Pháp luật về cán bộ, công chức chính quyền cấp xã ở nước ta hiện nay - Pdf 25


1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGUYỄN THU NGÂN
PHÁP LUẬT VỀ CÁN BỘ, CÔNG CHỨC CHÍNH QUYỀN CÂP XÃ
Ở NƯỚC TA HIỆN NAY

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT

CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ GIÁO DỤC
Mã số: 60 38 01 Người hướng dẫn khoa học: TS. Trần Nho Thìn HÀ NỘI-2007 1
MC LC

chính quyền xã ph-ờng, thị trấn 70
3.1. Nhu cầu và quan điểm hoàn thiện pháp luật về cán bộ, công
chức chính quyền cấp xã ở n-ớc ta hiện nay 70
3.1.1. Nhu cầu hoàn thiện pháp luật về cán bộ, công chức chính quyền cấp xã 70
Quan điểm hoàn thiện pháp luật về cán bộ, công chức chính quyền cấp xã 75
3.2. Các giải pháp cụ thể hoàn thiện pháp luật về cán bộ, công
chức chính quyền cấp xã ở n-ớc ta hiện nay 79
3.2.1. Đổi mới nhận thức về cán bộ, công chức chính quyền xã 79
3.2.2. Phát huy vai trò phản biện xã hội của đội ngũ cán bộ, công chức chính quyền
cấp xã đối với quá trình xây dựng pháp luật 82
3.2.3. Ban hành một đạo luật riêng quy định về cán bộ, công chức chính quyền cấp xã
84 2
3.2.4. Th-ờng xuyên tiến hành việc hệ thống hóa pháp luật về tổ chức và hoạt động
của đội ngũ cán bộ, công chức chính quyền cấp xã 87
3.2.5. Hoàn thiện các qui định pháp luật về quy trình tuyển chọn, bổ nhiệm cán bộ,
công chức chính quyền cấp xã 88
3.2.6. Đổi mới ch-ơng trình đào tạo, bồi d-ỡng cán bộ, công chức chính quyền cấp xã
89
Kết luận ch-ơng 3 90
Kết luận 92
Danh mục tài liệu tham khảo 94


1
MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài
Sự vận hành có hiệu quả của bộ máy hành chính nhà nước phụ thuộc
vào rất nhiều yếu tố. Dưới góc độ lý thuyết, hiệu quả hoạt động của bộ máy
nhà nước dựa trên các nguyên tắc, các qui định pháp luật về tổ chức hoạt
động của bộ máy nhà nước. Tuy nhiên, trên thực tế sự vận hành của bộ máy
nhà nước lại được thực hiện thông qua những con người, những cá nhân rất cụ
thể đó là đội ngũ cán bộ, công chức nhà nước từ cấp Trung ương cho đến cấp
cơ sở. Dù chỉ là một bộ phận nhỏ song đội ngũ cán bộ, công chức chính
quyền cấp xã, phường, thị trấn (sau đây gọi chung là cấp xã) - cấp chính
quyền cơ sở ở nước ta hiện nay cũng góp phần quan trọng tạo nên diện mạo
của cán bộ, công chức nhà nước nói chung. Có thể nói, xây dựng đội ngũ cán
bộ, công chức chính quyền cấp xã cũng để xây dựng và hoàn thiện đội ngũ
cán bộ, công chức nhà nước có trình độ, năng lực, phẩm chất tốt.
Trong bối cảnh thực hiện công cuộc cải cách hành chính, xây dựng
Nhà nước pháp quyền ở nước ta hiện nay, xây dựng đội ngũ cán bộ cơ sở lại
càng trở nên cần thiết, là một giải pháp để đổi mới và nâng cao chất lượng của
hệ thống chính trị cơ sở, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước. Nghị quyết
Hội nghị lần thứ năm số 17-NQ/TW ngày 18/03/2002 của Ban Chấp hành
Trung ương Đảng khóa IX về đổi mới và nâng cao chất lượng hệ thống chính
trị ở cơ sở xã, phường, thị trấn đã chỉ rõ để đổi mới và nâng cao chất lượng hệ
thống chính trị ở cơ sở, cần tập trung giải quyết nhiều vấn đề, trong đó có:
Xây dựng đội ngũ cán bộ cơ sở có năng lực tổ chức và vận
động nhân dân thực hiện đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà
nước, công tâm, thạo việc, tận tụy với dân, biết phát huy sức dân,
không tham nhũng, không ức hiếp dân; trẻ hóa đội ngũ, chăm lo,



3
ngũ cán bộ, công chức chính quyền cấp cơ sở có trình độ, có năng lực và
phẩm chất tốt.
Thực tiễn trên đặt ra nhiệm vụ quan trọng là nghiên cứu và làm sáng
tỏ những nội dung cơ bản của pháp luật về cán bộ, công chức chính quyền cấp
xã, phường, thị trấn, một mặt hoàn thiện và nâng cao chất lượng của các văn
bản pháp luật nhằm tạo nên hệ thống pháp luật thống nhất, hoàn chỉnh và có
tính khả thi, mặt khác góp phần nâng cao chất lượng và phát huy vai trò của
đội ngũ cán bộ, công chức chính quyền xã, phường, thị trấn ở nước ta hiện
nay.
2. Tình hình nghiên cứu của đề tài
Trong bối cảnh thực hiện cải cách hành chính nhà nước ở nước ta hiện
nay, công chức là vấn đề nhạy cảm thu hút sự quan tâm của Nhà nước, nhân
dân, các giới, các ngành. Những vấn đề có tính lý luận về công chức được
nghiên cứu tương đối toàn diện trong các công trình đã được viết thành sách
chuyên khảo như "Công vụ và công chức nhà nước" của tác giả Phạm Hồng
Thái; công trình của tác giả Nguyễn Văn Tâm về "Đổi mới và hoàn thiện
pháp luật về công chức nhà nước". Đối với vấn đề chính quyền cấp xã và cán
bộ, công chức chính quyền cấp xã từ trước đến nay cũng đã được nhiều cơ
quan, tổ chức và đặc biệt là các nhà khoa học quan tâm, nghiên cứu, đề cập
đến trong các công trình khoa học của mình.
Các luận án, luận văn nghiên cứu về chính quyền cấp xã và cán bộ,
công chức chính quyền cấp xã có thể kể đến như "Đổi mới tổ chức và hoạt
động của chính quyền xã ở Việt Nam hiện nay" của tác giả Phạm Thị Ngọc Dung
(Luận văn thạc sĩ Luật học, khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội, 2005);
"Cải cách chính quyền phường ở nước ta qua thực tiễn ở Hà Nội" của tác giả
Nguyễn Ngọc Năm; "Nâng cao chất lượng cán bộ, công chức phụ trách công
tác lao động - thương binh và xã hội ở cấp xã" của tác giả Trần Thị Thu
Hằng.
5
qui định pháp luật, làm cơ sở cho việc đề xuất và kiến nghị các giải pháp nhằm
hoàn thiện pháp luật về cán bộ, công chức chính quyền cấp xã ở nước ta hiện nay.
* Nhiệm vụ
- Về lý luận, làm rõ khái niệm về cán bộ, công chức nói chung và cán
bộ, công chức chính quyền cấp xã nói riêng. Từ đó, xác định nội dung của
pháp luật về cán bộ, công chức chính quyền cấp xã và phân tích những yếu tố
ảnh hưởng tới việc hoàn thiện pháp luật về cán bộ, công chức chính quyền
cấp xã ở nước ta hiện nay;
- Dưới góc độ tổng kết thực tiễn, đánh giá thực trạng các qui định
pháp luật về cán bộ, công chức chính quyền cấp xã ở nước ta hiện nay, chỉ ra
những điểm tích cực và hạn chế. Từ đó đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện
pháp luật về cán bộ, công chức chính quyền cấp xã ở nước ta hiện nay, góp
phần xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức chính quyền cấp xã ngày càng có
chất lượng, trình độ, có năng lực và phẩm chất tốt.
* Phạm vi nghiên cứu
Đề tài chủ yếu đi sâu nghiên cứu dưới góc độ luật pháp, về các qui
định pháp luật liên quan đến cán bộ, công chức chính quyền cấp xã ở nước ta
hiện nay. Đối với đối tượng cán bộ, công chức chính quyền cấp xã, lần đầu
tiên được Pháp lệnh Cán bộ, công chức năm 1998 (sửa đổi, bổ sung năm
2003) đề cập đến với tư cách là "cán bộ, công chức" nên cả về lý luận và thực
tiễn nghiên cứu gặp rất nhiều khó khăn, các đề tài và công trình khoa học
nghiên cứu về vấn đề này cũng chưa nhiều. Do đó, đề tài chỉ tập trung nghiên
cứu những vấn đề hoàn thiện pháp luật về cán bộ, công chức chính quyền cấp
xã chứ không thể tập trung giải quyết hết các vấn đề liên quan đến đội ngũ
cán bộ, công chức chính quyền cấp xã ở nước ta hiện nay.
4. Cơ sở lý luận và phƣơng pháp nghiên cứu


7
Về lý luận, bước đầu giải quyết căn bản một số vấn đề lý luận về khái
niệm công chức và cán bộ, công chức chính quyền cấp xã, về nội dung và đặc
điểm của pháp luật về cán bộ, công chức chính quyền cấp xã ở nước ta hiện
nay, tạo tiền đề cho việc hoàn thiện pháp luật về cán bộ, công chức chính
quyền cấp xã qua đó xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức chính quyền cấp xã.
Ngoài ra, trên cơ sở xây dựng được một số khái niệm cơ bản góp phần
tạo điều kiện quan trọng cho việc tiếp tục nghiên cứu về những vấn đề có liên
quan, như: tác động của pháp luật đối với chất lượng và hoạt động của đội
ngũ cán bộ, công chức chính quyền cấp xã.
Dưới góc độ thực tiễn, tạo cơ sở để xây dựng các văn bản qui phạm
pháp luật làm căn cứ trong việc ứng dụng vào thực tiễn xây dựng đội ngũ cán
bộ, công chức chính quyền cấp xã ở nước ta. Đồng thời góp phần cung cấp
một số kiến thức pháp luật về lĩnh vực này trong việc giảng dạy và nghiên
cứu khoa học.
6. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội
dung của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về pháp luật về cán bộ, công chức
chính quyền cấp xã ở nước ta.
Chương 2: Thực trạng các quy định pháp luật về cán bộ, công chức
chính quyền cấp xã.
Chương 3: Nhu cầu và giải pháp hoàn thiện pháp luật về cán bộ, công
chức chính quyền xã, phường, thị trấn.
8
Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN PHÁP LUẬT

hành chính. Hội đồng nhân dân do dân bầu ra theo lối phổ thông và
trực tiếp đầu phiếu là cơ quan thay mặt cho dân. Ủy ban hành chính
do các Hội đồng nhân dân bầu ra là cơ quan hành chính vừa thay
mặt cho dân vừa đại diện cho Chính phủ.
Cấp xã là đơn vị chính quyền cơ sở được xác lập trước tiên (thị trấn và
phường là đơn vị hành chính cơ sở được thiết lập sau này, thị trấn từ năm
1951 và phường từ năm 1976). Thời kỳ tiền khởi nghĩa và mới khởi nghĩa,
qui mô xã vẫn theo các xã cũ, còn cơ quan chính quyền xã là một ủy ban nhân
nhân cách mạng, vừa đại diện cho dân vừa đại diện cho chính quyền nhà nước
cấp trên. Từ Sắc lệnh số 63, chính quyền xã được tổ chức như hiện nay. Về
quy mô, không theo các làng xã trước đây mà bao quát nhiều xã; về bộ máy
chính quyền bao gồm hai loại cơ quan là Hội đồng nhân dân và Ủy ban hành
chính. Các làng xã cũ nằm trong xã mới không còn là cấp chính quyền mà chỉ
là các đơn vị dân cư.
Trong tư tưởng của Người, mô hình nhà nước Việt Nam sau thắng lợi
của cách mạng Việt Nam phải là một Nhà nước kiểu mới, Nhà nước của dân,
do dân, vì dân. Sau khi nước ta giành được độc lập, Người khẳng định:
Nước ta là nước dân chủ
Bao nhiêu lợi ích đều vì dân.
Bao nhiêu quyền hạn đều của dân
Chính quyền từ xã đến Chính phủ trung ương do dân cử
ra
Nói tóm lại, quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân [43, tr. 698]. 10
Đó là điểm khác nhau về bản chất giữa nhà nước của nhân dân với các
nhà nước của giai cấp bóc lột đã từng tồn tại trong lịch sử.
Tuy nhiên không chỉ dừng lại ở đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh mong
muốn có được một nền pháp chế xã hội chủ nghĩa, đảm bảo được việc thực

chính nhà nước mới là công chức. Đây là quan niệm phù hợp với quan niệm
của nhiều quốc gia trong thế giới đương đại. Với quan niệm này có thể nhận
thấy những người phục vụ trong bộ máy hành chính nhà nước được gọi là
công chức phải thỏa mãn các điều kiện, yêu cầu như:
- Là công dân của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa;
- Do chính quyền nhân dân tuyển dụng;
Quy định này có ý nghĩa chính trị - xã hội, góp phần khẳng định địa vị
chính trị - pháp lý của người công chức. Đồng thời cũng khẳng định công
chức phải là người có quan điểm chính trị vững vàng, sẵn lòng phụng sự sự
nghiệp cách mạng của nhân dân, của chính quyền nhân dân và được tuyển
chọn theo những tiêu chí nhất định.
- Giữ chức vụ thường xuyên;
Đây là quy định thể hiện tính thường xuyên, liên tục của công vụ, của
các công việc của bộ máy hành chính nhà nước mà công chức đảm nhiệm,
mặt khác cũng phản ánh sự bảo đảm của nhà nước đối với chức nghiệp của
công chức. Đồng thời qua đó cũng nhận thấy rằng hoạt động của công chức
có tính chuyên nghiệp. Đây cũng là một đặc trưng rất cơ bản của công chức
để phân biệt với các đối tượng khác phục vụ trong các cơ quan, tổ chức của
Nhà nước.
- Công chức chỉ bao gồm những người giữ chức vụ thường xuyên
trong cơ quan của Chính phủ;
Quan niệm cũng giống như quan niệm của một số nước, chỉ coi những
người giữ công vụ thường xuyên trong các cơ quan hành chính nhà nước là 12
công chức. Quy định pháp lý này là cơ sở hình thành một quan niệm hẹp về
công chức chỉ gồm những người làm việc trong bộ máy hành chính nhà nước,
công chức không bao gồm những người làm việc tại các cơ quan khác của nhà
nước. Có thể nói đây là quan niệm đầu tiên ở nước ta về công chức; nhưng

tinh thần phục vụ nhân dân, phục vụ Tổ quốc, bởi thiếu điều cơ bản này thì dù
có năng lực mấy cũng không dùng được. Nói chuyện trước cuộc mít tinh của
hơn hai vạn cử tri Hà Nội ủng hộ cuộc bầu cử Quốc hội (ngày 05-01-1946),
Chủ tịch Hồ Chí Minh nói: "Làm việc nước bây giờ là hy sinh, là phấn đấu,
quên lợi riêng mà nghĩ lợi chung. Những ai muốn làm quan cách mạng thì
nhất định không nên bầu" [42, tr. 147] .
Đối với Hồ Chí Minh, cán bộ quản lý nhà nước cũng vẫn là người cán
bộ cách mạng, là người cán bộ quần chúng hoạt động ở lĩnh vực nhà nước.
Người hiểu rõ xu hướng quan liêu hóa khó tránh khỏi của loại cán bộ này, nên
luôn luôn nhắc nhở cán bộ phải thân dân, gần dân, trọng dân, không được lên
mặt "quan cách mạng" với dân, phải lắng nghe ý kiến và chịu sự kiểm soát
của dân. Chỉ có trí tuệ và lòng dân mới có thể làm cho chính quyền trở nên
mạnh mẽ và sáng suốt.
Qua đây, có thể khẳng định rằng, tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác
cán bộ, vai trò của công tác cán bộ và đội ngũ cán bộ các cấp là một di sản rất
phong phú, hiện đại và còn nguyên giá trị trong thời đại ngày nay. Bước sang
thời kỳ đổi mới, Đảng ta đã có sự vận dụng tư tưởng của Người phù hợp với
yêu cầu của cách mạng Việt Nam. Từ chiến tranh giành độc lập dân tộc, thống
nhất đất nước chuyển sang thời hòa bình xây dựng kinh tế; từ cơ chế quản lý
tập trung quan liêu, bao cấp chuyển sang cơ chế kinh tế thị trường trong điều
kiện mở cửa, hội nhập quốc tế có không ít những thay đổi, thách thức đối với
nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, phương thức hoạt động cho đến yêu cầu về phẩm
chất, năng lực của đội ngũ cán bộ, công chức - những con người vận hành bộ
máy nhà nước Việt Nam. 14
Trong giai đoạn hiện nay, để có thể vượt lên trên tình trạng thấp kém
của nền kinh tế, rút ngắn khoảng cách về trình độ phát triển giữa nước ta với
các nước trên thế giới chỉ có một con đường duy nhất là "phát huy cao độ nội

đoàn kết toàn dân, phát huy quyền làm chủ của dân, huy động mọi
khả năng phát triển kinh tế - xã hội, tổ chức cuộc sống của cộng
đồng dân cư.
Trong thời gian qua, hệ thống chính trị ở phần lớn cơ sở đã
tích cực thực hiện nhiệm vụ, thực hiện quy chế dân chủ, cùng với
nhân dân tạo nên những thành tựu đổi mới và phát triển kinh tế, văn
hóa, xã hội, làm thay đổi rõ rệt bộ mặt nông thôn và thành thị,
Tuy nhiên, hệ thống chính trị ở cơ sở hiện nay còn nhiều
mặt yếu kém, bất cập trong công tác lãnh đạo, quản lý, tổ chức thực
hiện và vận động quần chúng. Tình trạng tham nhũng, quan liêu,
mất đoàn kết nội bộ, vừa vi phạm quyền làm chủ của nhân dân, vừa
không giữ đúng kỷ cương, phép nước xảy ra ở nhiều nơi, có những
nơi nghiêm trọng. Chức năng, nhiệm vụ của các bộ phận trong hệ
thống chính trị chưa được xác định rành mạch, trách nhiệm không
rõ; nội dung và phương thức hoạt động chậm đổi mới, còn nhiều
biểu hiện của cơ chế tập trung quan liêu, bao cấp. Đội ngũ cán bộ
cơ sở ít được đào tạo, bồi dưỡng; chính sách đối với cán bộ cơ sở
còn chắp vá [2, tr. 166].
Đồng thời, Nghị quyết số 17/NQ-TW đã xác định một số việc cần làm
để đổi mới và nâng cao chất lượng hệ thống chính trị ở cơ sở, trong đó có vấn
đề xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức cơ sở có năng lực tổ chức và vận động
nhân dân thực hiện đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước, công tâm,
thạo việc, tận tụy với dân, biết phát huy sức dân, không tham nhũng, không
ức hiếp dân; trẻ hóa đội ngũ, chăm lo công tác đào tạo, bồi dưỡng, giải quyết
hợp lý và đồng bộ chính sách đối với cán bộ cơ sở. 16
Ở đây cần đề cập đến vai trò của đội ngũ cán bộ, công chức chính
quyền trong việc thực hiện dân chủ cơ sở xuất phát từ vị trí của đội ngũ công

những loại lao động xã hội khác, xuất phát từ tính chất đặc thù của công chức
là đối tượng thực hiện một dạng lao động xã hội đặc biệt - lao động công vụ
gắn liền với quyền lực nhà nước. Bởi vậy qua từng thời kỳ lịch sử quan niệm
"công chức" luôn vận động, biến đổi tương ứng với chế độ chính trị - xã hội.
Đối với nước ta, theo tiến trình lịch sử lập nước, lập hiến và lập pháp, mỗi
thời kỳ khác nhau cũng có quan niệm khác nhau về công chức.
Lần đầu tiên thuật ngữ "công chức" được đề cập đến ở nước ta trong
Sắc lệnh số 76/SL ngày 20/05/1950 của Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ
cộng hòa. Đây là sắc lệnh ban hành Quy chế công chức của nước Việt Nam
dân chủ cộng hòa, theo đó thuật ngữ "công chức" được đưa vào chính thức là
"những công dân Việt Nam được chính quyền nhân dân tuyển để giữ một
chức vụ thường xuyên trong các cơ quan Chính phủ, ở trong hay ngoài nước
đều là công chức theo quy chế này, trừ những trường hợp riêng biệt do Chính
phủ quy định". Tuy nhiên, Hiến pháp năm 1946, tại Điều 52 và Điều 61 lại
ghi nhận "công chức" như là "nhân viên", đến Hiến pháp năm 1959 vẫn sử
dụng cụm từ "nhân viên nhà nước" để chỉ đối tượng làm việc là công chức
nhà nước. Đến Hiến pháp năm 1980 đã có sự điều chỉnh nhưng vẫn chưa rạch
ròi, việc hiểu thuật ngữ công chức được thay bằng cụm từ "công nhân viên
chức", đến Hiến pháp năm 1992 là "cán bộ, công nhân viên chức". Khái niệm
công chức được đề cập trong Sắc lệnh 76/SL là cơ sở quan trọng để các cơ
quan nhà nước triển khai việc tuyển chọn và bổ nhiệm công chức. Nội hàm
của khái niệm hẹp nhưng rất rõ ràng và cụ thể, là những người được tuyển
dụng giữ một chức vụ thường xuyên trong các cơ quan của Chính phủ, là khái
niệm công chức giống như cách hiểu hiện nay. Theo Sắc lệnh, công chức chỉ
có ba dấu hiệu cơ bản là: Công dân Việt Nam, làm việc có tính thường xuyên,
làm việc trong các cơ quan của Chính phủ. Ba dấu hiệu này không những hiểu 18
công chức được dễ dàng mà phân biệt công chức trong thực tế cũng rất đơn

nhà nước", trong đó viên chức cũng được hiểu theo nghĩa rất rộng - là bao
gồm tất cả những người trong biên chế của các cơ quan, tổ chức sự nghiệp
của Nhà nước thực hiện các công việc của cơ quan, tổ chức đó.
Năm 1998, khi nền kinh tế đã chuyển mạnh sang hướng cơ chế thị
trường, sự tách biệt giữa các loại hình sở hữu đã rõ ràng thì cần thiết phải có
một sự phân biệt giữa hai khu vực là kinh tế nhà nước và kinh tế tư nhân.
Điều đó cũng kéo theo sự thay đổi một loạt các nhiệm vụ của Nhà nước, việc
can thiệp vào quá trình sản xuất, kinh doanh cũng theo hướng khác đi, ít trực
tiếp thực hiện mà tăng cường quản lý nhà nước, điều chỉnh bằng các cơ chế,
chính sách và luật pháp. Chính vì vậy, việc sửa đổi từ nghị định thành Pháp
lệnh Cán bộ, công chức là yêu cầu cần thiết để quy định sâu hơn, rõ hơn các
chức năng của công chức. Theo qui định của Pháp lệnh Cán bộ, công chức
năm 1998 thì thuật ngữ "công chức nhà nước" không được sử dụng. Pháp lệnh
Cán bộ, công chức năm 1998 chỉ sử dụng thuật ngữ "cán bộ, công chức" nói
chung, đồng thời không đưa ra định nghĩa riêng cho từng đối tượng công chức
mà cán bộ, công chức được liệt kê, quy định chung tại Điều 1 Pháp lệnh Cán
bộ, công chức năm 1998 như sau:
Cán bộ, công chức quy định tại Pháp lệnh này là công dân
Việt Nam, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước,
bao gồm:
1. Những người do bầu cử để đảm nhiệm chức vụ theo
nhiệm kỳ trong các cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức
chính trị - xã hội;
2. Những người được tuyển dụng, bổ nhiệm hoặc được giao
nhiệm vụ thường xuyên làm việc trong tổ chức chính trị, tổ chức
chính trị - xã hội; 20
3. Những người được tuyển dụng, bổ nhiệm hoặc giao giữ

các tổ chức chính trị, chính trị - xã hội đều từ ngân sách nhà nước.
- Hưởng lương từ ngân sách ở đây được hiểu là nguồn thu của cơ
quan nhà nước đó là do Nhà nước cấp chứ không phải từ vụ việc cụ thể hoặc
nguồn thu ngoài. Thực tế tại thời điểm tất cả các nguồn ngân sách cấp đều do
Nhà nước là chủ yếu, chưa có chế độ hợp đồng cho các cán bộ làm việc ở các
cơ quan nhà nước.
Về hình thức, giữa Hiến pháp năm 1992 và Pháp lệnh Cán bộ, công
chức năm 1998 không có sự thống nhất trong việc sử dụng các thuật ngữ để chỉ
các đối tượng phục vụ trong các cơ quan, tổ chức nhà nước. Sự không thống
nhất, rõ ràng trong cách qui định của pháp luật thực định càng làm cho khái niệm
"cán bộ, công chức" thêm phức tạp. Đối với khái niệm "cán bộ", được sử dụng
nhiều trong cả Hiến pháp năm 1992 (cán bộ, viên chức nhà nước), Pháp lệnh
năm 1998 và các văn bản quy phạm pháp luật khác nhưng nội hàm khái niệm
lại không rõ vì có lúc một số đối tượng làm việc tại chính quyền cấp xã,
phường, thị trấn (như theo quy định tại khoản 2, Điều 5 Pháp lệnh Cán bộ,
công chức năm 1998) được coi là cán bộ; còn theo qui định tại Nghị định
95/1998/NĐ-CP ngày 17/11/1998 của Chính phủ về tuyển dụng, sử dụng và
quản lý công chức chỉ coi những người thuộc khoản 3 và khoản 5 của Điều 1
Pháp lệnh Cán bộ, công chức năm 1998 là công chức. Thực chất Nghị định 95
chỉ nói về công chức nhà nước, mà không nói tới công chức trong các tổ chức
chính trị, tổ chức chính trị - xã hội. Tuy không thể hiểu theo cách loại trừ như
trong qui định của Nghị định 95 (tức là các đối tượng thuộc khoản 1, 2, 4
Điều 1 Pháp lệnh là "cán bộ") nhưng rõ ràng là nội hàm khái niệm "cán bộ"
chưa được xác định.
Cụ thể hóa Pháp lệnh Cán bộ, công chức năm 1998, Nghị định
95/1998/NĐ-CP đã liệt kê những đối tượng công chức nhà nước. Theo Điều 1 22
của Nghị định thì công chức bao gồm những người được quy định tại khoản


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status