LỜI CẢM ƠN
Đầu tiên cho phép em được gửi lời cảm ơn sâu sắc tới giảng viên hướng
dẫn – Thạc sĩ Trần Thị Phương Thúy khoa Văn hóa Thông tin & Xã hội.
Cô luôn là người trực tiếp hướng dẫn chúng em cách học tập sao cho
hiệu quả nhất. Trong quá trình học tập chúng em còn nhiều điều thiếu sót. Để có
được bài tiểu luận ngày hôm nay cũng nhờ công lớn từ phía các thầy cô. Vậy
mong cô thông cảm và tạo điều kiện cho chúng em để phát triển khối kiến thức
hơn nữa. Em xin trân thành cảm ơn cô một lần nữa!
Kính chúc cô luôn khỏe mạnh và đạt được nhiều thành công trong cuộc
sống.
MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN
LỜI MỞ ĐẦU
Việt Nam là một quốc gia có 54 dân tộc anh em sinh sống, trong đó dân
tộc Kinh (Việt) chiếm phần lớn là 90% còn lại 10% là 53 dân tộc thiểu số
Trải qua bao thế kỷ, những năm tháng đấu tranh giành lại đất nước các
dân tộc Việt Nam đã có sự phân bố trên khắp mọi miền tổ quốc. 54 dân tộc – 8
nhóm ngữ hệ khác nhau gồm nhóm: Việt – Mường; Ka đai; Mông – Dao; Nam
Đảo; Hán; Tạng; Tày; Môn Khmer
Trong đó nhóm ngôn ngữ Môn Khmer là có nhiều dân tộc nhất, gồm 21
dân tộc: Ba Na, Brâu, Bru - Vân Kiều, Chơ Ro, Co, Cơ Ho, Cờ Tu, Giẻ
Triêng, Hrê, Kháng, Khmer, Khơ Mú, Mạ, Mảng, M'Nông, Ơ Đu, Rơ Măm, Tà
Ôi, Xinh Mun, Xơ Đăng, Xtiêng.
Ấn tượng nhất có lẽ là dân tộc Bru – Vân Kiều đó là dân tộc vinh dự được
mang họ Bác Hồ kính yêu – vị lãnh tụ của dân tộc Việt Nam ta. Trong kháng
chiến, dân tộc Bru -Vân Kiều một lòng một dạ đi theo cách mạng và Chủ tịch
Hồ Chí Minh nên lấy họ của Bác làm họ của dân tộc mình. Đó cũng chính là
1.1.1 Nguồn gốc.
Là cư dân có nguồn gốc lâu đời nhất ở vùng Trường Sơn.
Dân tộc Bru – Vân Kiều vốn là cư dân nông nghiệp có trình độ tương đối
phát triển, xưa kia họ tập trung sinh sống tại vùng trung Lào, sau những biến
động của lịch sử diễn ra hàng thế kỷ, họ phải di cư đi các nơi. Một số đi theo
hướng tây bắc sang Thái Lan, một số đi theo hướng đông tụ cư tại vùng miền
núi phía tây Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên-Huế của Việt Nam. Khi vào
Việt Nam họ dựng làng xung quanh hòn núi Vân Kiều (núi Viên Kiều), về sau
người Việt lấy tên của hòn núi đặt cho một tổng của người Bru, và từ đó họ còn
được gọi là Bru - Vân Kiều
1.1.2 Tên gọi.
Dân tộc Bru – Vân Kiều còn gọi là người Bru, người Vân Kiều, người Ma
Coong, người Trì hay người Khùa
1.1.3 Dân số và địa bàn cư trú.
Tại Việt Nam, theo điều tra dân số năm 1999 thì dân tộc này có khoảng
55.559 người, sống tập trung ở miền núi của Quảng Trị, Quảng Bình, Đăk Lăk
và Thừa Thiên-Huế. Thực tế các tên gọi Vân Kiều, Ma Coong, Trì, Khùa, Bru
dùng để chỉ các nhóm khác nhau trong tộc người này.
Theo Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009, Dân tộc Bru – Vân Kiều ở
Việt Nam có dân số 74.506 người, cư trú tại 39 trên tổng số 63 tỉnh, thành phố.
Cư trú tập trung tại các tỉnh: Quảng Trị (55.079 người, chiếm 73,9% tổng số
người Bru-Vân Kiều tại Việt Nam), Quảng Bình (14.631 người, chiếm 19,6%
tổng số người Bru-Vân Kiều tại Việt Nam), Đăk Lăk (3.348 người), Thừa ThiênHuế (1.114 người), Thanh Hóa (38 người).
Tại Lào, theo ước tính của Ethnologue, có khoảng 69.000 người nói
phương ngữ phía đông của tiếng Bru, tương tự như tại Việt Nam.
5
Tại Thái Lan có khoảng 5.000 người nói phương ngữ phía đông của tiếng
Bru và khoảng 20.000 người nói phương ngữ phía tây của tiếng Bru
1.1.4.3.3 Tín ngưỡng
Chú trọng thờ cúng tổ tiên và thờ đa thần (Yang, thần lúa, thần bếp lửa,
thần núi, thần đất, thần sông nước v.v...)
1.1.4.3.4 Lễ hội
Nhiều lễ hội liên quan đến chu kỳ sản xuất (Mừng lúa mới, được mùa,
phát rẫy, rước hồn lúa..) và vòng đời (sinh ra, trưởng thành, mất đi..
1.1.4.4 Văn hóa xã hội.
1.1.4.4.1 Cưới hỏi
Nhà trai tổ chức cưới vợ cho con khi có đủ đồ sính lễ (không thể thiếu
thanh kiếm và chiếc nồi đồng). Sau khi cưới, thực hiện lễ ‘’khởi’’ (công nhận cô
dâu là thành viên trong dòng họ nhà chồng)
1.1.4.4.2 Sinh đẻ
Tập tục sinh tại nhà do cha mẹ hay chồng đỡ đẻ còn rất phổ biến
1.1.4.4.3 Tang ma
Người chết sau 2, 3 ngày mới được đưa ma và chôn vào bãi mộ chung của
làng. Quan tài bằng thân cây khoét rỗng, nhiều thứ từ đồ vật dụng, hạt giống
được khâm liệm cùng.
Qua phần khái quát trên giúp chúng ta hiểu thêm một số nét cơ bản về dân tộc
Bru – Vân Kiều là một dân tộc tập trung khá nhiều trên đất nước. Tuy nhiên lối
sống còn hơi lạc hậu, cần được phát triển hơn nữa.
1.2. Kết quả nghiên cứu về tín ngưỡng dân tộc Bru – Vân Kiều
1.2.1 Tín ngưỡng trong quan niệm
Tín ngưỡng là một thứ gì đó thiêng liêng không thể nhìn thấy, sờ được.
Nhưng nó không thể thiếu trong đời sống tinh thần của mỗi con người, không ai
biết tín ngưỡng có từ khi nào mà chỉ biết có từ rất lâu đời. Là một hiện tượng
văn hóa độc đáo, phản ánh được niềm tin, ước vọng của con người từ xưa cho
đến nay
gian phải xuống tận ruộng lấy từng bông. Thấy vất vả mệt nhọc quá, người ta
mới chế ra liềm hái để cắt lúa cho nhanh. Và lúa cũng không tự biến thành cơm
nữa, mà phải phơi phóng, xay giã cho ra gạo. Sự hờn dỗi của nữ thần Lúa còn
8
đôi khi cay nghiệt hơn nữa. Nữ thần vẫn giận sự phũ phàng của con người, nên
nhiều lần đã cấm không cho các bông lúa nảy nở. Có kết hạt thì cũng chỉ là lúa
lép mà thôi. Vì thế sau này mỗi lần gặt xong là người trần gian phải làm lễ cúng
hồn Lúa, cũng là cúng thần Lúa. Có nơi không gọi như thế thì gọi là cúng cơm
mới. Cúng hồn Lúa, cơm mới, do các gia đình tổ chức trong nhà mình.
1.2.2.2 Thần đất
Thần đất (còn được gọi là Thổ Địa, thổ công hay Thổ thần), là một
vị thần trong tín ngưỡng Châu Á, cai quản một vùng đất nào đó. người ta cho
rằng, Thổ công rất thích đùa nghịch với trẻ con và rất thích ăn tỏi
Người Việt có câu: "Đất có Thổ Công, sông có Hà Bá", nghĩa là theo niềm
tin thì ở phạm vi nào thì ở đó có vị thần cai quản ở đó. Đối với tín ngưỡng thờ
kính Thổ công, mỗi khi làm việc có đụng chạm đến đất đai: xây cất, đào ao,
đào giếng, mở vườn, mở ruộng, đào huyệt... thì người ta thường cúng vị thần
này qua lễ động thổ. Thổ Công còn được gọi Ông Địa và người ta lập bàn thờ
đặt ở mặt đất (đất phải về với đất); nhiều nơi, vì ảnh hưởng Trung Hoa còn
gọi Ông Địa là Thần Tài (mọi thứ đều từ đất mà ra).
Thổ Công là một dạng của Mẹ Đất, là vị thần trông coi nhà cửa, định đoạt
họa phúc cho một gia đình. Một số giả thuyết cho rằng Thổ Công là một trong
ba vị Táo Quân xuất hiện trong truyện Sự tích Táo quân (hay Sự tích ba ông đầu
rau). Người chồng thứ hai là Thổ Công (trông coi việc bếp núc, còn gọi là vua
bếp), người chồng thứ nhất là Thổ Địa (trông coi việc nhà cửa), người vợ là Thổ
Kỳ (trông coi việc mua bán, chợ búa cho phụ nữ trong nhà và sản sinh vật ngoài
vườn). Tuy nhiên, một số người cho rằng Thổ Công là vị thần cai quản vùng đất
còn Táo Quân chỉ coi việc bếp núc trong nhà.
cúng tổ tiên. Tổ tiên được hiểu bao gồm ông bà, cha mẹ và những người chết từ
16 tuổi trở lên. Sau khi người chết được ba năm, người ta làm chay – tơ ra pứp
ta may để đưa linh hồn người chết vào nhà thờ nhỏ – dông sok ku mui (hay còn
gọi là ra bo ku mui). Những người thuộc bậc cha ông, sau khi chết vài chục năm,
họ hàng, con cháu làm một lễ ta tư pứp tia, chuyển từ dàng ku mui lên dàng ka
ne. Thường là hai, ba đời, người ta mới làm ta tưpứp tia một lần. Trong những
10
ngày làm lễ đó, đồng bào mở hội đâm trâu, uống rượu cần, v.v… Ngoài đông
sok ku mui, trong mỗi gia đình còn có bàn thờ riêng, thờ cúng những người
trong gia đình.
Với dân tộc Bru – Vân Kiều, thờ họ hàng bên gia đình nhà vợ cũng là
nghĩa vụ và bổn phận của người con rể.
Tín ngưỡng của tục thờ cúng tổ tiên là quan niệm về sự tồn tại của linh
hồn và mối liên hệ giữa người sống và người chết cùng chung huyết thống. Bằng
linh hồn đã chết, có thể theo dõi hành vi của con cháu, quở trách hoặc phù hộ
cho cuộc sống của họ.
Trong tín ngưỡng này đạo lý là nội dung nổi trội. Người Việt Nam luôn đề cao
đạo lý “uống nước nhớ nguồn” nên một mặt con cháu muốn bày tỏ lòng biết ơn
với đấng sinh thành lúc họ sống cũng như đã chết. Mặt khác thể hiện trách
nhiệm liên tục và lâu dài của con cháu đối với nhu cầu của tổ tiên. Trách nhiệm
được thể hiện không chỉ trong hành vi sống mà còn thể hiện ở trong các hành vi
cúng tế. Các thành viên trong gia đình kính dâng các đồ cúng lễ là tuyệt đối cần
thiết để cho linh hồn tổ tiên có được sự yên nghỉ thanh thản ở thế giới bên kia.
1.2.4 Tổ chức lễ hội
1.2.4.1 Lễ hội mừng lúa mới
Lễ hội mừng lúa mới thường được tổ chức vào ngày trung tuần của tháng
làng một mùa màng bội thu. Đồng thời lễ hội còn là dịp để cầu phúc, cầu sức
khỏe cho dân làng được an bình, hạnh phúc. Lễ được kéo dài 2 ngày 1 đêm. Lễ
hội mừng lúa mới được coi là cái Tết của dân tộc Bru – Vân Kiều. Họ còn tổ
chức nấu xôi bằng lúa mới, thịt gà lợn, thịt trâu sau khi đâm trâu để vui lễ.
Trong lễ các cụ già uống rượu và hát các làn điệu dân ca o oát, sa nớt, hát
chà chấp. Một số đánh chiêng, thổi khèn, thổi sáo, kèn pi, sáo khsui, kèn amam,
ta riêm, đàn achung, pư kua... Lời hát là các làn điệu dân ca truyền thống cầu
chúc cho cuộc sống an bình, ấm yên. Trong lễ hội các món ăn truyền thống được
đồng bào chế biến như canh cải, cháo ra vẻ, mắm a tăn làm từ thịt con vượn,
ngoài ra còn có chuối, mía do đồng bào trồng và làm bánh bằng bột nếp và
vừng đen giã nhuyễn gói lại như bánh tét. Khách đến dự cũng được mời như dân
bản. Trong lễ hội mừng lúa mới đồng bào vui như Tết và tràn trề hạnh phúc.
Lễ hội mừng lúa mới của dân tộc Bru – Vân Kiều toát lên đầy đủ những
sắc thái của nền văn hóa tộc người. Người tham dự được chứng kiến những lễ
nghi kỳ thú, được đánh chiêng, múa hát, uống rượu cần, ăn bữa cơm "cộng
12
cảm", cùng vui chơi một cách hồn nhiên và say sưa trong hơi ấm cộng đồng.
Vốn văn hóa truyền thống của dân tộc như nghệ thuật tạo hình, nghệ thuật diễn
xướng dân gian, những thuần phong mỹ tục được trân trọng, bộc lộ và thăng
hoa. Trong lễ hội có nghi thức đâm trâu nên có thể gọi là lễ hội đâm trâu nhưng
thực tế đây là lễ hội của dân tộc Bru – Vân Kiều mừng một vụ mùa bội thu, cầu
mong thần lúa, thần linh cho một vụ mùa đến tốt hơn và cầu chúc sức khỏe cho
mọi người. Thiết nghĩ đây là loại hình văn hóa phi vật thể của dân tộc Bru - Vân
Kiều ở miền núi phía tây Quảng Bình cần được bảo tồn góp phần gìn giữ bản
sắc văn hóa dân tộc.
1.2.4.2 Lễ hội đập trống
Là một lễ hội của người Ma Coong, một tộc thuộc dân tộc Bru - Vân
Kiều, tại Bố Trạch, miền tây Quảng Bình. Lễ hội đập trống mừng mùa trăng
phần hành lễ, lúa gạo được ném ra tứ phía, cầu mong thóc lúa về đầy bồ, đầy
nương. Phần lễ kết thúc, là lúc tiếng trống hội mở màn vang lên từ tay đánh của
một trong các thành viên chủ lễ. Lúc khoan thai, lúc thúc dồn dập tiếng trống cứ
thế vang động cả núi rừng thăm thẳm. Mọi người bắt đầu xúm lại với những ché
rượu cần, rượu hiêng. Men rượu nồng say bốc lên, những thanh niên khỏe mạnh
giành nhau dùi và trổ tài đánh trống mạnh, đánh trống nhanh. Những người
không tham gia đánh trống thì cầm tay nhau nhảy múa quanh đống lửa cháy
sáng rực.
Trống hội được làm từ buổi sáng, tang trống được làm bằng thân cây gỗ
lồi, da bịt mặt trống được lấy từ da bò, bịt trống bằng những cây mây già, chêm
mặt trống cho căng là những thân tre già. Thanh niên thường là người khỏe
mạnh nhất đánh trống. Trống phải đánh cho kỳ thủng trước khi trời sáng mới
thôi, trời đất mới chứng giám cho lòng thành của mọi người, trong năm mới mới
được mùa màng. Trống thủng càng sớm, thanh niên càng mau được dắt tay bạn
tình vào rừng tình tự.Vừa đánh trống, nhóm thanh niên la vang rừng:
"Roa lữ Giàng ơi!" (sướng quá, vui quá trời ơi)
Đêm hội này còn được gọi là đêm "thả cửa"; nghĩa là mọi người, không
kể lạ quen, người bản này bản kia, tất cả đều được dắt tay nhau vào rừng chuyện
trò, tình tự. Khi mặt trống bị đánh vỡ, thanh niên nam nữ cùng dắt tay nhau lẩn
vào rừng sâu. Sau mùa lễ hội không biết bao nhiêu đôi bạn tình lại nên vợ nên
chồng.
14
1.2.5 Tín ngưỡng vòng đời con người.
1.2.5.1
Tín ngưỡng trong đặt tên con
Trước đây không có họ, sau này lấy họ Hồ.
hệ hôn nhân này, hôn nhân con trai cô lấy con gái cậu không chỉ là hợp với
15
phong tục, mà còn được ưa thích.
Hôn nhân của dân tộc Bru – Vân Kiều là hôn nhân một vợ một chồng và
cư trú bên nhà chồng. Hầu như không có trường hợp đa thê, hoặc ly hôn.
Nam nữ thanh niên được tự do yêu đương. Đến tuổi trưởng thành, ban
đêm thường không ngủ ở nhà mình, mà đến ngủ ở nhà công cộng (roỏng hoặc
khoan) để trai, gái tìm hiểu nhau. Đôi khi đôi trai gái đưa nhau đến cái chòi xa
làng để tìm hiểu – xim hay pợ xu. Khi hai người ưng nhau, người con trai tặng –
đỏ văn cho người con gái tiền (bạc trắng) hoặc miếng trầu, điếu thuốc. Sau đó
hai người cùng tìm chọn người mối đá đưa tin cho cha mẹ hai bên biết. Tuy
nhiên cũng có trường hợp cha mẹ quyết định dựng vợ gả chồng cho con cái,
nhưng không phổ biến lắm. Khi hai bên gia đình đã nhất trí, người con trai sẽ bỏ
của – đỏ văn lần nữa. Ngoài tiền mặt, con trai còn đưa cho con gái khăn, áo, vải
vóc. về phía nhà gái, cha mẹ khi biết ý định của con, phải mời ông cậu đến để
bàn bạc. Khi đã được sự nhất trí của hai bên gia đình thì thông báo cho bà con
trong mu và người đứng đầu làng của mình biết. Sau một thời gian, tùy thuộc
vào sự chuẩn bị lễ vật, nhà trai cử người đến nhà gái xin ngày đón dâu.
Lễ cưới. Khi nhà trai đến nhà gái đón dâu, tuyệt đối không được lên nhà
gái. Con gái đứng đợi ở chân cầu thang để nhận lễ. Lễ vật cưới thường có nồi
đồng, bạc nén, chuỗi hạt cườm và nhất thiết phải có thanh kiếm. Thanh kiêm
trao cho nhà gái phải đưa đàng chuôi ra trước; nếu đưa lưỡi ra trước là dấu hiệu
xoá bỏ cuộc hôn nhân. Sau khi người con gái đã theo đoàn nhà trai về nhà
chồng, nhà gái cử bốn, năm thanh niên đuổi theo, làm như để đi tìm người con
gái đó, rồi cuối cùng nhập vào đoàn người đón dâu với tư cách như những người
đi đưa dâu.
Tại nhà chồng cô dâu phải thực hiện các nghi lễ: lễ rửa chân – pa tin, lễ ăn
cơm chung với chồng – cha chọm và lê bắc bếp. Đoàn tiễn dâu ngủ tại nhà trai,
theo phong tục, ông cậu tặng lại cho đôi vợ chồng trẻ một số vật phẩm như: vải
vóc, quần áo, v.v… Lễ trao tặng phẩm này được tiến hành cùng buối lễ đâm trâu
– chéc ta riệt.
1.2.5.4
Tín ngưỡng trong ma chay.
17
Khi có người chết, buồng ngủ của người đó được phá đi để mang thi thể
ra giữa nhà và đặt nằm ngang nhà, chân hướng về phía cửa. Khi khâm liệm phải
có mặt ông cậu, người tộc trưởng và người đầu làng. Quan tài được làm bằng vỏ
cây- xi lót pa chát, hoặc đan bằng nứa. Cũng có nơi làm quan tài bàng một khúc
gỗ bổ đôi khoét rồng giữa. Thi hài quản trong nhà 2-3 ngày. Trong thời gian
quàn thi hài ở nhà, tộc trưởng phải cho thi hài ăn ba bữa / ngày. Người ta lấy
cơm, thịt, nước, đựng trong một ống nứa, cho vào cái a dăng hoặc tứp đan bàng
nan tre hoặc mây. Có nơi người ta quàn người chết trong nhà rạp ngay trước nhà
ở. Trong thời gian quàn ở rạp, tang chủ mổ trâu, lợn mời bà con, dân làng đem
ăn uống nhảy múa quanh quan tài. Sau ba ngày mới đem đi chôn. Khi khiêng đi
chôn, phải khiêng chân người chết đi trước. Chôn trong nghĩa địa của dòng họ.
Đất nơi đê đào huyệt cũng phải chọn bàng cách vứt trứng gà xuống lúc định đào
huyệt, trứng gà vỡ là đất lành, mới được đào. Người chết được chia của cải như:
quần áo, đồ dùng hàng ngày. Ngoài ra người ta trồng mía, ngô, khoai, môn xung
quanh mộ. Chôn xong, bỏ hẳn, không cải táng. Cũng như nhiều dân tộc khác dân
tộc Bru – Vân Kiều quan niệm có xác, có hồn. Khi người còn sống, hồn ở trên
đỉnh đầu, lúc chết xác sẽ bị phân huỷ, hồn vẫn còn sống nhưng đã ra đi. Vì vậy,
ngay tối hôm làm lễ mai táng, gia đình có người chết phải chuẩn bị cơm, canh,
trầu, nước, cho vào cái a dăng đê tộc trưởng đưa ra mộ rước ma (hồn) về. Gọi là
đi ra mộ, nhưng ông tộc trưởng một tay cầm bó đuốc cháy, tay kia xách cái a
dăng, thường chỉ ra đển đầu làng rồi quay trở lại. Ông làm như vậy trong ba
người tàn tật, thì đó là điềm gở, hôm sau lại phải đi tìm chồ đất khác.
Trong một làng, việc dựng từng ngôi nhà riêng cũng theo một trật tự
nghiêm ngặt, nghĩa là các cây đòn nóc của các ngôi nhà lân cận trong làng
không được đâm vào nhau
Làng (vil) dân tộc Bru – Vân Kiều có nhiều dòng họ (mu) cùng cư trú.
Dân tộc Bru – Vân Kiều có tục kết bạn, kết nghĩa (cà lơ). Những người kết bạn
có thể là cùng dân tộc, nhưng cũng có thể là khác dân tộc. Thủ tục kết bạn là làm
lễ ăn thề. Họ cắt tiết gà vào rượu cùng uống và cùng thề: đói no, vui buồn, hoạn
nạn, sinh tử có nhau. Sau kết nghĩa, đôi bạn gọi nhau bàng Cà lơ, chứ không gọi
nhau bằng tên thật nữa. Đôi bạn cà lơ coi nhau như anh em ruột thịt.
19
Đơn vị xã hội của dân tộc Bru – Vân Kiều là làng (vil). Đứng đầu làng là
già làng. Già làng là người có tuổi, có đạo đức chuẩn mực, giỏi lao động sản
xuất, thông thạo phong tục tập quán dân tộc, có thái độ ứng xử tốt, hòa hợp với
dân làng. Ngoài già làng – người trông coi việc đời thường, trong làng còn có
thầy cúng lo việc liên quan đến tâm linh cho dân làng.
Già làng xử lý mọi bất đồng tranh chấp theo luật tục. Mọi chế tài liên
quan đến luật tục đã được định sẵn.
Già làng về cơ bản có tính cha truyền con nối, nhưng cũng có kết hợp sự
tín nhiệm của người dân trong làng. Dân tộc Bru – Vân Kiều có tục cấm người
lạ vào nhà khi trong nhà đang có cúng bái; khách cũng không được vào làng khi
trong làng có cúng bái chung, hoặc có dịch tễ.
1.2.5.6 Tín ngưỡng về lịch vạn niên
Họ căn cứ vào mặt trăng để định ra các ngày và tên ngày trong tháng.
Quan niệm có những ngày tốt (nhất là mùng 4, 7, 9) và những ngày xấu (nhất là
30 và mùng 1). Mỗi năm, lịch nông nghiệp của dân tộc Bru – Vân Kiều gồm 10
tháng, tiếp đến thời kỳ nghỉ ngơi, chơi bời trước khi bước vào mùa rẫy mới.
Những biến đổi trong tín ngưỡng đã đem lại những lợi ích nhất định
21
•
•
Đơn giản hóa các bước tiến hành trong nghi lễ truyền thống
Tạo thuận lợi cho việc phát triển các phong tục tập quán, đưa những tín ngưỡng
đến gần với người dân một cách phù hợp
2.2.2 Xóa bỏ những hủ tục lạc hậu
• Phá bỏ tục “ Nối dây” để xây dựng gia đình theo nếp sống mới: Theo dân tộc
Bru – Vân Kiều, tục nối dây nghĩa là tiếp tục chắp nối cuộc hôn nhân với nhà
chồng khi chồng đã mất, phải lấy anh/em trai của chồng. Nếu phụ nữ dân tộc
Bru- Vân Kiều nào không tuân theo luật tục thì chịu phạt rất nặng hoặc phải trở
về nhà bố mẹ đẻ của mình mà không được mang theo con cái, của cải.
•
Không còn duy trì việc dùng vỏ cây sui làm khố, ở trần cả nam và nữ như trước
•
kia
Bỏ tục bắt con cô phải lấy con của cậu
Bỏ việc “gửi tiền bỏ của” (thách cưới): Nhà trai gửi tiền “bỏ của” càng nhiều thì
•
truyền thống ngày càng bị mai một. Đặc biệt, trong bối cảnh hội nhập với nhiều
nền văn hóa từ bên ngoài du nhập và ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống tinh thần
của người dân cả vùng sâu và vùng xa.
2.4Đề xuất một số giải pháp về dân tộc cho tín ngưỡng của dân tộc Bru – Vân
Kiều
• Tuyên truyền và nâng cao nhận thức của cán bộ và nhân dân các dân tộc thiểu số
trong tỉnh về phát triển kinh tế nhưng không làm tổn hại đến các giá trị văn hoá
truyền thống.
• Cần phải xác định việc bảo tồn và phát huy các giá trị văn hoá truyền thống
trong xu hướng biến đổi và hội nhập hiện nay là công việc tự thân của chính các
cộng đồng tộc người thiểu số.
• Môi trường bảo tồn, phát huy các giá trị văn hoá truyền thống của các tộc người
chính là làng bản với cấu trúc cộng đồng tự trị, quan hệ xã hội, chuẩn mực đạo
đức, giá trị nhân bản của chính các cộng đồng tộc người thiểu số đó.
• Coi trọng mục tiêu cải thiện đời sống của nhân dân, xoá đói giảm nghèo cho
cộng đồng các tộc người thiểu số nơi đây, để thông qua đó văn hoá truyền thống
có điều kiện để bảo tồn và phát huy giá trị.
• Coi trọng và tiến hành các hoạt động quản lý Nhà nước về văn hoá xã hội.
• Có thể định hướng cho việc bảo tồn và biến đổi văn hoá truyền thống bằng việc
các cán bộ quản lý, các nhà nghiên cứu chọn lựa một mô hình mẫu (một làng
bản điển hình) cho việc bảo tồn và biến đổi văn hoá truyền thống.
23
24
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1, Nhà xuất bản Thông tấn (2014), “54 Dân tộc Việt Nam”