MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU
1
Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ CHẤT LƯỢNG ĐẠI BIỂU
HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN CẤP XÃ
8
1.1. Khái niệm, đặc điểm, vai trò của đại biểu Hội đồng nhân dân
cấp xã 8
1.2. Các yếu tố cấu thành chất lượng đại biểu Hội đồng nhân dân và
tiêu chí đánh giá chất lượng đại biểu Hội đồng nhân dân cấp xã 22
1.3. Yêu cầu cụ thể về chất lượng đại biểu Hội đồng nhân dân cấp xã 31
Chương 2: THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG ĐẠI BIỂU HỘI ĐỒNG
NHÂN DÂN CẤP XÃ Ở HUYỆN KIM ĐỘNG, TỈNH
HƯNG YÊN
42
2.1. Thực trạng tổ chức và hoạt động của Hội đồng nhân dân cấp xã
ở huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên 42
2.2. Thực trạng chất lượng đại biểu Hội đồng nhân dân cấp xã ở
huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên 51
2.3. Đánh giá chung về chất lượng đại biểu Hội đồng nhân dân cấp
xã ở huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên 79
Chương 3: QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG
ĐẠI BIỂU HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN CẤP XÃ Ở HUYỆN
KIM ĐỘNG, TỈNH HƯNG YÊN
90
3.1. Quan điểm bảo đảm và nâng cao chất lượng đại biểu Hội đồng
nhân dân cấp xã 90
3.2. Một số giải pháp nhằm đảm bảo và nâng cao chất lượng đại biểu
Hội đồng nhân dân cấp xã ở huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên 97
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
trương thực hiện thí điểm không tổ chức Hội đồmg nhân dân huyện, quận,
phường. Qua thí điểm, sẽ tổng kết, đánh giá và xem xét thực hiện chính thức chủ
trương này, cùng với việc xem xét sửa đổi, bổ sung Hiến pháp. Ngày 14/11/2008
Quốc hội khoá XII đã thông qua 02 nghị quyết liên quan đến yêu cầu củng cố và
tăng cường hiệu quả hoạt động của HĐND như: Nghị quyết số 25/2008/QH 12
ngày 14/11/2008 về việc kéo dài nhiệm kỳ hoạt động 2004-2009 của HĐND các
cấp. Tại điều 1 của nghị quyết quy định kéo dài nhiệm kỳ hoạt động 2004-2009
của HĐND và Uỷ ban nhân dân (UBND) các cấp cho đến kỳ họp thứ nhất của
1
HĐND các cấp khoá sau vào năm 2011 và Nghị quyết số 26/2008/QH 12 ngày
14/11/2008 về thực hiện thí điểm không tổ chức HĐND quận, huyện, phường.
Đó chính là những động thái mạnh mẽ của Đảng và Nhà nước nhằm hiện thực
hoá các quan điểm tổ chức và hoàn thiện chính quyền địa phương. Những động
thái này vừa là tiền đề chính trị quan trọng, vừa dự báo trước những thành công
của quá trình đổi mới.
Đổi mới tổ chức và hoạt động của HĐND các cấp có thể được triển khai
từ nhiều khâu, với nhiều cấp độ. Một trong những hướng của sự đổi mới
chính là yêu cầu không ngừng nâng cao chất lượng của đại biểu HĐND mà
trước hết là ở cấp cơ sở - cấp xã. Cơ sở lý giải cho yêu cầu này xuất phát từ
vai trò đặc biệt quan trọng của đội ngũ đại biểu HĐND cấp cơ sở là cấp gần
dân nhất, là cấp mà mỗi động thái của đại biểu HĐND đều tác động trực tiếp
tới người dân, đều có khả năng gây ra những hệ quả hoặc tích cực hoặc tiêu
cực tới thái độ và lòng tin của nhân dân vào chế độ xã hội, chế độ nhà nước.
Nhu cầu nâng cao chất lượng của đại biểu HĐND cấp xã lại càng trở nên
cấp bách nếu đặt trong bối cảnh thực trạng chất lượng của đại biểu HĐND xã
trên phạm vi cả nước nói chung, ở từng địa bàn cụ thể nói riêng. Có thể lấy địa
bàn huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên là một ví dụ điển hình. Thực tế trong
những năm qua chất lượng của đại biểu HĐND cấp xã ở huyện Kim Động, tỉnh
Hưng Yên đã đạt được một số kết quả đáng khích lệ như các đại biểu HĐND
đã được nâng cao về trình độ, năng lực, phẩm chất đạo đức, đặc biệt là về kỹ
Nội 2000. Với công trình này lần đầu tiên, những vấn đề liên quan đến cơ sở
lý luận về phương thức và kỹ năng hoạt động của đại biểu Hội đồng nhân đã
được đặt ra nghiên cứu một cách tương đối sâu sắc
- “ Hệ thống chính trị cơ sở. Thực trạng và một số giải pháp đổi mới” do
TS.Chu Văn Thành chủ biên, Nxb Chính trị quốc gia Hà Nội, 2004. Các tác
giả đã nghiên cứu, khảo sát có hệ thống về thực trạng tổ chức hoạt động của
3
Hệ thống chính trị địa phương trên phạm vi cả nước và đi tới nhận định rằng
Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân cấp xã luôn giữ vị trí vai trò trọng tâm
trong nâng cao chất lượng hệ thống chính trị cơ sở, đáp ứng yêu cầu của thời
kỳ đổi mới. Từ đó các tác giả đã đề ra phương hướng và một số giải pháp thiết
thực để củng cố về tổ chức, hoạt động của Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân,
góp phần đổi mới, nâng cao chất lượng của hệ thống chính trị cơ sở.
- Trong Tạp chí Quản lý Nhà nước số 2 năm 2005, TS Vũ Đức Đán có
bài viết “vấn đề bồi dưỡng nâng cao năng lực hoạt động của đại biểu Hội
đồng nhân dân”. Tại đây, tác giả đã lý giải một cách biện chứng về vai trò, vị
trí của Hội đồng nhân dân nói chung và đại biểu Hội đồng nhân dân nói riêng
ở bộ máy chính quyền cấp xã.
- Luận án tiến sĩ “Nâng cao hiệu lực hoạt động giám sát của Hội đồng
nhân dân cấp tỉnh trong điều kiện đổi mới ở Việt Nam hiện nay”, của Vũ Mạnh
Thông. Trong luận án của mình, tác giả đã khái quát sự ra đời, phát triển của
Hội đồng nhân dân các cấp, đồng thời nhấn mạnh vai trò và vị thế của Hội
đồng nhân dân cấp tỉnh qua hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân, từ đó
đã đề cập yêu cầu đổi mới tổ chức và hoạt động của Hội đồng nhân dân ở nước
ta hiện nay.
- Luận án tiến sĩ “Xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp xã vùng đồng
bằng sông cửu long hiện nay”, của Phạm Công Khâm. Đây là công trình đầu
tiên nghiên cứu có hệ thống về thực trạng trình độ, năng lực, đặc thù của cán
bộ chủ chốt cấp xã ở một số tỉnh phía nam nước ta.
- Luận văn thạc sĩ “Một số giải pháp hoàn thiện công tác đào tạo, bồi
Trên cơ sở nghiên cứu những vấn đề lý luận về chất lượng đại biểu Hội
đồng nhân dân cấp xã và thực trạng chất lượng hoạt động của đại biểu Hội
đồng nhân dân cấp xã ở huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên, luận văn hướng
tới đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng hoạt động của đại
biểu Hội đồng nhân dân cấp xã ở huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên.
5
3.2. Nhiệm vụ của luận văn
- Làm sáng tỏ cơ sở lý luận về chất lượng và nâng cao chất lượng của đại
biểu Hội đồng nhân dân cấp xã.
- Đánh giá thực trạng chất lượng đại biểu Hội đồng nhân dân cấp xã ở huyện
Kim Động trong giai đoạn từ 1999 đến nay, đặt trọng tâm vào nhiệm kỳ 2004 - 2011.
- Đề xuất giải pháp nhằm nâng cao chất lượng đại biểu Hội đồng nhân
dân cấp xã ở huyện Kim động hiện nay.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn liên quan đến chất lượng
của đại biểu Hội đồng nhân dân cấp xã tại các xã thuộc huyện Kim Động, tỉnh
Hưng Yên.
4.2. Phạm vi nghiên cứu luận văn
-Về phạm vi không gian: Luận văn tập trung nghiên cứu chất lượng đại
biểu Hội đồng nhân dân ở 19 xã, thị trấn của huyện Kim Động, tỉnh Hưng
Yên thông qua việc thu thập các báo cáo hoạt động và quy chế hoạt động của
Hội đồng nhân dân; Quy chế phối hợp giữa Thường trực Hội đồng nhân dân,
Uỷ ban nhân dân, Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc huyện Kim Động và 19 xã, thị
trấn; báo cáo tổng hợp tiếp xúc cử tri, các nghị quyết đã được Hội đồng nhân
dân huyện và HĐND các xã, thị trấn ở huyện Kim Động thông qua.
-Về phạm vi thời gian: luận văn khảo sát, phân tích làm rõ chất lượng
hoạt động của đại biểu Hội đồng nhân dân các xã, thị trấn ở huyện Kim Động
giai đoạn 1999 đến nay, trong đó tập trung chủ yếu vào nhiệm kỳ 2004-2011.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo,
luận văn được kết cấu gồm 3 chương, 8 tiết.
7
Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ CHẤT LƯỢNG ĐẠI BIỂU
HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN CẤP XÃ
1.1. KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM, VAI TRÒ CỦA ĐẠI BIỂU HỘI ĐỒNG NHÂN
CÂN CẤP XÃ
1.1.1. Khái niệm, đặc điểm của đại biểu Hội đồng nhân dân cấp xã
Trong bộ máy nhà nước ta hiện nay, chính quyền cơ sở góp một vai trò
quan trọng, là cầu nối giữa nhân dân với Đảng và nhà nước, trực tiếp tổ chức
thi hành đường lối, chính sách của Đảng và nhà nước, đảm bảo hiệu quả triển
khai nghị quyết của Đảng và những quy định của nhà nước tại địa bàn cơ sở.
Bộ máy nhà nước ở Trung ương muốn vững mạnh thì phải thường xuyên
củng cố và kiện toàn chính quyền cơ sở. Đó cũng là nhiệm vụ vừa cấp bách,
vừa lâu dài của Đảng và nhà nước ta trong quá trình xây dựng nhà nước pháp
quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân ở nước ta hiện nay.
Hiến pháp năm 1992 quy định chính quyền cấp xã là một cấp - cấp cơ sở
- trong hệ thống hành chính bốn cấp của bộ máy nhà nước ta hiện nay. Chính
quyền cấp xã là tổ chức nhà nước gần dân nhất nên không chỉ là nơi đảm bảo
cho pháp luật được tôn trọng và thực hiện đầy đủ mà còn tạo điều kiện thiết
thực phát huy quyền dân chủ của các tầng lớp nhân dân tại cơ sở, đảm bảo
quyền và nghĩa vụ của mọi công dân, đồng thời tạo điều kiện cho người dân
ổn định đời sống vật chất và tinh thần trong phạm vi xã, phường, thị trấn.
Xét về mặt cấu trúc tổ chức, chính quyền cấp xã gồm hai bộ phận cấu thành:
HĐND cấp xã và UBND cấp xã. Như vậy, HĐND xã, phường, thị trấn là bộ phận
cấu thành không thể tách rời của chính quyền cấp cơ sở ở nước ta hiện nay.
HĐND cấp xã ở Việt Nam là một hình thức tổ chức quản lý xã hội theo
kiểu mới, là hình thức tổ chức và thực hiện quyền lực của nhân dân trong xã.
Hội đồng nhân dân cấp xã do nhân dân địa phương bầu ra, đại diện cho nhân
9
- Trong lĩnh vực văn hoá, giáo dục, xã hội và đời sống, HĐND cấp xã
quyết định:
+ Biện pháp thực hiện việc phát triển sự nghiệp văn hoá, giáo dục ở địa
phương; bảo đảm các điều kiện cần thiết để trẻ em vào học lớp 1 đúng độ
tuổi, hoàn thành chương trình phổ cập giáo dục;
+ Biện pháp giáo dục thanh niên, bảo vệ chăm sóc giáo dục thiếu niên,
nhi đồng, xây dựng nếp sống văn minh, gia đình văn hoá, giáo dục truyền
thống tốt đẹp; bài trừ mê tín, hủ tục chống các tệ nạn xã hội và những biểu
hiện không lành mạnh trong đời sống xã hội ở địa phương;
+ Biện pháp đảm bảo giữ gìn vệ sinh, hòng chống dịch bệnh, thực hiện
có hiệu quả chương trình y tế cơ sở, dân số, kế hoạch hoá gia đình;
+ Biện pháp thực hiện chính sách, chế độ đối với thương binh, bệnh binh
gia đình liệt sỹ, những người có công với nước.
- Trong lĩnh vực quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, HĐND cấp
xã quyết định:
+ Biện pháp thực hiện nhiệm vụ xây dựng quốc phòng toàn dân; bảo đảm thi
hành chế độ nghĩa vụ quân sự, xây dựng lực lượng dân quân tự vệ ở địa phương;
+ Biện pháp thực hiện nhiệm vụ hậu cần tại chỗ, nhiệm vụ động viên
chính sách đối với các lực lượng vũ trang nhân dân ở địa phương;
+ Biện pháp bảo đảm thực hiện nhiệm vụ giữ gìn an ninh, trật tự, an toàn
xã hội, đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm, các hành vi vi phạm pháp
luật khác ở địa phương.
- Trong lĩnh vực thực hiện chính sách tôn giáo, HĐND cấp xã quyết định:
+ Biện pháp đảm bảo thực hiện chính sách tôn giáo, quyền tự do tín
ngưỡng, tôn giáo của nhân dân ở địa phương theo quy định của pháp luật.
- Trong lĩnh vực thi hành pháp luật, HĐND cấp xã quyết định:
+ Biện pháp bảo đảm thi hành hiến pháp, Luật các văn bản của cơ quan
nhà nước cấp trên ở địa phương;
10
họp của HĐND, qua hoạt động của Thường trực HĐND, và qua hoạt động cá
nhân của từng đại biểu HĐND. Như vậy, dù với hình thức hoạt động nào thì
yếu tố quyết định hiệu quả và chất lượng hoạt động của HĐND suy cho cùng
vẫn tuỳ thuộc vào hoạt động của đại biểu HĐND.
Điều 121 Hiến pháp năm 1992 khẳng định: Đại biểu HĐND là người đại
diện cho ý chí, nguyện vọng của nhân dân địa phương, phải liên hệ chặt chẽ
với cử tri, chịu sự giám sát của cử tri, thực hiện chế độ tiếp xúc, báo cáo với
cử tri về hoạt động của mình và của HĐND, trả lời những yêu cầu, kiến nghị
của cử tri; xem xét, đôn đốc việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của nhân dân.
Cụ thể hoá nội dung hiến định của Hiến pháp 1992, Luật quy định:
Đại biểu HĐND là công dân nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa
Việt Nam, không phân biệt dân tộc, nam nữ, thành phần xã hội, tín
ngưỡng, tôn giáo, trình độ, văn hoá, nghề nghiệp, thời hạn cư trú đủ
18 tuổi trở lên có quyền bầu cử và đủ 21 tuổi trở lên có quyền ứng
cử đại biểu HĐND theo quy định của pháp luật [61, tr.6].
Đại biểu HĐND là người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của
nhân dân địa phương, gương mẫu chấp hành chính sách, pháp luật
của nhà nước, tuyên truyền vận động nhân dân thực hiện chính sách,
pháp luật và tham gia vào việc quản lý nhà nước [62, tr.31].
Đại biểu HĐND phải liên hệ chặt chẽ với cử tri ở đơn vị bầu ra
mình, chịu sự giám sát của cử tri, có trách nhiệm thu thập và phản
ánh trung thực ý kiến, nguyện vọng, kiến nghị của cử tri với HĐND
và cơ quan nhà nước hữu quan ở địa phương [79, tr.65].
Theo cách hiểu đó, đại biểu HĐND cấp xã là công dân Việt Nam tại địa
phương, do nhân dân trong xã bầu ra, đại diện cho nhân dân trong xã và thực
hiện quyền lực nhà nước tại địa phương, chịu trách nhiệm trước cử tri trong
xã và chính quyền nhà nước cấp trên. Đại biểu HĐND xã thay mặt cho cử tri
12
của mình để quyết định những vấn đề tại địa phương, đồng thời lắng nghe ý
kiến của cử tri, chuyển những kiến nghị của cử tri đến tổ đại biểu HĐND và
Sự yêu cầu về lợi ích và nguyện vọng chính đáng của nhân dân là cơ sở
căn cứ xác định nội dung hoạt động của đại biểu HĐND cấp xã; đại biểu
HĐND cấp xã phải phản ánh trung thực và bảo vệ mọi quyền, lợi ích chính
đáng của cử tri nơi bầu ra mình. Cần quan tâm đến mọi nguồn thông tin đại
chúng để hiểu rõ cái gì cử tri đang đòi hỏi, để hình thành chương trình hoạt
động của đại biểu HĐND.
- Đại biểu HĐND cấp xã có quyền thay mặt nhân dân trong xã. Đó là
quyền thảo luận, quyền quyết định các vấn đề quan trọng của địa phương
trong các kỳ họp HĐND; quyền thay mặt nhân dân khi quan hệ với các cơ
quan, tổ chức ở địa phương để yêu cầu giải quyết đảm bảo các quyền, lợi ích
hợp pháp của nhân dân. Trong hoạt động, mỗi đại biểu HĐND cấp xã cần
quan tâm trước hết là lợi ích chính đáng, hợp pháp của nhân dân địa phương,
của cộng đồng xã hội trong xây dựng, phát triển kinh tế - xã hội địa phương,
trong bảo vệ lợi ích chung của dân tộc.
* Đại biểu HĐND cấp xã là người trực tiếp thực hiện quyền lực nhà
nước của HĐND cấp xã.
Hoạt động mang tính quyền lực nhà nước của từng đại biểu HĐND cấp
xã được phản ánh ở hai khía cạnh sau:
- Mỗi đại biểu HĐND cấp xã đều trực tiếp tham gia thực hiện quyền
lực nhà nước tại địa bàn cấp xã. Đại biểu là người quyết định những vấn đề
quan trọng của địa phương trong phạm vi thẩm quyền của HĐND, thực hiện
quyền giám sát của HĐND thông qua hoạt động chất vấn, nghe và xem xét
báo cáo của các cơ quan nhà nước trước HĐND trong việc thực hiện nghị
quyết của HĐND. Điều đó được đảm bảo thông qua việc thực hiện quyền,
nghĩa vụ của đại biểu HĐND trong thực tế.
14
- Đại biểu HĐND cấp xã là người đại diện cho cơ quan quyền lực trong
quan hệ với các cơ quan nhà nước khác và các viên chức nhà nước, với các tổ
chức xã hội và nhân dân. Đại biểu có quyền kiến nghị với các cơ quan nhà
nước về việc thi hành pháp luật, về những vấn đề thuộc lợi ích chung, Đại
khác thuộc UBND cấp xã. Người bị chất vấn phải có trách nhiệm trả lời
những vấn đề mà đại biểu HĐND chất vấn theo thủ tục pháp luật quy định;
- Đại biểu HĐND cấp xã được bầu vào các cơ quan tổ chức của HĐND.
Đại biểu HĐND cấp xã phải tôn trọng và chấp hành quy chế về tổ chức và
hoạt động do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành.
Hai là, quyền và nghĩa vụ trong mối liên hệ với cử tri ở đơn vị bầu cử
của đại biểu:
- Đại biểu HĐND cấp xã phải liên hệ chặt chẽ với cử tri, tiếp xúc cử tri theo
lịch, lấy ý kiến của cử tri về các vấn đề sẽ đưa vào nội dung trong kỳ họp HĐND;
- Đại biểu HĐND cấp xã phải báo cáo với cử tri về hoạt động của mình
và HĐND. Đồng thời chịu sự giám sát của cử tri về các hoạt động đó;
- Đại biểu HĐND cấp xã tham gia tổ chức thực hiện pháp luật và các
quyết định của HĐND và UBND cấp trên.
- Đại biểu HĐND cấp xã tiếp dân theo lịch được phân công hoặc theo
yêu cầu của nhân dân; khi nhận được kiến nghị, khiếu nại, tố cáo của công
dân, đại biểu có trách nhiệm nghiên cứu, đề xuất ý kiến trực tiếp hoặc thông
qua tổ chức hoạt động của HĐND cấp xã để giám sát, chất vấn các cơ quan,
tổ chức có thẩm quyền xem xét giải quyết những khiếu nại, tố cáo đó;
Ba là, quyền của đại biểu HĐND cấp xã trong quan hệ với các cơ quan nhà
nước, tổ chức xã hội và các đơn vị trên phạm vi đơn vị hành chính và nghĩa vụ
của các cơ quan, tổ chức trong xem xét, yêu cầu của đại biểu và tiếp đại biểu.
- Theo uỷ quyền của HĐND, đại biểu của HĐND cấp xã có quyền xem
xét hoạt động của các cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, văn hoá, xã hội… về
những vấn đề thuộc thẩm quyền của HĐND cấp xã;
16
- Đại biểu HĐND cấp xã có quyền yêu cầu được cung cấp tài liệu, được
đảm bảo thông tin cần thiết cho hoạt động đại biểu. Các cơ quan có thẩm
quyền phải đảm bảo các yêu cầu đó cho đại biểu HĐND;
- Đại biểu HĐND cấp xã có quyền đề nghị để hoàn thiện tổ chức và hoạt
động của cơ quan, tổ chức, đề nghị các biện pháp ngăn chặn tiêu cực trong cơ
Trung ương đến địa phương, hoạt động theo nguyên tắc tập trung dân chủ.
Ở nước ta, vị trí, vai trò của HĐND cấp xã luôn được đề cao trong suốt
quá trình xây dựng và phát huy vị thế của HĐND cấp xã. Kể từ khi nhà nước
Việt Nam dân chủ cộng hoà ra đời cho đến nay, cấp xã và HĐND cấp xã ngày
càng chiếm vị trí quan trọng trong tổ chức bộ máy nhà nước.
Sau cách mạng tháng 8/1945, chỉ hai tháng sau khi tuyên bố độc lập,
ngày 22/11/1945 Chủ tịch Hồ Chí Minh ký sắc lệnh 63 về tổ chức HĐND và
Uỷ ban hành chính. Tại điểm I của Sắc lệnh đã nêu rõ: để thực hiện chính
quyền nhân dân ở địa phương trong nước Việt Nam sẽ đặt hai cơ quan HĐND
và Uỷ ban hành chính. HĐND do nhân dân bầu ra theo lối phổ thông và trực
tiếp đầu phiếu, là cơ quan thay mặt nhân dân. Uỷ ban hành chính do HĐND
bầu ra, là cơ quan hành chính vừa thay mặt nhân dân, vừa thay mặt cho chính
phủ. Ở hai cấp xã và tỉnh có HĐND và Uỷ ban hành chính, cấp huyện và thị
xã có Uỷ ban hành chính. Ở khu đô thị mà lâu nay về mặt hành chính được
thiết lập trực tiếp với tỉnh, từ nay sẽ gọi là thị xã. Ở mỗi thành phố sẽ đặt ba
cơ quan: HĐND thành phố, Uỷ ban hành chính thành phố và Uỷ ban hành
chính khu phố do nhân dân khu phố bầu ra theo lối phổ thông và trực tiếp đầu
phiếu, là cơ quan vừa thay mặt cho nhân dân, vừa thay mặt cho Chính phủ.
Như vậy, ngay từ những ngày đầu mới giành được chính quyền, Đảng và
Nhà nước ta đã xác định cấp hành chính cơ sở là xã, thị xã, khu phố.
Tại điều 57, 58 Hiến pháp năm 1946 – Bản Hiến pháp đầu tiên của nước ta-
quy định: Nước Việt Nam về phương diện hành chính chia thành 3 bộ: Bắc bộ,
Trung bộ, Nam bộ. Mỗi bộ chia thành tỉnh, mỗi tỉnh chia thành huyện, mỗi huyện
chia thành xã. Trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân pháp xâm lược, ngày
18
09/11/1948 Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký hai sắc lệnh 254 và 255 về tổ chức chính
quyền nhân dân trong thời kỳ kháng chiến. Theo quy định của hai sắc lệnh nói
trên thì tổ chức chính quyền xã, thị xã có HĐND và Uỷ ban kháng chiến. Đối với
những xã nằm trong vùng địch chiếm đóng hay bị uy hiếp, nếu chưa bầu được
HĐND thì Uỷ ban kháng chiến hành chính chỉ ra một HĐND lâm thời, nếu đã
nghĩa Việt Nam được chia thành 4 cấp: Cấp Trung ương; cấp tỉnh, thành phố
trực thuộc Trung ương; cấp huyện, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh; và cấp
xã, phường, thị trấn.
Như vậy, trong lịch sử xây dựng và phát triển hệ thống chính quyền cách
mạng ở nước ta, có những cấp chính quyền ở vào những thời kỳ nhất định đã
không tổ chức HĐND. Riêng cấp xã, từ khi có sắc lệnh số 63 (1945) đến nay,
cơ quan HĐND cấp xã vẫn được duy trì và phát triển liên tục.
Từ phân tích trên về vị trí của HĐND cấp xã có thể thấy rõ vị trí, vai trò
của đại biểu HĐND cấp xã;
Trong điều kiện cụ thể của thể chế nhà nước Việt Nam, pháp luật quy
định: Hội đồng nhân dân là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, đại
diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân địa phương bầu
ra theo nguyên tắc: trực tiếp, phổ thông, bình đẳng và bỏ phiếu kín; chịu trách
nhiệm trước nhân dân địa phương và cơ quan nhà nước cấp trên. Như vậy, sự
hiện diện của đại biểu HĐND cấp xã trong bộ máy nhà nước là một nhu cầu
khách quan. Đó là bộ phận trực tiếp thực thi quyền lực nhà nước tại cơ sở và
là cầu nối giữa nhà nước và nhân dân địa phương.
Vị trí, vai trò của đại biểu HĐND cấp xã được minh chứng rõ nét qua vị
trí là người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của nhân dân địa phương. Đại
biểu HĐND cấp xã là người do nhân dân trực tiếp bầu ra, mỗi đại biểu HĐND
xã đại diện cho một khu vực dân cư, tổ chức đoàn thể, thành phần dân tộc, tôn
giáo hoặc một tổ chức nghề nghiệp trong địa bàn cấp xã. Từng đại biểu
HĐND xã đều có quyền và nghĩa vụ chuyển tải đầy đủ yêu cầu, kiến nghị của
20
chính tổ chức, thành phần do mình đại diện vào chương trình hành động của
HĐND cấp xã, đồng thời xem xét, phân tích, đánh giá thể chế hoá những nội
dung cần thiết thành nghị quyết của cơ quan quyền lực nhà nước tại cơ sở.
Thông qua vai trò đại diện cho ý chí, nguyện vọng của nhân dân địa phương
của đại biểu HĐND, HĐND xã đã mang tính chất quyền lực. Như vậy từ khía
cạnh này đại biểu HĐND cấp xã giữ một vai trò quan trọng trong việc là
qua quá trình hoàn thiện và nâng cao vị thế thực quyền của cơ quan quyền lực
nhà nước cấp cơ sở. Trong công cuộc đổi mới phát triển đất nước, đại biểu
HĐND cấp xã đã và đang phát huy vai trò của mình trong thực hiện thắng lợi
đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của nhà nước ở từng
địa bàn dân cư. Điều đó cho thấy đã có sự lớn mạnh và biến đổi sâu sắc về số
lượng và nâng lên chất lượng cả phẩm chất, năng lực, nhận thức của người đại
biểu theo yêu cầu, nhiệm vụ ở cấp cơ sở.
1.2. CÁC YẾU TỐ CẤU THÀNH CHẤT LƯỢNG ĐẠI BIỂU HỘI ĐỒNG
NHÂN DÂN VÀ TIÊU CHÍ ĐÁNH GIÁ CHẤT LƯỢNG ĐẠI BIỂU HỘI ĐỒNG
NHÂN DÂN CẤP XÃ
1.2.1. Các yếu tố cấu thành chất lượng đại biểu Hội đồng nhân dân
Trước khi phân tích các yếu tố cấu thành chất lượng đại biểu HĐND
cấp xã, nhất thiết cần làm rõ khái niệm “chất lượng”.
Theo từ điển Tiếng việt thì “chất lượng” hiểu theo nghĩa chung nhất là:
"cái tạo nên phẩm chất, giá trị của một người, một sự vật, sự việc" [59, tr.28].
Như vậy, nói đến chất lượng của một cá nhân là nói đến khả năng đạt
được kết quả trong hoạt động nào đó của chính cá nhân đó. Muốn hoạt động
có kết quả thì cá nhân phải có những phẩm chất tâm lý nhất định phù hợp với
yêu cầu của hoạt động. Nếu những thuộc tính tâm lý cá nhân không phù hợp
với yêu cầu của hoạt động thì coi như không có chất lượng. Chất lượng không
phải là những thuộc tính cá nhân riêng lẻ mà là một tổ hợp các thuộc tính cá
nhân đáp ứng yêu cầu cao của hoạt động. Tổ hợp không có nghĩa là các thuộc
22
tính đó tồn tại song song mà chúng có quan hệ và tác động lẫn nhau, thống
nhất với nhau theo yêu cầu nhất định.
Chất lượng của con người vừa là cái “tự nhiên” có sẵn, vừa là kết quả của
quá trình học tập, rèn luyện, hoạt động thực tiễn của con người. Có thể nói
rằng, chất lượng không phải là tư chất bẩm sinh thuần tuý vốn có của con
người, tự động đảm bảo cho con người đạt kết quả trong hoạt động nào đó mà
nó là kết quả của sự phối hợp những tư chất bẩm sinh vốn có với sự rèn luyện,