấp xã xây dựng chương trình công tác, lịch làm việc và theo
dõi việc thực hiện chương trình, lịch làm việc đó; năng lực tổng hợp báo cáo tình hình kinh
tế - xã hội, tham mưu giúp UBND trong chỉ đạo thực hiện.
+ Năng lực soạn thảo văn bản.
+ Năng lực quản lý văn bản, lập hồ sơ lưu trữ, lập biểu báo cáo thống kê, theo dõi
biến động số lượng, chất lượng CBCC cấp xã.
+ Năng lực giúp HĐND tổ chức kỳ họp, năng lực giúp UBND tổ chức tiếp dân, tiếp
khách, nhận đơn từ khiếu nại của nhân dân chuyển đến HĐND và UBND hoặc lên cấp có
thẩm quyền giải quyết.
+ Năng lực đảm bảo điều kiện vật chất phục vụ cho các kỳ họp của HĐND, cho công
việc của UBND.
+ Năng lực nhận và trả kết quả trong giao dịch công việc giữa UBND với cơ quan, tổ
chức và công dân theo cơ chế "một cửa".
- Năng lực của công chức Văn hoá - Xã hội:
+ Năng lực lập chương trình, kế hoạch công tác văn hoá, nghệ thuật, thông tin tuyên
truyền, thể dục thể thao, công tác lao động thương binh xã hội và năng lực tổ chức thực
hiện chương trình kế hoạch đó.
+ Năng lực tuyên truyền, giáo dục đường lối, chính sách của Đảng và pháp luật của
Nhà nước, tình hình kinh tế - xã hội ở địa phương và đấu tranh chống âm mưu tuyên
+ Năng lực xây dựng nội bộ lực lượng công an xã, trong sạch, vững mạnh và thực
hiện một số nhiệm vụ khác do cấp uỷ Đảng, UBND xã, công an cấp trên giao.
- Năng lực của công chức Chỉ huy trưởng quân sự:
+ Năng lực tham mưu đề xuất về chủ trương, giải pháp lãnh đạo, chỉ đạo và trực tiếp
tổ chức thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, quân sự, xây dựng lực lượng dân quân, lực lượng
dự bị động viên. Xây dựng kế hoạch và phối hợp với các đoàn thể triển khai thực hiện các
nhiệm vụ liên quan tới công tác quốc phòng, quân sự trên địa bàn.
+ Năng lực chỉ đạo dân quân phối hợp với công an và lực lượng khác thường xuyên
hoạt động bảo vệ an ninh trật tự, sẵn sàng chiến đấu, phục vụ công tác và tổ chức khắc
phục thiên tai, sơ tán, cứu hộ, cứu nạn.
+ Năng lực phối hợp với các đoàn thể giáo dục toàn dân ý thức quốc phòng, quân sự
và các vi phạm pháp luật liên quan tới quốc phòng, quân sự.
+ Năng lực phối hợp với các tổ chức kinh tế, văn hoá và xã hội thực hiện nền quốc
phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân.
+ Năng lực thực hiện chính sách hậu phương quân đội, các tiêu chuẩn, chế độ, chính
sách cho dân quân tự vệ, quân nhân dự bị theo quy định.
+ Năng lực tổ chức thực hiện nghiêm chế độ quản lý sử dụng, bảo quản vũ khí trang
bị, sẵn sàng chiến đấu; quản lý công trình quốc phòng theo phân cấp, thực hiện chế độ
kiểm tra, báo cáo, sơ kết, tổng kết công tác quốc phòng, quân sự ở xã, phường, thị trấn.
1.2.3.Các tiêu chí đánh giá năng lực quản lý nhà nước của cán bộ, công chức
chính quyền cấp xã
Các tiêu chí cơ bản đánh giá năng lực quản lý nhà nước của CBCC chính quyền cấp
xã bao gồm: Phẩm chất chính trị, đạo đức, trình độ, kỹ năng và phương pháp quản lý nhà
nước.
Thứ nhất, về phẩm chất chính trị.
Phẩm chất chính trị là tiêu chí quan trọng nhất, quyết định đến năng lực quản lý nhà
nước của cán bộ, công chức. Phẩm chất chính trị là động lực tinh thần thúc đẩy cán bộ các
cấp vươn lên hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao hay nói cách khác là hoàn thành
nhiệm vụ với hiệu quả cao nhất. Phẩm chất chính trị cũng chính là yêu cầu cơ bản nhất đối
với người cán bộ.
hiện đường lối, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước. Ngược lại, nếu người
CBCC không có đủ các phẩm chất trên thì họ sẽ bị mất niềm tin của nhân dân, ảnh
hư
ở
ng
đến uy tín của Đảng, nhiệm vụ của cách mạng, họ trở thành "sâu mọt của dân".
Người CBCC chính quyền cấp xã chỉ tuyên truyền, phổ biến đường lối, chính sách
thôi chưa đủ mà họ phải là người tiền phong gương mẫu trong việc chấp hành đường lối,
chủ trương, chính sách đó, họ phải "nói đi đôi với làm", họ phải là tấm gương sáng để
nhân dân noi theo như Bác Hồ đã dạy "Một tấm gương sáng còn giá trị hơn một triệu bài
diễn văn tuyên truyền".
Người CBCC có đạo đức cách mạng là người phải tích cực đấu tranh chống lại các
tiêu cực của xã hội như: Tham nhũng, lãng phí, quan liêu, tha hoá, sa sút về đạo đức lối
sống chạy theo địa vị danh lợi, tranh giành kèn cựa lẫn nhau mất đoàn kết nội bộ, dối trá,
lười biếng, suy thoái về tư tưởng chính trị, phai nhạt lý tưởng cách mạng
Người CBCC chính quyền cấp xã muốn được dân tin yêu (nói dân nghe, làm dân tin)
thì phải thường xuyên rèn luyện tu dưỡng đạo đức trong mọi lúc, mọi nơi như Bác Hồ đã
từng khuyên "đạo đức cách mạng không phải từ trên trời sa xuống. Nó do đấu tranh rèn
luyện bền bỉ hàng ngày mà phát triển và củng cố. Cũng như ngọc càng mài càng sáng,
vàng càng luyện càng trong" [51, tr.293].
Thứ ba, về trình độ (trình độ học vấn, trình độ lý luận chính trị, trình độ chuyên môn
nghiệp vụ, trình độ quản lý hành chính nhà nước).
- Trình độ học vấn (trình độ văn hoá) không phải là yếu tố duy nhất quyết
định
hiệu
quả hoạt động của CBCC cơ sở nhưng đây là tiêu chí quan trọng ảnh hưởng
đến
hoạt
động quản lý trong đội ngũ này. Nó là nền tảng cho việc nhận thức,
lý.
Quản lý vừa là hoạt động khoa học, vừa là hoạt động nghệ
thuật, cho nên yêu cầu
các
CBCC phải am hiểu sâu sắc về kiến thức quản lý và
phải vận dụng linh hoạt các kiến thức đó vào giải quyết những vụ việc cụ thể.
Thực tế cho thấy trong quá trình quản lý chỉ dựa vào kinh nghiệm thôi chưa đủ
mà phải được trang bị đầy đủ kiến thức và
kỹ
năng
quản lý nhà nước, để qua đó
nâng cao năng lực quản lý nhà nước. Hiện nay hạn chế lớn nhất của CBCC
chính quyền cấp xã là trình độ quản lý nhà nước, để nâng cao năng lực quản lý
nhà nước thì cần phải nhanh chóng đào tạo, bồi dưỡng kiến thức
quản
lý
nhà
nước cho CBCC chính quyền cấp xã.
- Trình độ chuyên môn nghiệp vụ: Trình độ chuyên môn nghiệp vụ được hiểu
là
những kiến thức chuyên sâu về một lĩnh vực nhất định được biểu hiện qua những cấp độ :
Sơ cấp, trung cấp, cao đẳng, đại học. Đây là những kiến thức mà CBCC chính quyền cấp
xã không được thiếu khi giải quyết công việc của mình. Nếu thiếu kiến thức này thì CBCC
sẽ lúng túng trong việc giải quyết công việc, chắc chắn sẽ khó hoàn thành công việc, hiệu
quả quản lý nhà nước sẽ thấp.
Thứ tư, về kỹ năng quản lý nhà nước.
Kỹ năng quản lý nhà nước của CBCC chính quyền cấp xã là khả năng vận dụng khéo