MÔI TRƢỜNG LAO ĐỘNG KÍN VÀ SỨC KHỎE NGƢỜI LAO ĐỘNG
TẠI MỘT TRUNG TÂM GIẢI ĐÁP KHÁCH HÀNG KHU VỰC HÀ NỘI
Đoàn Thị Hải Lý và cs
Hà Nội, 2011
1
1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Những năm gần đây, nhiều tòa nhà được thiết kế theo mô hình giảm thiểu lượng
không khí bên ngoài vào nhằm tiết kiệm năng lượng làm lạnh hoặc làm ấm không khí.
Cửa sổ và cửa ra vào được thiết kế để có thể đóng chặt nhất để không có một lượng khí
nào từ ngoài có thể vào phòng và như vậy con người phải tái sử dụng lại không khí. Thêm
vào đó, nhiều chất liệu mới được sử dụng trong xây dựng, những chất liệu này có chứa
các chất độc hóa học như formaldehyde. Sự gia tăng sử dụng các loại thiết bị máy móc
cũng góp phần làm ô nhiễm không khí trong phòng, chẳng hạn như ô zon từ máy
photocopy, tiếng ồn từ máy in và điện từ trường từ các màn hình máy tính. Bản thân hệ
thống điều hòa có thể chứa các chất gây ô nhiễm và vi khuẩn gây bệnh. Bụi bẩn vào cùng
với luồng khí được lấy vào hoặc đã có sẵn từ khi lắp hệ thống này. Hơn thế nữa, hệ thống
không được thường xuyên làm sạch và bảo dưỡng. Sự thiếu không khí từ ngoài môi
trường cùng với các chất ô nhiễm trong phòng không được thoát ra ngoài như một hệ quả
gây ra các triệu chứng của hội chứng nhà kín như: đau đầu, đờ đẫn, thiếu linh hoạt, thiếu
tập trung, kích thích mắt, mũi, họng và da....[21].
Mặc dù không đe dọa đến tính mạng con người hoặc gây ra các bệnh mạn tính,
nhưng hội chứng nhà kín đã thực sự là một vấn đề nghiêm trọng với những gì mà nó tác
động đến con người: giảm hiệu quả lao động của nhân viên, tăng tỷ lệ người nghỉ ốm,
tăng tỷ lệ người phàn nàn về môi trường [5]. Tuy nhiên ở Việt Nam cho tới nay chưa có
một nghiên cứu nào về môi trường lao động kín và sự ảnh hưởng của nó tới sức khỏe
người lao động. Chính vì vậy mà chúng tôi đã tiến hành đề tài nghiên cứu này nhằm:
1-Đánh giá thực trạng điều kiện môi trường lao động kín của Trung tâm.
2-Xác định tỷ lệ người lao động mắc hội chứng nhà kín.
* Carbon dioxide (cacbonic): cacbonic (CO2) là một thành phần của không khí, thông
thường thường nồng độ CO2 chiếm khoảng 0,03% thành phần của không khí và chiếm
khoảng 5% trong thành phần khí thở ra của con người. Nồng độ khí CO 2 tăng cao ở
những phòng thiếu sự thông thoáng khí. Do đó nó được sử dụng để đánh giá hiệu quả
thông thoáng khí. Nồng độ CO2 cao hơn 800ppm cho biết căn phòng đó thiếu sự thông
3
thoáng khí. Nồng độ CO2 quá cao sẽ gây đau đầu và lơ mơ, sau đó khó thở, vã mồ hôi,
hoa mắt và run.
* Cacbon monoxide(CO): Quá trình đốt cháy thường sinh ra CO do đó chất này có thể
thấy trong khói thuốc lá, khói bếp và khói xe. CO làm cho oxy không gắn kết được với
hemoglobin của tế bào máu gây thiếu oxy cho cơ thể, đặc biệt là não. Dấu hiệu sớm của
ngộ độc CO là đau đầu, ở nồng độ cao hơn ở một số người có thể thấy hoa mắt, buồn nôn
và nôn. Nồng độ gây ngộ độc ở những người hút thuốc lá cao hơn những người không hút
thuốc lá do sự thích nghi. Nồng độ CO được khuyến cáo dưới 9ppm.
* Detergent dust (chất tẩy rửa): các chất tẩy rửa để làm sạch thảm còn sót lại có thể gây
kích thích hô hấp như ho, khô họng, khó thở, ngạt mũi và đau đầu. Mức độ ảnh hưởng
phụ thuộc vào loại chất tẩy rửa được sử dụng.
* Fibreglass (sợi thủy tinh): được sử dụng làm chất cách ly. Những sợi lớn có thể gây
ngứa và kích thích da, những sợi nhỏ được cho là yếu tố nguy cơ gây các bệnh về phổi và
ung thư giống như amiăng.
* Formaldehyde: là một chất không màu, mùi cay, có trong rất nhiều loại sản phẩm
khác nhau, bao gồm vật liệu cách nhiệt, thiết bị văn phòng, chất gắn thảm, nhựa các loại,
sợi tổng hợp, sơn và một số loại giấy...Ở nồng độ 2-3ppm, formaldehyd gây kích thích
mắt, mũi, họng của hầu hết những người phơi nhiễm formaldehyd. Ở nồng độ 4-5ppm, nó
gây kích thích mạnh hơn, kết hợp với ngủ lơ mơ, mất trí nhớ, hắt hơi và xuất hiện mày
đay ở da. Ở nồng độ10-20ppm gây khó thở nặng, nóng mắt, mũi và họng. Formaldehyd
tăng nguy cơ ung thư, kém ngủ, giảm trí nhớ, thiếu sự tập trung...
* Hydrocacbons: là hợp chất hóa học của hydro và cacbon, được phát hiện có ở trong
* Khói thuốc lá: Khói thuốc lá bao gồm cacbon monoxide, cacbon dioxide, nicotine,
formaldehyde,
acetaldehyde,
acrolein,
ammonia,
hydrogen
cyanide,
nitrogen
oxides...Nhiều chất trong những chất này rất độc với cơ thể, có thể gây những triệu chứng
tương tự những triệu chứng của hội chứng nhà kín: kích thích mắt, mũi họng, ho, khó thở,
sưng và đau họng, đau đầu, nôn mửa và hoa mắt chóng mặt. Phơi nhiễm một thời gian dài
có thể gây ung thư và các bệnh tim mạch.
* Vinyl chloride: thường có trong các sản phẩm nhựa như ống nhựa và thảm...Nó có
thể gây ung thư da và phổi...
Các chất hiếm gặp khác như: Photochemical smod, radon, solvent, sterilant gases,
methanol...cũng được thống kê là những nguyên nhân có thể gây hội chứng nhà kín.
2.2.2. Hệ thống điều hòa:
5
Hệ thống điều hòa xử lý không khí để kiểm soát nhiệt độ, độ ẩm, độ sạch của không
khí và sự phân phối không khí.
Nguồn cấp khí: Không khí được lấy từ bên ngoài qua bộ phận cấp khí. Vị trí đặt bộ
khuếch tán) được đặt trên tường hoặc trần. Số quạt phụ thuộc vào kích thước của phòng
hoặc khu vực được phân chia. Các lỗ cấp khí quyết định dung tích, tốc độ và hướng của
luồng không khí vào khu vực làm việc. Ngay cả khi lượng khí không đủ cung cấp cho
phòng thì cũng không có nghĩa là không khí không đến được mọi nơi một cách đồng đều.
Những đồ dùng có độ cao hơn 5 feet có thể ngăn cản sự lưu thông của không khí nên khi
sử dụng đồ dùng cao thì khu vực bị ngăn cách bởi đồ dùng đó phải có ít nhất một lỗ cấp
và thoát khí. Hệ thống điều hòa phải được kiểm tra một lần khi các đồ dùng đã được sắp
đặt vào phòng để đảm bảo rằng không khí được lưu thông đúng như thiết kế ban đầu.
Khí thải: khí thải cũng quan trọng như khí cấp vào. Không khí lưu thông trong phòng
được trở lại qua lỗ thoáng khí trên trần. Phần lớn lượng khí thải quay trở lại buồng trộn,
một phần nhỏ sẽ ra khỏi tòa nhà qua lưới thoáng khí. Không khí có thể bị kéo trực tiếp từ
lỗ cấp khí tới lỗ thoát khí do đó con người không nhận được khí tươi. Để duy trì sự lưu
chuyển của không khí, không khí trong tòa nhà có hệ thống điều hòa thường hoạt động
dưới áp lực không khí dương nhẹ. Điều này có nghĩa là áp lực không khí trong tòa nhà
lớn hơn áp lực không khí bên ngoài và không khí có xu hướng dịch chuyển ra ngoài. Khi
hệ thống điều hòa bị hỏng, áp lực không khí trong tòa nhà âm hơn thì không khí bên
ngoài sẽ tràn vào khi cửa sổ mở ra. Hậu quả của nó là không khí ô nhiễm không thể ra
khỏi tòa nhà.
2.2.3. Chất lượng không khí và sự thoải mái:
Trong môi trường thoải mái, không có sự dao động đáng kể về không khí, không gió
lùa, không có mùi thơm... Các yếu tố chính ảnh hưởng tới sự thoải mái bao gồm: nhiệt độ,
độ ẩm và sự lưu chuyển của không khí. Những yếu tố này tác động qua lại lẫn nhau. Nếu
không khí có độ ẩm cao thì nhiệt độ cố cảm giác lạnh hơn ở điều kiện không khí khô. Nếu
tốc độ lưu chuyển không khí cao thì nhiệt độ cũng có cảm giác mát hơn ở nơi có độ lưu
chuyển không khí thấp.
Mỗi người có cảm giác thoải mái ở những điều kiện khác nhau: ở cùng một nhiệt độ có
người có cảm giác quá nóng trong khi người khác lại thấy thoải mái. Nhìn chung phụ nữ
có xu hướng thích nhiệt độ cao hơn đàn ông một chút. Nhưng nhiều vấn đề trong phòng
7
- Khí tươi: Có bốn lý do của việc cấp khí tươi là:
8
+ Để thở: cung cấp oxy và làm loãng nồng độ carbon monoxide.
+ Làm loãng và đẩy lui không khí không trong sạch được sản sinh bởi những người có ở
trong phòng..
+ Để làm đẩy lui không khí quá nóng và duy trì điều kiện thoải mái
+ Để làm loãng các chất gây ô nhiễm không khí khác như bụi, khói...
Một vài tiêu chuẩn đã được đưa ra để đảm bảo độ thông thoáng khí trong phòng. Những
chuẩn này chủ yếu dựa vào lượng không khí cần để làm loãng khói thuốc và mùi thơm
của cơ thể con người. Khuyến cáo của viện thiết kế nhà ở của Anh năm 1986 (CIBSE)
đưa ra là tối thiểu 8 lít một giây một người, những nơi có nhiều người hút thuốc lá thì
lượng khí tươi cần cung cấp lên tới 25 lít một giây một người.
* Bức xạ nhiệt: Bức xạ nhiệt từ rất nhiều nguồn khác nhau có sự ảnh hưởng quan trọng
tới nhiệt độ trong phòng. Bức xạ mặt trời qua cửa sổ và nhiệt từ các nguồn chiếu sáng
thiết bị hiển thị (VDU) làm tăng nhiệt độ trong phòng. Một người làm việc văn phòng tỏa
ra nguồn nhiệt tương đương với 140 watts trong khi đó một VDU (tin học) có thể tỏa ra
một lượng nhiệt lên tới 500watts. Khi một dụng cụ mới được đưa vào sử dụng trong
phòng người ta thường không lưu ý đến việc phải nâng cấp hệ thống thông thoáng khí để
có thể đáp ứng được với nhu cầu mới.
* Tiếng ồn: tiếng ồn quá cao xâm nhập là những âm thanh không mong đợi có thể là đơn
độc hay là tiếng ồn liên tục. Nhưng tiếng ồn có thể quá yên tĩnh đến mức gây đau đầu,
tiếng ồn quá yên tĩnh cũng có thể gây lơ đãng.
Có nhiều nguồn phát sinh tiếng ồn trong tòa nhà: tiếng âm thanh từ một số đèn chiếu
leon, tiếng ồn từ hệ thống điều hòa, tiếng ồn từ dụng cụ văn phòng như máy in, máy
photocoppy, tiếng người nói. Ngoài ra còn có tiếng ồn từ ngoài tòa nhà. Sức chịu đựng
tiếng ồn của người này cũng khác với sức chịu đựng của người kia vì sự trải nghiệm qua
các âm thanh là khác biệt nhau. Dụng cụ điều hòa có thể gây ồn nếu chức năng của nó
kém hoặc do không được bảo dưỡng thường xuyên. Tốc độ không khí qua lỗ cấp khí
2.3. Biện pháp phòng ngừa và kiểm soát hội chứng nhà kín [5].
Chúng ta cần phải xem xét nguyên nhân của Hội chứng nhà kín ở 4 mức độ:
* Xây dựng: gồm thiết kế, xây dựng và vị trí đặt tòa nhà, vị trí kê đồ đạc và các dịch vụ
đi theo tòa nhà.
* Không khí trong tòa nhà: cấu trúc của tòa nhà và vị trí xây dựng gián tiếp ảnh hưởng
tới điều kiện không khí trong tòa nhà.
10
* Chủ sở hữu và vận hành tòa nhà: họ là người quản lý lực lượng lao động và người
quyết định việc bảo dưỡng hệ thống cấp khí của tòa nhà.
* Từng cá nhân trong tòa nhà: dấu hiệu hội chứng nhà kín rất khác nhau giữa các cá
nhân. Nó phụ thuộc vào nhiều yếu tố bao gồm: khả năng tự kiểm soát các yếu tố môi
trường, các nhân tố về quy định của cơ quan, cách cư xử, sức khỏe thể chất và tinh thần
của từng người...
Việc xác định nguyên nhân cụ thể gây ra hội chứng nhà kín là rất khó khăn. Hiện nay
chúng ta chỉ có thể xác định các yếu tố nguy cơ và phòng tránh chúng.
11
2.3.1. Trước khi xây dựng
Để phòng tránh được hội chứng nhà kín một cách hiệu quả, tất cả các bên liên quan
cần hợp tác với nhau, phần vì sự ràng buộc bởi luật pháp hiện hành, phần vì nguyên tắc
chỉ đạo và mong muốn xây dựng một tòa nhà có chất lượng tốt. Những yếu tố sau đây cần
được cân nhắc kỹ lưỡng trước khi xây dựng:
- Kiểu kiến trúc và vị trí xây dựng: Phòng không có vách ngăn.
Ánh sáng tự nhiên yếu
Không khí bên ngoài bị ô nhiễm
- Dịch vụ của tòa nhà:
2.3.4. Giải quyết vấn đề:
Phòng ngừa bao giờ cũng tốt hơn là cứu chữa. Tuy nhiên chúng ta cũng không thể
ngăn ngừa được hết các tình huống. Nhiều trường hợp vẫn xảy ra hội chứng nhà kín.
Chúng ta phải tiến hành nghiên cứu để giải quyết các vấn đề này.
2.3.4.1. Chẩn đoán:
Trong nhiều điều tra, những người sử dụng có thể xem như họ đã có chẩn đoán.
Những cảm giác này dễ hiểu nhưng có thể bị nhầm lẫn. Những phàn nàn tự phát đó phải
được điều tra chính thức mới có thể quyết định được.
Bộ câu hỏi khảo sát môi trường là phương tiện chẩn đoán chuẩn.
2.3.4.2. Cứu chữa:
Các biện pháp cứu chữa phải được xác định dựa trên các bằng chứng xác thực đã
được chứng minh tuy nhiên có một số cách tiếp cận đặc biệt tới vấn đề chất lượng không
khí trong phòng có giá trị thảo luận. Có bốn cách tiếp cận hiệu quả sau:
- Tăng cường các biện pháp thông thoáng khí.
- Thông thoáng khí hiệu quả hơn: thông thoáng khí có hiệu quả tới từng khu vực của tò
nhà, đặc biệt lưu ý các khu vực bị tách biệt.
- Sử dụng máy làm sạch không khí
- Biện pháp tổ chức: cấm hút thuốc lá, thay thế các thiết bị và các vật liệu tốt hơn, ít thải
ra các chất độc hại hơn.
Trong thực tế, khi giải quyết những vấn đề phàn nàn về chất lượng không khí thì
các kỹ sư chịu trách nhiệm thực hiện các dịch vụ của tòa nhà phải là những người hành
động đầu tiên và các hoạt động ưu tiên sau được đề xuất:
- Đảm bảo các dịch vụ của tòa nhà là sạch
- Kiểm tra xem các hệ thống có được bảo dưỡng thường xuyên theo định kỳ không.
- Điều chỉnh hoạt động hoặc sửa chữa hệ thống cho phù hợp.
13
Các hoạt động trên đây có thể không giải quyết triệt để các vấn đề nhưng chúng
tòa văn phòng. Kết quả nghiên cứu không khẳng định được liệu có sự liên quan nào giữa
các triệu chứng được báo cáo với số ngày nghỉ ốm [18].
Hall et al (1991) nghiên cứu đánh giá tác động của hội chứng nhà kín tới khả năng
đáp ứng với công việc, làm cho phải nghỉ việc hoặc bỏ việc sớm. Kết quả cho thấy: Về
việc giảm khả năng đáp ứng với công việc: hơn một phần ba số người thỉnh thoảng có
giảm khả năng đáp ứng với công việc, 8% thường xuyên hoặc luôn luôn; triệu chứng của
hội chứng nhà kín là nguyên nhân phải nghỉ việc có 3% [9].
Hawkins & Wang (1991) nghiên cứu môi trường làm việc và hội chứng nhà kín.
Điều tra nghiên cứu ngang trên 15 tòa nhà, trong đó 6 tòa nhà được thông thoáng tự
nhiên, 1 thông thoáng bằng máy và 8 sử dụng hệ thống điều hòa. Tỷ lệ mắc các triệu
chứng của hội chứng nhà kín trong nhóm hút thuốc lá cao hơn ở nhóm không hút thuốc lá
nhưng không có ảnh hưởng tới nhóm hút thuốc lá thụ động [10].
R.Bhlah, A.H.Subratty (2002) nghiên cứu về mối liên quan giữa chất ô nhiễm sinh
học và các triệu chứng của hội chứng nhà kín trong các tòa văn phòng ở Mauritius. Kết
quả nghiên cứu cho thấy sự ô nhiễm nấm có liên quan tới hội chứng nhà kín [22].
Stephen T. Holgate & J. Andrew Grant (2008) nghiên cứu các yếu tố nguy cơ đối
với hội chứng nhà kín và các biện pháp ngăn ngừa. Kết quả nghiên cứu cho thấy hội
chứng nhà kín có liên quan với cả đặc điểm các nhân và các yếu tố nguy cơ của môi
trường [20].
Milica Gomzi, Jasminka Bobic và đồng nghiệp (2008) nghiên cứu tìm hiểu mối
liên quan giữa các dấu hiệu của hội chứng nhà kín với các yếu tố môi trường, tâm lý và
thể chất của người lao động. Nghiên cứu cắt ngang thực hiện trên 171 phụ nữ đang làm
việc trong các tòa văn phòng có sử dụng điều hòa và cả tòa văn phòng thoáng khí tự
nhiên. Kết quả cho thấy cả sức khỏe thể chất và kiểu thông thoáng khí của tòa nhà đều có
liên quan tới hội chứng nhà kín [17].
Dan Norback – Klas Nordstrom (2008) nghiên cứu về mối liên quan giữa hội
chứng nhà kín và sự trao đổi không khí, CO2, nhiệt độ phòng và độ ẩm tương đối ở các
phòng máy vi tính của một trường đại học. Kết quả nghiên cứu cho thấy nhiệt độ phòng
các phòng làm việc.
3.4. Chọn mẫu:
Mẫu cho khảo sát môi trường (13-15m2 lấy một điểm đo) và mẫu cho điều tra
phỏng vấn lấy theo các điểm đo tương ứng. Cỡ mẫu: 316
3.5. Xử lý số liệu:
Số liệu được xử lý trên máy tính bằng phần mềm SPSS
17
4. KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN
4.1. Môi trƣờng lao động của Trung tâm:
Bảng 1: Kết quả đo vi khí hậu
Nhiệt độ (t0)
T Phòn
T
g
n
Min–Max
% không
đạt TCVS
Độ ẩm (%)
Tốc độ gió (m/s)
2
II
110
26,4-29,4
0
44,1-56,6
0
0,04-0,5
94,55
3
III
70
24,7-29,4
0
43,8-52,2
0,4-2,0 m/s
Kết quả đo vi khí hậu (bảng 1) cho thấy: không có mẫu đo nhiệt độ và độ ẩm
không đạt tiêu chuẩn vệ sinh (TCVS) ở cả 4 phòng. Riêng tốc độ gió có tỷ lệ số mẫu
không đạt TCVS rất cao. Tỷ lệ này ở các phòng I, II, III và IV lần lượt là: 97,57%,
94,55%, 95,72% và 92,75%, sự khác biệt này không có ý nghĩa thống kê.
Bảng 2: Kết quả đo ánh sáng, tiếng ồn và bụi
Tiếng ồn (dBA)
%
%
không
không
n Min-Max
n Min–Max
đạt
đạt
TCVS
TCVS
41
190-567
7,32 05 55-76,8
40,00
110 140-555
27,28 11 60-83,6
37,00
70
142-543
31,34 09 61,1-83,6 77,78
95
05 0,27-0,30
0
11 0,18-0,24
0
09 0,18-0,26
0
18
0,3-0,4
0
≤ 8 mg/m3 (Bụi hữu cơ
và vô cơ không thuộc
loại 1,2,3)
Kết quả đo ánh sáng, tiếng ồn và bụi (bảng 2) cho thấy: Tất cả các mẫu đo nồng độ
bụi hô hấp đều đạt TCVS; Tỷ lệ số mẫu đo ánh sáng không đạt TCVS ở các phòng I, II,
III, IV lần lượt là: 7,32%, 27,28%, 31,34%, 22,11%, sự khác biệt này không có ý nghĩa
18
thống kê; Tỷ lệ số mẫu đo cường độ tiếng ồn không đạt TCVS khá đồng đều ở các phòng
I, II và IV: 40%, 37% và 38,89%, riêng phòng III có số mẫu không đạt TCVS cao hơn
hẳn: 77,78%.
Bảng 3: Kết quả đo nồng độ CO2
TT
Phòng
n
1
100
4
IV
95
1140,53±244,91
100
≤ 900mg/m3 (458ppm)
TCVS 3733
ppm 2500
2126,23
2000
1500
Nång ®é CO2 trung b×nh
cña tõng khu vùc
1461,17
1140,53
1000
Safety and Health Administration) (≤ 600ppm). Điều này chứng tỏ rằng các phòng làm
việc của trung tâm thiếu sự thoáng khí.
4.2. Tình hình sức khỏe của công nhân
4.2.1. Đặc điểm về tuổi, giới của đối tượng nghiên cứu
Biểu đồ 2: Đặc điểm về tuổi, giới của đối tượng nghiên
cứu
Hầu hết các đối tượng nghiên cứu là nữ (85%) và có độ tuổi còn rất trẻ: 53% có độ
tuổi từ 18-25 tuổi và 44% có độ tuổi từ 25-30 tuổi. Đây là độ tuổi có sức khỏe, có độ thích
nghi và chống chọi với sự khắc nghiệt của các yếu tố môi trường tốt nhất.
4.2.2. Tỷ lệ mắc hội chứng nhà kín
Kết quả điều tra qua bộ câu hỏi về triệu chứng của hội chứng nhà kín (bảng 4) cho
thấy cả 4 phòng làm việc đều có tỷ lệ mắc rất cao. Triệu chứng phổ biến nhất là họng khô
hoặc đau, tiếp đến là triệu chứng da khô, đau đầu, ngạt mũi, mắt bị kích thích. Triệu
chứng ít gặp nhất là cảm giác buồn nôn và đau lưng. Kết quả này phù hợp với kết quả
nghiên cứu của các tác giả khác như: Burge, P.S và Mendell, M.J [1] . Tuy nhiên không
tìm thấy sự khác biệt có ý nghĩa thống kê ngoại trừ triệu chứng da khô và đau lưng. Các
chỉ số này cao ở phòng I và III (82,9%, 80,5% và 97,1%, 88,6%) phù hợp với tỷ lệ số
20
mẫu đo tốc độ gió đạt không đạt TCVS (bảng 1) ở 2 phòng này là cao nhất (95,57% và
95,72%).
Bảng 4: Triệu chứng của hội chứng nhà kín
Stt
Phòng I
%
p
1
Họng khô hoặc đau
34
82,9 100
90,9
61
87,1
84
88,4 > 0,05
2
Da khô
34
82,9
45,3 > 0,05
4
Mắt bị kích thích
32
78,0
85
77,3
55
78,6
81
85,3 > 0,05
5
Khô giác mạc
31
75,6
68,4 > 0,05
7
Ngạt mũi
29
70,7
89
80,9
58
82,9
76
80,0 > 0,05
8
Khó thở
25
61,0
35,8 > 0,05
10 Đau đầu
33
80,5
91
82,7
58
82,9
79
83,2 > 0,05
11 Hoa mắt chóng mặt
27
65,9
75
68,2
63,4
90
81,8
58
82,9
75
78,9 > 0,05
14 Đờ đẫn thiếu linh hoạt 26
63,4
55
50,0
45
64,3
58
61,1 > 0,05
88,6
52
54,7 < 0,01
Mắc hội chứng nhà kín
(có từ môt triệu chứng trở 40 97,56 109 99,09
69 98,57
93 97,89 > 0,05
lên)
Tỷ lệ mắc hội chứng nhà kín ở các phòng là khác nhau (Phòng I: 97,56%, phòng
II: 99,09%, phòng III: 98,57% và phòng IV: 97,89%) nhưng không có ý nghĩa thống kê .
Tỷ lệ mắc này là khá cao so với nghiên cứu của các tác giả Willson và Hedege (1987)
21
[19]. Điều đặc biệt đáng chú ý ở đây là tỷ lệ mắc hội chứng nhà kín tăng cao ở những
phòng có nồng độ CO2 cao hơn (biểu đồ 2). Điều này chứng tỏ độ thoáng khí của phòng
làm việc là một trong những yếu tố quan trọng ảnh hưởng tới hội chứng nhà kín.
220,000
2126,23
200,000
180,000
II
III
IV
Phòng
Biểu đồ 2: nồng độ CO2 trung bình và tỷ lệ mắc hội chứng
nhà kín
22
5. KẾT LUẬN
- Nhiều yếu tố môi trường không đạt tiêu chuẩn vệ sinh lao động: tốc độ gió, ánh
sáng, tiếng ồn và nồng độ khí CO2. Tỷ lệ số mẫu đo không đạt TCVS : tốc độ gió là hơn
90% ở mỗi phòng làm việc; ánh sáng ở cácphòng I, II, III và IV lần lượt là:7,32%,
27,28%, 31,43% và 22,11%; tiếng ồn: 40%, 37%, 77,78% và 38,89%; nồng độ khí CO2:
100% ở mỗi phòng làm việc.
- Nồng độ khí CO2 trung bình ở các phòng làm việc rất cao, vượt quá TCVSLĐ từ
1,6-4,6 lần và có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa các phòng (I: 745,01±144,32ppm;
II: 2126,23±480,95ppm; III: 1461,17±132,89ppm; IV: 1140,53±244,91ppm).
- Tỷ lệ người mắc hội chứng nhà kín ở các phòng I, II, III và IV lần lượt là: 97,6%,
99,1%, 98,6%, 97,9%, sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê. Tỷ lệ mắc này tăng cao ở
những phòng có nồng độ khí CO2 trung bình cao hơn.
23
6. Hedge, A (1984). Suggestive evidence for a relationship between office design and
self-reports of ill-health among office workers in the United Kingdom, Journal of
Archiytectural and Planning Research, 1, p: 163-174.
7. Hede, A (1989). Environmental conditions and health in offices, International Reviews
of Ergonomics, 3, p: 87-110.
8. Hodgson, M J, Arena, V, Thorn, A, Palmer, R, Burge, H, Spengler, J, Turner, W, Fink,
J N and Hemry, D (1990). Allergic tracheobronchitis in Alaska. Proceedings of the 5th
International Conference on Indoor Air Quality and Climate, Toronto, Canada. Ottawa:
Canada Mortgage and Housing Corporation, 1, p: 197-202.
9. Hall, H I, Leaderer, B P, Cain, W S and Fidler, A T (1991). Influence of buildingrelated symtoms on self-reported productivity. Proceeding of IAQ ’91-Healthy Building,
Washington DC, USA. Atlata: American Society of Heating, Refrigerating and AirConditioning Engineers, Inc, p: 33-35.
25