LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thiện bài nghiên cứu này.Tôi xin gửi lời cảm ơn cô T.S.Trần
Thị Hiền –Giảng viên học phần phương pháp nghiên cứu khoa học.Người đã
tận tình giảng dạy và truyền đạt kiến thức cho tôi trong suốt thời gian học tập
tại giảng đường.Người đã luôn tận tình hướng dẫn,giúp đỡ và tạo điều kện để
tôi có thể hoàn thành đề tài nghiên cứu khoa học một cách tốt nhất.Ngoài
ra,tôi cũng xin cảm ơn những người bạn thân thiết dã giúp đỡ,đóng góp những
ý kiến hữu ích cho đề tài nghiên cứu này.
Trong quá trình khảo sát và nghiên cứu tôi còn gặp nhiều khó khăn mặt
khác do trình độ nghiên cứu của tôi còn nhiều hạn chế nên dù cố gắng song đề
tài của tôi không tránh khỏi những hạn chế thiếu sót.Vì thế tôi mong nhận
được sự góp ý nhiệt tình từ cô để đề tài nghiên cứu được hoàn thiện hơn nữa.
Một lần nữa tôi xin chân thành cảm ơn !
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là bài nghiên cứu của tôi trong thời gian qua.Dựa
trên sự nghiên cứu,tìm tòi,tham khảo thông tin trên các phương tiện đại chúng
hay qua tình hình thực tế ở lễ hội Gầu Tào tại xã Pha Long-huyện Mường
Khương-tỉnh Lào Cai để làm ra bài nghiên cứu này.
Hà Nội,ngày tháng năm 2016
Sinh viên
MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN
LỜI CAM ĐOAN
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Đối tượng nghiên cứu: đề tài tập trung nghiên cứu về lễ hội Say Sán trong dịp
-
lễ tết, đồng thời đi sâu nghiên cứu bản sắc văn hóa riêng của dân tộc Mông.
Phạm vi nghiên cứu: người Mông trên địa bàn xã Pha Long, huyện Mường
Khương, tỉnh Lào Cai.
3. Mục đích nghiên cứu
Dựng một bức tranh sinh động, cụ thể về lễ hội của xã Pha Long thông
qua việc mô tả, phân tích các hoạt động cụ thể của lễ hội. Từ đó góp phần vào
việc tìm hiểu những biến đổi của lễ hội ngày nay so với lễ hội truyền thống.
Mặt khác, để khẳng định hơn nữa vai trò của lễ hội tryền thống trong đời sống
sinh hoạt, văn hóa tâm linh của người dân đang sinh sống trên cộng đồng làng
xã nông thôn hiện nay.
4. Giả thuyết nghiên cứu.
Việc giữ gìn và phát triển lễ hội Say Sán là một điều tất yếu.Vì đây là
một lễ hội phản ánh chân thực nhất về đời sống tinh thần của người Mông.
Nghiên cứu tổng quan về lễ hội và vùng đất Pha Long.Từ đó làm cơ sở
nghiên cứu về giá trị,ý nghĩa của lễ hội.Tìm hiểu hiện trạng của lễ hội hiện
nay để đề ra các giải pháp giữ gìn và phát huy những giá trị văn hóa tốt đẹp
trong lễ hội.
5. Lịch sử nghiên cứu.
Việc tìm hiểu một số lễ hội truyền thống của người Mông được các nhà
nghiên cứu rất quan tâm từ trước đến nay. Dân tộc Mông sống chủ yếu ở khu
vực miền núi phía Bắc nước ta nhưng trong quá trình sinh sống họ đã di cư đi
mọi nơi để tạo dựng cuộc sống của riêng mình. Các nhà nghiên cứu Đặng Văn
Lung, Thu Linh đã có đề cập ít nhiều đến lễ hội truyền thống của người Mông
trong cuốn: “Lễ hội truyền thống các dân tộc Việt Nam”, xuất bản năm 1984
bởi nhà xuất bản văn hóa dân tộc. Hay các nhà nghiên cứu Thạch Dương
Phương pháp quan sát
Phương pháp thống kê
Phương pháp tham khảo tài liệu
Sau khi thu thập và phân loại các tài liệu,các nguồn thông tin tôi đã sử
6
dụng phương pháp tổng hợp,phân tích để hoàn thiện đề tài nghiên cứu.
8. Cấu trúc của đề tài.
Ngoài phần mở đầu,kết luận,danh mục tài liệu tham khảo và phụ
lục.Đề tài có cấu trúc 3 chương sau:
Chương 1: TỔNG QUAN VỀ NGƯỜI MÔNG VÀ KHÁI QUÁT
CHUNG VỀ XÃ PHA LONG-HUYỆN MƯỜNG KHƯƠNG-TỈNH LÀO
CAI
Chương 2:TÌM HIỂU VỀ LỄ HỘI GẦU TÀO CỦA NGƯỜI MÔNG
TẠI XÃ PHA LONG
Chương3:GIẢI PHÁP BẢO TỒN VÀ PHÁT TRIỂN GIÁ TRỊ LỄ HỘI
GẦU TÀO CỦA NGƯỜI MÔNG TẠI XÃ PHA LONG
7
NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ NGƯỜI MÔNG VÀ KHÁI QUÁT
CHUNG VỀ XÃ PHA LONG
1.1.
Tổng quan về người Mông
1.1.1. Nguồn gốc và ngôn ngữ
Mông sống ở các nước trên thế giới đều có nguồn gốc từ Trung Quốc. Những
mẫu thuẫn giữa người Hán và người Mông ở Trung Quốc trong lịch sử dẫn tới
sự di cư của người Mông rất nặng, cho đến nay vẫn tồn tại dưới dạng này,
dạng khác.[2]
1.1.1.2.Ngôn ngữ
Cho đến nay chúng ta đều biết đến tiếng Mông là một trong ngôn ngữ
nằm trong hệ ngôn ngữ Miêu –Dao (hay Mông-Miền). Nhưng trên thực tế vấn
đề phân loại theo quan hệ họ hàng của ngôn ngữ này đã từng có nhiều ý kiến
khác nhau. Một số nhà ngôn ngữ học xếp chữ Mông thuộc nhánh Mông-Dao
trong hệ Han-Tạng. Trong đó, vị trí các ngôn ngữ Mông-Dao được định vị
trong hệ Nam Thái. Còn Andre g.Hawdricourt từng bước đem so sánh cả hệ
thống thanh điệu và cả lớp từ vựng giữa các ngôn ngữ hệ Hán-Tạng và hệ
Nam Á. Ông cho rằng”Các ngôn ngữ Miao –Yao hình như tạo nên mối liên hệ
giữa các ngôn ngữ Nam Á và các ngôn ngữ Tạng-Miến”. Đây cũng chính là
cơ sở để một hướng các nhà ngôn ngữ sau này không xếp các ngôn ngữ MiêuDao vào Nam Á hay Hán-Tạng mà là một họ ngôn ngữ độc lập vì những kiến
giải của Haudricourt”không thuần túy là sự so sánh từ vựng mà sự phục
nguyên”, một thao tác thể hiện tính quy luật của nghiên cứu đi trước. Mather
Ratliff đã đưa ra một bảng phân loại các ngôn ngữ Mông-Miền (hayMông-
Dao) khá chi tiết trong đó tác giả đã định vị ngành Mông trắng như sau:
Hệ ngôn ngữ(language family): Mông Miền
Nhóm ngôn ngữ: Mông (Hmongic)
Nhánh: Thuộc cac phuơng ngôn Tứ Xyên-Qúy Châu-Vân Nam, còn gọi là
nhánh Mông phía Tây
Tiểu nhánh: Tứ Xuyên-Qúy Châu-Vân Nam
Phương ngữ: Mông trắng
Trong cuốn từ điển Bách khoa thư ngôn ngữ đã phân các ngôn ngữ
9
10
sát biên gới giữa Việt Nam với Trung Quốc và Lào.
1.2.
Khái quát chung về xã Pha Long
1.2.1.Vị trí địa lí
Xã Pha Long là một xã vùng cao biên giới của huyện Mường Khương
tỉnh Lào Cai-là nơi cư ngụ của đồng bào Mông từ bao đời nay. Diện tích xã
26,5 km2. Xã nằm ở phía Đông Bắc của huyện Mường Khương, cách thị trấn
Mường Khương 20km. Phía Đông và Đông Bắc giáp với Trung Quốc; phía
Nam giáp với xã Dìn Chin; phía Tây giáp với xã Tả Ngài Chồ. Điều kiện kinh
tế-xã hội, quốc phòng-an ninh còn gặp nhiều khó khăn.
1.2.2.Dân số.
Tổng số dân trên địa bàn xã có 5 thành phần dân tộc với 654 hộ và
3574 nhân khẩu trong đó:Dân tộc Mông chiếm 84%,dân tộc nùng chiếm
14%,còn lại là các dân tộc khác.
1.2.3.Đời sống văn hóa
Do xã Pha Long là một xã vùng cao biên giới nên điều kiện kinh tế còn
gặp nhiều khó khăn. Nông dân chủ yếu làm những ngành nghề nông nghiệp
như trồng lúa, ngô, đậu tương…,ít các ngành phi nông nghiệp do điều kiện về
địa hình bị chia cắt, chủ yếu là đồi núi. Mỗi năm chỉ có thể canh tác được một
vụ mùa. An ninh trật tự chưa đảm bảo, vẫn thường hay xảy ra một số tệ nạn
xã hội. Chính vì vậy có ảnh hưởng rất lớn tới đời sống vật chất cũng như đời
sống văn hóa tinh thần của người dân nơi đây. Hơn nữa do trình độ dân trí
chưa cao nên cũng ảnh hưởng rất nhiều tới vấn đề xây dựng văn hóa. Họ vẫn
tin vào tâm linh nhiều hơn là thực tiễn, thường hay tổ chức ma chay cầu cúng
khá lớn và gây tốn kém. Đặc biệt vẫn còn tồn tại chế độ phụ hệ trọng nam
trực diện vào lễ hay chỉ là người dự hội bình thường đều tìm thấy sự hồn
nhiên,hưng phấn nghệ thuật,những xúc cảm chất phát ngây thơ.Nhờ không
khí vừa thiêng liêng,nghiêm trang,vừa vui vẻ,thân ái của ngày hội mà mỗi cá
nhân,mỗi nhóm xã hội,mỗi cộng đồng giảm nhẹ hoặc “cởi tháo” được những
quẫn bách,thậm chí cả những mâu thuẫn,xung đột của cuộc sống thường
nhật.Trên tinh thần ấy,có thể nói giá trị của lễ hội có tác dụng điều chỉnh các
quan hệ xã hội nơi làng xã từ ngàn đời nay.
Lễ hội là sự kiện văn hóa được tổ chức mang tính cộng đồng. Lễ là hệ
thống những hành vi, động tác nhằm biểu hiện sự tôn kính của con người với
thần linh, phản ánh những ước mơ chính đáng của con người trước cuộc sống
mà bản thân họ chưa có khả năng thực hiện. Hội là sinh hoạt văn hóa,tôn
giáo,nghệ thuật của cộng đồng,xuất phát từ nhu cầu cuộc sống.
Lễ hội còn được coi là nguồn sữa mẹ nuôi dưỡng các loại hình nghệ
thuật.Lễ hội hỗn dung các tầng lớp văn hóa của tộc người và các yếu tố văn
hóa của tộc người trong tiến trình lịch sử.Lễ hội đã bảo lưu,nuôi dưỡng và
phát triển nhiều truyền thống văn hóa của cộng đồng các làng xã.Lễ hội còn là
chỗ dựa tinh thần của người nông dân,thể hiện quan niệm đối với cái đẹp và
khát vọng vươn lên cái đẹp của họ.
13
Khái niệm truyền thống
Truyền thống là quá trình liên tục trao đổi thông tin,tư tưởng,tình
cảm...chia sẻ kỹ năng và kinh nghiệm giữa hai hoặc nhiều người nhằm tăng
cường hiểu biết lẫn nhau,tiến tới điều chỉnh hành vi và thái độ phù hợp với
nhu cầu phát triển của cá nhân,của nhóm của cộng đồng xã hội.Về bản
chất,truyền thống là quá trình chia sẻ,trao đổi hai chiều diễn ra liên tục giữa
Lễ hội Gầu Tào là lễ hội truyền thống của cộng đồng dân tộc Mông ở Lào Cai
nói riêng và dân tộc Mông trên khắp thế giới nói chung, nó gắn với niềm tin
về sự ấm no, hạnh phúc.[Hình ảnh 1]
Về lịch sử hình thành thì vào đời nhà Tống (thế kỉ XII) tác giả Lục Du
viết cuốn sách “Lão học am bút kí” đã ghi chép một số phong tục lạ của người
Miêu (H’Mông) có đoạn tả cảnh sinh hoạt ca hát.Người Miêu khi nông nhàn,
từng bọn một hai trăm người, tay nắm tay nhau mà hát, có mấy người thổi
khèn đằng trước dẫn dắt, chỉ lấy rượu trong vại ra uống, không ngừng ca hát,
ca hát thâu đêm ngoài trời đến hôm sau. [Dẫn theo Lương Vũ
Minh,189,tr.126.bg]
Đến thời nhà Minh ( thế kỉ XIV-XVII) sách “ Gia Tình đồ kinh “ ghi
chép lịch sử triều đại nhà Minh cũng dành hẳn một mục chép về phong tục
Miêu dân ở vùng Tây Nam Trung Quốc có ghi: Nam, nữ chưa kết hôn, hàng
năm vào tháng ba tháng tư, tập trung ở sân bãi, ở giữa dựng một cái cột, nhảy
múa và ca hát xung quanh. [189,tr.126.bg]
Vào thời nhà Thanh, Trần Đỉnh viết “Điền kiềm du kí”, ghi chép tại
vùng Vân Nam (Trung Quốc), rất chú ý đến người Mông, ông miêu tả: Tập
tục của người Miêu (Mông) hằng năm vào tháng giêng, thanh niên nam, nữ ăn
mặc đẹp, cùng nhau nhảy múa.[189,tr.126.bg]
Các miêu tả về trang phục, ca hát vào dịp đầu năm của người Mông cổ
đại có lẽ là lễ hội Gầu Tào hoặc chí ít cũng là dấu tích của lễ hội Gầu Tào
ngày nay.
Sách Vân Nam phong vân chí, Miêu tộc Thái hoa sơn (1982) ghi: Thái
hoa sơn còn gọi là Xoa hoa sơn (tức lễ hội Gầu Tào) diễn ra ở sườn đồi bằng
15
phẳng, rộng rãi giữa mấy thôn trại của người Miêu, mỗi khi đến ngày hội,
đồng bào Miêu vượt Châu mà đến vô cùng náo nhiệt.[188,tr.137.bg]
làm lễ chôn cất, thầy cúng cũng hứa với ma sẽ làm lễ ma khô (làm lễ chay) để
tiễn hồn người chết về quê cha đất tổ của người Mông. Nếu đến ngày đó mà
chưa có điều kiện làm thì phải hứa lại, nếu không làm sẽ bị ma quấy rối
không cho làm ăn, làm mặc tốt đẹp. Trong giao tiếp người Mông sống rất tình
nghĩa, đã hẹn làm điều gì thì phải làm cho bằng được không để anh em, bạn
bè mất lòng vì mình.
Chính vì vậy lễ hội Gầu Tào thể hện lời hứa có giá trị cao nhất trong
đời sống một con người, một gia đình nên khi được tổ chức phải chu đáo để
xứng đáng với ước nguyện mà thần linh đã ban cho.
2.2.2. Qúa trình phát triển
Hằng năm lễ hội Gầu Tào thường được tổ chức sau Tết Nguyên Đán
của dân tộc Việt Nam, thời gian diễn ra từ mồng 4 đến mồng 6 tết âm lịch.
Ban tổ chức do xã chỉ đạo và Chủ tịch xã làm trưởng ban. Họ chọn ra một đôi
(một người đàn ông và một người phụ nữ) làm chủ lễ hội, thường là những
người già, có kinh nghiệm và hiểu biết về cách tổ chức lễ hội Gầu Tào. Vì
giới trẻ hiện nay ít người biết đến và hầu như những lễ nghi của lễ hội này
đều đã bị mai một. Lễ hội còn là nơi gắn kết tình hữu nghị giữa hai xã đó là
xã Pha Long với xã Kiều Đầu, huyện Hà Khẩu, tỉnh Vân Nam (Trung Quốc).
Để chuẩn bị cho lễ hội ban tổ chức còn phối hợp với Đồn biên phòng xã Pha
Long, với cán bộ Công an xã và sự giúp đỡ của xã bạn là xã Tả Ngài Chồ, xã
Tả Gia Khâu để làm lực lượng giữ an ninh trật tự trong quá trình diễn ra lễ hội
để đảm bảo cho lễ hội được diễn ra theo đúng dự định. Lễ hội còn mời rất
nhiều các đại biểu, khách quý, cán bộ cấp huyện,tỉnh đến dự và đóng góp ý
kiến. Đặc biệt có sự tham gia đông đảo và nhiệt tình của toàn thể nhân dân
trong xã cùng với các xã bạn, khách du lịch gần xa.
Trước tết Nguyên Đán khoảng hai tuần, người chủ lễ hội phải đi mời
những người phụ giúp vào rừng để chặt cây mai. Tiêu chuẩn cây được chặt
17
18
lễ hội là ngọn núi gần đường, để thuận tiện cho việc thông báo mở lễ hội.
Đỉnh đồi thoai thoải tương đối bằng phẳng, diện tích rộng để thuận tiện cho
việc tổ chức các hoạt động vui chơi của lễ hội. Xung quanh quả đồi cao cũng
phát quang cây cối. Trên đỉnh đồi đào hố chôn cây nêu. Khi đào hố chôn, ông
chủ hội là người đầu tiên cuốc ba nhát cuốc, sau đó mọi người cùng đào hố.
Kích thước hố tùy thuộc vào độ cao to của cây nêu, thường là sâu 1m-1,5m,
hố tròn với đường kính 30cm-40cm. Cây nêu trước khi được dựng sẽ được tỉa
bớt các cành lòa xòa phía dưới gần gốc. Khi dựng cây phải chú ý ngọn cây
hướng về phía Tây-phía mặt trời lặn. Cây mai nhỏ (cây chồng) được buộc sát
vào cây mai to (cây vợ). Hai cây nêu to nhỏ ôm khít vào nhau, gió không lay
chuyển nổi. Sau khi đào hố xong cho cây mai to (cây vợ) vào hố trước rồi đặt
cây mai nhỏ vào sau, lấp đất phải nén chặt để giữ cây không bị đổ. Dựng cây
nêu xong, ông chủ lễ hội cầm một con gà trống, hướng về cây nêu (phía mặt
trời mọc) cầu cúng thần núi mở hội Gầu Tào, có thêm con trai. Sau đó cắt tiết
gà trước cây nêu, bôi tiết và lông cổ gà vào giấy bản đốt dâng thần núi. Chủ
hội còn mổ gà, luộc chín cúng dân thần núi lần thứ hai. Dựng xong cây nêu,
chủ lễ hội và mọi người cùng ra về, cây nêu ở lại vươn mình lên trời xanh.
Phải dựng cây nêu trước phiên chợ cuối năm 2 tuần để nhằm báo tin cho mọi
người biết rằng năm nay vẫn tổ chức lễ hội Gầu Tào. Cây nêu chính là tín
hiệu mời chào toàn thể bà con trong xã và mọi người cùng đón hội.
Ngày mùng 3 tết Nguyên Đán, đoàn xã Pha Long sang xã bạn là xa
Kiều Đầu (Trung Quốc) để giao lưu văn nghệ cùng lễ hội bên đấy, đồng thời
quảng bá và có lời mời người dân bên đó sang Pha Long Gầu Tào.Và hôm
mùng 4 xã bạn lại sang để giao lưu, với những tiết mục văn nghệ hết sức đặc
sắc cùng những lời tâm sự chia sẻ của đồng bào người Mông xã Kiều Đầu.
Ngày mùng 4 tết, Ban tổ chức ra địa điểm cây nêu để mở hội chuẩn bị
làm lễ cúng. Các cơ sở vật chất được chuẩn bị chu đáo và đầy đủ. Khi bà con
Sau phần hát nghi lễ là phần ban tổ chức giới thiệu và nêu lí do mở hội,
20
giới thiệu sự tham gia giao lưu của xã Kiều Đầu rồi trao tặng quà. Tiếp là giao
lưu văn nghệ giữa cụm xã Pha Long bao gồm xã Pha Long, xã Dìn Chin và xã
Tả Ngài Chồ với xã Kiều Đầu (Vân Nam-Trung Quốc). [Hình ảnh 4]Tiết mục
mở đầu là của xã Pha Long, sau đó các tiết mục lần lượt được xen kẽ nhau
biểu diễn.Sau phần văn nghệ là đến phần tổ chức các hoạt động và trò chơi
như : múa khèn,hát đối,kéo co,đẩy gậy,đu quay,đánh quay,múa sinh
tiền...khách thập phương đều tham gia rất nhiệt tình ai thích chơi trò gì thì tìm
đến sân chơi của trò đấy.Các chàng trai cô gái hát đối,ném còn,tung cho nhau
những quả còn đỏ,xanh,vàng trong tiếng khèn đàn môi gọi bạn tình...với rất
nhiều quả còn được ném đi ném lại trông thật đẹp mắt.Trái tim đang yêu sẽ
mách bảo cho họ quả còn nào là của riêng mình.Dọc các bìa rừng hoặc trên
sườn núi các cô thiếu nữ người Mông xúng xính trong bộ váy áothổ cẩm rực
rỡ vẫn còn thơm mùi vải mới.
Đám trọi quay thu hút các em nhỏ và cả những người ở tuổi thanh
niên.Quay to,quay nhỏ đủ cỡ được trưng ra.Con quay được làm bằng gỗ cứng
như gỗ đinh,chò chứ.Ai có con quay nửa cân trở lên đều được mọi người trần
trồ thán phục,coi như loại siêu nặng.Đánh quay có hai hình thức chủ yếu:thi
quay tít và trọi quay.Đầu tiên các bạn trẻ thường thi quay tốt.Một vòng tròn
được vạch trên đất bằng các vạch người đứng thi từ 5m đến 7m,mọi người
đứng dàn hàng ngay ở vạch thi đấu,khoảng cách vừa phải để khi vung tay ra
khỏi va chạm vào nhau.Chủ trò hô lên một tiếng,những con quay lao vút vào
vòng quay phát ra những tiếng kêu vo vo,vù vù,tít tít,con quay nào quay lâu
nhất được mọi người trầm trồ khen ngợi.Con nào nhảy chồm chồm vượt khỏi
vòng tròn rồi đổ lăn chuyển ra ngoài là chưa đạt,chủ nhân của nó tiu nghiu có
khi phải đẽo lại con khác,có người chủ quay còn dùng dây quất vào cạnh
lượn,đường vòng,nước đi nước lùi,khi thì như con nai in trên thảm cỏ khi thì
như cơn gió mát lướt nhẹ qua rừng cây,khi thì như con công đứng chụm
chân,xòe cánh,khi lăn tròn,khi lộn nhào,khi quay tít trên ngón chân cái,chân
vỗ nhau hoặc tay nọ vỗ chân kia...những điệu nhảy mang rõ nét võ
thuật,những tiếng khèn vẫn không ngừng vang vọng.Rượu uống vào bồng
bềnh say đắm,tiếng khèn trở nên tha thiết và réo rắt,thoảng như lời thì thầm
22
của đại ngàn,tiếng róc rách của dòng chảy dưới thung sâutiếng bước chân
ngựa trên đường thiên lý.Vừa thổi khèn vừa nhảy múa,nhưng vòng quay xoay
tròn và dữ dội,bước chân dường như không chạm đất,ngỡ như thể chính ánh
mắt say mê của cô gái đã chắp cánh cho chàng trai bay lên.Kết thúc bài người
múa lại thổi bài mời mọc rồi người khác bước ra sân,ra bái chào,không để cho
tiếng khèn bị đứt quãng.Người vừa biểu diễn xong,bước ra khỏi sân bao giờ
cũng được đón bằng những chén rượu với một sự trịnh trọng,khâm phục và
đặc biệt.
Giữa đám hội là những dải bậc thang dài,những tôp người đang đứng
ngồi náo nhiệt,túm tụm lại thành từng nhóm,náo nức và rộn ràng.Góc xa có
đám cây cầu quay bâp bênh cao tới hai mét,mỗi người đu một bên và
quay,bay chơi vơi giữa đất trời trong tiếng hò reo của mọi người.Một trò chơi
mạo hiểm đòi hỏi sự khoẻ mạnh và lòng dũng cảm.[Hình ảnh 5]
Đám hát tình ca,đối đáp,trao duyên,hát vui thường có mặt những thanh
niên trai gái độ thanh xuân.Họ hát để thi thố tài nghệ và cũng nhân thể tìm
hiểu nhau.Những bài hát thường là sáng tác tức thì.Lãng mạn và thơ mộng
nhất chính là những đám hát giao duyên của những cặp đôi nam thanh nữ tú
trong bản.Giữa bồng bềnh mây ngàn gió núi,các chàng trai áo chàm quấn quýt
bên những cô gái váy áo rực rỡ sắc màu.Họ vừa hát vừa thi thố tài nghệ,vừa
ước mong được tìm hiểu nhau để nên vợ nên chồng sau những ngày hội đầu
nhất là hoạt động của chợ tình.Ở vùng rừng núi này,các bản cách xa nhau,có
khi đi cả ngày đường mới đến nơi hơn nữa người Mông có tập tục sống theo
dòng họ nên lễ hội như thế này nam nữ mới có cơ hội gặp nhau và tìm hiểu
nhau.Hàng trăm nam thanh nữa tú,váo áo thổ cẩm truyền thống đa sắc màu rủ
nhau đi chơi hội.Lúc đầu họ đi riêng,tốp con trai thương chiếm vị trí cao hơn
để quan sát tốp con gái.Khi đã chấm cô nào họ tiến lại gần làm quen.
Ngày thứ nhất chủ yếu tìm kiếm cách làm quen.Ngày thứ hai từng đôi
tách ra đi sang phía bên kia đồi tìm hiểu.Sang ngày thứ ba,thấy nhiều đôi che
24
ô tâm sự,nhưng cũng có nhiều chàng trai chưa tìm được một nửa của
mình,thôi đành hẹn mùa lễ hội năm sau.Qúa trưa ngày thứ ba là thời gian thú
vị nhất,sôi động nhất,đó là kéo vợ.Trên các ngả đường về bản diễn ra cảnh
kéo vợ vui nhộn.Nơi này tiếng hò hét,nơi kia bước chân chạy rầm rập.Có chỗ
một người kéo một người,có chỗ nhiều người kéo một người,lại có chỗ nhiều
người kéo nhiều người.Kéo vợ là một phong tục văn hóa của người
Mông.Kéo là để thể hiện giá trị của người con gái,đó là niềm vui là hạnh
phúc,là hãnh diện vì cô nào xinh đẹp,khỏe mạnh mới được nhiều người
kéo.Kéo còn thể hiện sức mạnh của người con rai.Dù thuận tình làm vợ chồng
hay không họ vẫn kéo.Kéo cho thiên hạ biết mình bị kéo về làm vợ,lỡ sau này
cãi nhau,người vợ có lí để nói “mày kéo tao về chứ tao có kéo mày đâu”.
(Hình ảnh7).Khi kéo về đến nhà,dù cô gái không đồng ý,gia đình nhà trai lập
tức cử người đại diện đến thông báo cho gia đình nhà gái.Ngày hôm sau,nếu
cô gái đồng ý làm dâu nhà này thì bố chồng mang một đôi gà,một lít rượu
sang nhà gái nói chuyện và bàn đám cưới cho đôi trẻ.
Nếu cô gái không đồng ý,thì chàng trai vừa phải canh giữ cẩn thận vừa
ra sức thuyết phục.Gia đình nhà trai,kể cả bố mẹ,mọi người ều thuyết phục cô
gái đồng ý làm dâu.Trong vòng 12 ngày kể từ ngày kéo về,nếu không thấy