VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯
LƢU HOÀI BẢO
TỘI GIẾT NGƢỜI TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH NGHỆ
AN: TÌNH HÌNH, NGUYÊN NHÂN VÀ
GIẢI PHÁP PHÒNG NGỪA
Chuyên ngành: Tội phạm học và phòng ngừa tội phạm
Mã số: 62.38.01.05
LUẬN ÁN TIẾN SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. Phạm Văn Tỉnh
Hà Nội - 2017
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các dữ liệu,
kết quả nghiên cứu trong luận án là trung thực và chưa từng công bố trong bất
kỳ công trình nghiên cứu nào khác.
Tác giả luận án
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ........................................................................................................................... 1
CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ
TT
Từ giải nghĩa
1
BLHS
Bộ luật hình sự
2
Nxb
Nhà xuất bản
3
PGS
Phó giáo sư
4
TAND
Tòa án nhân dân
5
HĐND
Hội đồng nhân dân
DANH MỤC BẢNG SỐ LIỆU VÀ BIỂU ĐỒ
Bảng số liệu - Biểu đồ 2.1a. Mức độ tổng quan tuyệt đối và tương đối của tình
hình tội giết người trên địa bàn tỉnh Nghệ An giai đoạn 2006-2016
Bảng số liệu - Biểu đồ 2.1b. Mức độ tổng quan tuyệt đối và tương đối của tình
hình tội giết người trên địa bàn tỉnh Nghệ An giai đoạn 2006-2016
Bảng số liệu - Biểu đồ 2.2. Cơ số tội giết người trên địa bàn tỉnh Nghệ An
trong 10 năm 2006 – 2016
Bảng số liệu - Biểu đồ 2.3.a. Cơ số vụ án giết người trên địa bàn Nghệ An so
với cả nước, Hà Tĩnh, Thanh Hóa, Hà Nội và TP. HCM
Bảng số liệu - Biểu đồ 2.3.b. Cơ số bị cáo giết người trên địa bàn Nghệ An so
với cả nước, Hà Tĩnh, Thanh Hóa, Hà Nội và TP. HCM
Bảng số liệu - Biểu đồ 2.4.a. Mức độ của tình hình tội giết người trên địa bàn
tỉnh Nghệ An giai đoạn 2006- 2016 xét trong nhóm tội “xâm phạm tính mạng,
sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con người”
Bảng số liệu - Biểu đồ 2.4.b. Mức độ của tình hình tội giết người trên địa bàn
tỉnh Nghệ An giai đoạn 2006- 2016 xét trong nhóm tội “xâm phạm tính mạng,
sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con người”
Bảng số liệu - Biểu đồ 2.5.a. Số liệu mức độ của tình hình tội giết người theo
vụ trên địa bàn tỉnh Nghệ An giai đoạn 2006 - 2016 xét theo mức độ hành vi
phạm tội
Bảng số liệu - Biểu đồ 2.5.b. Số liệu mức độ của tình hình tội giết người theo
bị cáo trên địa bàn tỉnh Nghệ An giai đoạn 2006 - 2016 theo mức độ hành vi
phạm tội
Nghệ An từ năm 2006 đến năm 2016 theo thành phần dân tộc
Bảng số liệu - Biểu đồ 2.20.a. Cơ cấu tình hình tội giết người trên địa bàn tỉnh
Nghệ An từ năm 2006 đến năm 2016 theo đặc điểm giới tính nạn nhân
Bảng số liệu - Biểu đồ 2.20.b. Cơ cấu tình hình tội giết người trên địa bàn tỉnh
Nghệ An từ năm 2006 đến năm 2016 theo đặc điểm độ tuổi nạn nhân
Bảng số liệu - Biểu đồ 2.20.c. Cơ cấu tình hình tội giết người trên địa bàn tỉnh
Nghệ An từ năm 2006 đến năm 2016 theo trình độ học vấn nạn nhân
Bảng số liệu - Biểu đồ 2.20.d. Cơ cấu tình hình tội giết người trên địa bàn tỉnh
Nghệ An từ năm 2006 đến năm 2016 theo đặc điểm nghề nghiệp nạn nhân
Bảng số liệu - Biểu đồ 2.20.e. Cơ cấu tình hình tội giết người trên địa bàn tỉnh
Nghệ An từ năm 2006 đến năm 2016 theo đặc điểm mối quan hệ nạn nhân và
người phạm tội trong số nạn nhân từng năm
Bảng số liệu - Biểu đồ 2.21. Cơ cấu tình hình tội giết người trên địa bàn tỉnh
Nghệ An từ năm 2006 đến năm 2016 theo hình thức phạm tội
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Nghệ An là tỉnh nằm ở trung tâm vùng Bắc trung bộ, đất rộng, người đông với
diện tích 16.490,25 km2, lớn nhất cả nước; dân số hơn 3 triệu người đứng thứ tư cả
nước; là nơi hội tụ đầy đủ các tuyến giao thông đường bộ, đường sắt, đường hàng
không, đường biển, đường thủy nội địa; điều kiện tự nhiên phong phú, đa dạng như
một Việt Nam thu nhỏ. Phía bắc giáp tỉnh Thanh Hóa, phía nam giáp tỉnh Hà Tĩnh,
phía tây giáp nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào với 419 km đường biên giới trên
bộ; bờ biển ở phía đông dài 82km. Nghệ An nằm trên các tuyến đường quốc lộ Bắc –
Nam; các tuyến quốc lộ chạy từ phía Đông lên phía Tây, nối với nước bạn Lào thông
qua các cửa khẩu và có tuyến đường sắt Bắc - Nam dài 94 km chạy qua; nằm trong
hành lang kinh tế Đông - Tây nối liền Mianma - Thái Lan - Lào - Việt Nam - Biển
Trong những mặt hạn chế đó, đặc biệt phải kể đến tình hình tội phạm nói chung
và tội giết người nói riêng trên địa bàn tỉnh Nghệ An luôn được đặt trong tình trạng
báo động. So với tình hình tội phạm cả nước, Nghệ An là một điểm nóng về tội giết
người với diễn biến hết sức phức tạp và có những nét đặc trưng riêng thông qua những
điều kiện về điều kiện tự nhiên, kinh tế, văn hóa xã hội. Sự khác biệt còn biệt còn thể
hiện ở về quy mô, địa bàn phạm tội, thủ đoạn, động cơ, thói quen, và cả những chỉ số
về cơ cấu tình hình tội phạm. Trên thực tế có nhiều vụ án giết người xảy ra một cách
tàn ác, dã man, hành vi giết người xảy ra chủ yếu là do mâu thuẫn trong nội bộ nhân
dân. Tội giết người diễn ra với tính chất côn đồ, hung hãn, trắng trợn, xem thường tính
mạng của con người. Nhiều vụ án, kẻ phạm tội đã sử dụng công cụ, phương tiện cực
kỳ nguy hiểm như súng, lựu đạn... gây ra cái chết của nhiều người một cách thương
tâm. Bởi vậy, hiện nay rất cần đến những giải pháp phòng ngừa tới mức tối đa tội
phạm xảy ra lấy lại lòng tin, bảo đảm sự bình yên cho cuộc sống nhân dân.
Để đảm bảo cho đời sống vật chất và tinh thần của người dân Nghệ An ngày
càng tốt hơn, Đảng bộ và chính quyền tỉnh Nghệ An những năm qua đã triển khai thực
hiện đồng bộ các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước trên tất cả các lĩnh
vực, trong đó có lĩnh vực phòng, chống tội phạm. Trên lĩnh vực này, để thực hiện Chỉ
thị số 48-CT/TW ngày 22 tháng 10 năm 2010 của Bộ chính trị về tăng cường sự lãnh
đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tội phạm trong tình hình mới [16]; Chỉ thị
09-CT/TW ngày 01 tháng 12 năm 2011 của Ban bí thư Trung ương về “tăng cường sự
lãnh đạo của Đảng đối với phòng trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc trong tình hình
mới” [2] và triển khai thực hiện Quyết định 282/QĐ-TTg năm 2011 về kế hoạch thực
hiện chỉ thị 48-CT/TW về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng,
chống tội phạm trong tình hình mới do Thủ tướng Chính phủ ban hành, Đảng bộ và
Chính quyền tỉnh Nghệ An đã ban hành các văn bản như: Quyết định số: 30/2011/QĐUBND ngày 29 tháng 06 năm 2011, ban hành “Quy chế phối hợp giữa lực lượng công
an, quân sự, bộ đội Biên phòng tỉnh Nghệ An trong thực hiện nhiệm vụ bảo vệ an ninh
quốc gia, giữ gìn trật tự an toàn xã hội và nhiệm vụ quốc phòng” [83]; Quyết định số
6484/QĐ -UBND-NC ngày 31/12/2015 của UBND tỉnh Nghệ An về việc sáp nhập
2
2006: có 29 vụ án/ 58 bị cáo, năm 2007: 33 vụ án/ 62 bị cáo, năm 2008: 27vụ án/65 bị
cáo, năm 2009: 31vụ án/105 bị cáo, năm 2010: 33 vụ án/68 bị cáo, năm 2011: 58 vụ
án/139 bị cáo, năm 2012: 40 vụ án/69 bị cáo, năm 2013: 49 vụ án/129 bị cáo, năm
2014: 44 vụ án/184 bị cáo, năm 2015: 32/84 bị cáo, năm 2016: 35/118.
Từ những vấn đề cấp bách về tình hình và thực tiễn phòng ngừa tội phạm đã
được nêu trên, việc nghiên cứu về tình hình tội giết người trên địa bàn tỉnh Nghệ An
3
đang là vấn đề hết sức cấp thiết nhằm tìm ra những nguyên nhân, điều kiện thực hiện
hành vi phạm tội, đưa ra những giải pháp có cơ sở lý luận và thực tiễn, góp phần vào
việc nâng cao tính hiệu quả công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm nói chung và tội
giết người nói riêng và tiến tới đẩy lùi tội phạm trong thời gian tới. Vì vậy, muốn triển
khai phòng ngừa tội phạm phải có những nghiên cứu cơ bản tội giết người dưới góc độ
tội phạm học theo mô hình đầy đủ của tội phạm học là nghiên cứu về tình hình nguyên nhân và giải pháp phòng ngừa tội phạm. Để góp phần nâng cao hiệu quả trong
công tác đấu tranh phòng chống tội giết người trên địa bàn tỉnh Nghệ An, người viết
chọn đề tài: “Tội giết người trên địa bàn tỉnh Nghệ An: Tình hình, nguyên nhân và
giải pháp phòng ngừa” làm đề tài nghiên cứu.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1. Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của luận án này cũng giống như mục đích của tội phạm
học, đó là phòng ngừa tội phạm. Trên cơ sở nghiên cứu thực trạng của tình hình tội
giết người trên địa bàn tỉnh Nghệ An giai đoạn 2006 - 2016, nguyên nhân và điều kiện
của hiện tượng tiêu cực này, nghiên cứu thực trạng những biện pháp phòng ngừa vốn
đang được thực hiện ở địa phương, luận án hướng đến mục đích kiến nghị một hệ
thống các biện pháp phòng ngừa tội giết người trên địa bàn tỉnh Nghệ An.
2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích nghiên cứu của mình, luận án xác định các nhiệm vụ
nghiên cứu sau đây cần phải thực hiện:
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Nếu xem thực trạng của tình hình tội giết người trên địa bàn tỉnh Nghệ An và
thực trạng công tác phòng ngừa tội giết người ở địa bàn tỉnh là khách thể nghiên cứu,
thì đối tượng nghiên cứu của luận án là quy luật của sự phạm tội giết người trên địa
bàn tỉnh Nghệ An giai đoạn 2006 - 2016. Quy luật này được làm rõ thông qua việc
nghiên cứu nguyên nhân và điều kiện của tình hình tội phạm giết người, về phòng
ngừa tội phạm, dự báo tình hình tội giết người, thực tiễn phòng ngừa tội giết người
trên địa bàn tỉnh Nghệ An.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
Về mặt nội dung, đề tài được giới hạn nghiên cứu trong tội danh là tội giết
người trong phạm vi tội phạm học thuộc chuyên ngành tội phạm học và phòng ngừa
tội phạm
Về mặt thời gian, các chất liệu nghiên cứu được sử dụng từ năm 2006 đến năm
2016.
Về mặt không gian, đề tài được nghiên cứu trong phạm vi trên địa bàn tỉnh
Nghệ An.
4. Phƣơng pháp luận và phƣơng pháp nghiên cứu
Luận án nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng của
chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối chính sách của Đảng, các
quy định của Nhà nước về tội phạm và đấu tranh phòng chống tình hình tội phạm nói
chung, tình hình tội giết người nói riêng. Luận án nghiên cứu dựa trên các phương
pháp tiếp cận cơ bản, như phương pháp tiếp cận hệ thống, phương pháp tiếp cận lịch
5
sử, phương pháp tiếp cận liên ngành... nhằm giải quyết một cách tốt nhất những nội
dung cơ bản của luận án.
Dựa trên nền tảng lý luận về tội phạm học, luận án được triển khai với hàng loạt
dung, hình thức, phương pháp… của hoạt động đấu tranh với tội phạm nói chung và
6
các tội giết người nói riêng không hoàn toàn giống nhau, trong khi tỷ lệ tội giết người
so với tình hình tội phạm chung chiếm một số lượng lớn.
Dự kiến kết quả nghiên cứu: Phân tích, phản ánh bức tranh toàn cảnh về tình
hình thực tế tội giết người tác động tiêu cực tới đời sống xã hội và công tác đấu tranh
với các tội giết người trên địa bàn tỉnh Nghệ An.
Câu hỏi nghiên cứu cụ thể về thực trạng những yếu tố nào làm phát sinh tội
giết người trên địa bàn tỉnh Nghệ An? Những yếu tố nào làm phát sinh các tội giết
người thuộc chủ thể có hành vi phạm tội?
Giả thuyết nghiên cứu: Nguyên nhân và điều kiện làm phát sinh tình hình tội
phạm là vấn đề then chốt của quá trình nghiên cứu tội phạm học, nhưng hiện nay, chưa
có một kết quả nghiên cứu nào đưa ra quy luật của tình hình tội giết người trên địa bàn
tỉnh Nghệ An.
Dự kiến kết quả nghiên cứu sẽ tìm ra hệ thống các yếu tố làm phát sinh tình
hình tội giết người, trong đó xác định rõ: nguyên nhân và điều kiện thuộc môi trường
sống, nguyên nhân và điều kiện thuộc chủ thể hành vi phạm tội - nhân thân người
phạm tội, nguyên nhân và điều kiện từ phía nạn nhân của tội giết người.
Câu hỏi nghiên cứu có tính cụ thể về các biện pháp phòng ngừa tội giết
người trên địa bàn tỉnh Nghệ An như thế nào? Dựa trên cơ sở và nội dung dự báo tình
hình tội giết người như thế nào? Cần phải có những giải pháp gì để nâng cao hiệu quả
của công tác đấu tranh, phòng ngừa tội giết người trên địa bàn tỉnh Nghệ An?
Giả thuyết nghiên cứu: Trên cơ sở nền tảng kết quả nghiên cứu về tình hình,
nguyên nhân và điều kiện làm phát sinh tình hình tội giết người trên địa bàn tỉnh Nghệ
An, thấy rằng còn thiếu những giải pháp then chốt trong công tác đấu tranh tội giết
người trên địa bàn tỉnh. Hệ thống các giải pháp phù hợp cần được đưa ra và phải triển
khai thực hiện ngay, đồng thời có các giải pháp mang tính đấu tranh lâu dài, bền vững.
quy luật của tình hình tội giết người trên địa bàn tỉnh Nghệ An và tìm ra kiến nghị hệ
thống các giải pháp tăng cường phòng ngừa tình hình tội giết người có tính khả thi,
hiệu quả bởi quan điểm tiếp cận mang tính tổng thể, toàn diện và đa chiều về chúng.
5.2. Điểm mới về phương pháp tiếp cận
Bằng cách sử dụng phương pháp đa ngành, liên ngành luật học, đặc biệt là
phương pháp của luật học so sánh, triết học pháp luật, xã hội học pháp luật, tâm lý học
pháp luật, luận án làm rõ tính quyết định xã hội của tình hình tội giết người, nguyên
nhân và điều kiện của tình hình tội này trên địa bàn tỉnh Nghệ An từ năm 2006 đến
năm 2016, làm cơ sở cho việc xây dựng các giải pháp tăng cường phòng ngừa có tính
khả thi và hiệu quả cao.
5.3. Điểm mới mang tính tổng quát
Thứ nhất, tác giả đánh giá những nghiên cứu liên quan đến đề tài ở ngoài nước,
tình hình nghiên cứu ở Việt Nam, đặc biệt là công trình nghiên cứu cụ thể trên địa bàn
tỉnh Nghệ An. Trên cơ sở đó, tác giả đánh giá mức độ nghiên cứu chuyên sâu về tình
hình nghiên cứu tội giết người trên địa bàn tỉnh Nghệ An chưa cụ thể và đầy đủ. Với
tình hình tội giết người trên địa bàn tỉnh Nghệ An những năm gần biến động phức tạp
8
thì cần có sự nghiên cứu làm rõ “tính địa lý học tội phạm” của tỉnh Nghệ An trong
luận án, đánh giá, tiếp thu những giải pháp tổng thể mà các nghiên cứu ở nước ngoài
đã đưa ra, vận dụng vào thực tế của tỉnh Nghệ An một cách phù hợp.
Thứ hai, làm rõ thực trạng của tình hình tội giết người trên địa bàn tỉnh Nghệ
An trong những năm gần đây; ở phần hiện của tình hình tội giết người sẽ tập trung làm
rõ mức độ, diễn biến, cơ cấu, tính chất; ở phần ẩn của tình hình tội giết người sẽ tập
trung làm rõ tội phạm ẩn khách quan, tội phạm ẩn chủ quan và tội phạm ẩn thống kê.
Thứ ba, xác định nguyên nhân và điều kiện của tình hình tội giết người trên địa
bàn tỉnh Nghệ An trên cơ sở làm rõ: nhận thức chung về vấn đề nguyên nhân và điều
kiện của tình hình tội giết người trên địa bàn tỉnh Nghệ An; các yếu tố tiêu cực thuộc
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục công trình nghiên cứu của các tác giả
đã công bố liên quan đến luận án và danh mục tài liệu tham khảo, luận án bố cục gồm
có 4 chương:
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án
Chương 2: Tình hình tội giết người trên địa bàn tỉnh Nghệ An giai đoạn 2006 – 2016
Chương 3: Nguyên nhân và điều kiện của tình hình tội giết người trên địa bàn
tỉnh Nghệ An
Chương 4: Các giải pháp phòng ngừa tình hình tội giết người trên địa bàn tỉnh
Nghệ An
10
CHƢƠNG 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN
Tội giết người là loại tội phạm rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng,
hậu quả của nó để lại ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển của kinh tế, chính trị, văn
hóa xã hội của đất nước. Để nghiên cứu được sâu sắc hơn về tình hình tội giết người
trên một địa bàn cụ thể không chỉ dựa vào kết quả nghiên cứu của một ngành khoa học
mà nó phải là kiến thức tổng hợp đa ngành, liên ngành như: tội phạm học, luật hình sự,
xã hội học, tâm lý học, địa lý học tội phạm... Do đó, đối với đề tài luận án tiến sĩ: “Tội
giết người trên địa bàn tỉnh Nghệ An - tình hình, nguyên nhân và giải pháp phòng
ngừa” được tác giả tập trung nghiên cứu những công trình khoa học liên quan đã được
công bố trong và ngoài nước. Cụ thể như sau:
1.1. Tình hình nghiên cứu trong nƣớc
1.1.1. Những công trình nghiên cứu về những vấn đề lý luận của tội phạm
học tạo nền tảng lý luận cho đề tài luận án
“Giáo trình tội phạm học”, Võ Khánh Vinh, Nxb Công an nhân dân. Công
trình này xuất bản lần đầu tiên năm 2003 [159], tái bản vào các năm 2008, 2013; Tác
chống tội phạm nói chung.
Sách chuyên khảo “Một số vấn đề lý luận về tình hình tội phạm ở Việt
Nam”, tác giả PGS.TS Phạm Văn Tỉnh, Nxb Tư pháp, năm 2007 [117]. Cuốn sách
này đi sâu vào việc nghiên cứu và phân tích đặc điểm định lượng và đặc điểm định
tính của tình hình tội phạm ở Việt Nam, tổng hợp thành các nhóm cơ cấu khác nhau
như nhóm cơ cấu của tình hình tội phạm xét theo hình phạt và nhóm cơ cấu của tình
hình tội phạm xét theo nhân thân của người phạm tội... Từ cuốn sách này, tác giả biết
cách sử dụng phân tích trong chương 2 và chương 4 luận án từ những chỉ số cơ bản
có khả năng để diễn giải; biết cách tiếp cận phòng ngừa của tình hình tội phạm cụ thể
bắt nguồn từ việc đánh giá tình hình tội phạm đó qua các đặc điểm định lượng, định
tính của tình hình tội phạm. Từ công trình này củng cố thêm nhận thức của tác giả
luận án về việc nghiên cứu phòng ngừa tình hình tội phạm nói chung và tội giết
người nói riêng phải đặt trong một chỉnh thể thống nhất với tình hình kinh tế, chính
trị, giáo dục, văn hóa xã hội.
Sách chuyên khảo “Tội phạm học Việt Nam: Một số vấn đề lý luận và thực
tiễn” xuất bản năm 2000 của tập thể tác giả Viện nghiên cứu Nhà nước và pháp luật
[146]. Cuốn sách này nghiên cứu quá trình hình thành và phát triển của tội phạm học
Việt Nam, đối tượng nghiên cứu của tội phạm học Việt Nam, phương pháp nghiên cứu
tội phạm học và các vấn đề về phòng ngừa tội phạm, những vấn đề lý luận chung về
phòng ngừa tội phạm như khái niệm phòng ngừa, phân loại và nội dung các biện pháp
phòng ngừa, chủ thể hoạt động phòng ngừa tội phạm. Những tri thức trong sách
chuyên khảo này có ý nghĩa rất lớn đối với việc nghiên cứu những đề tài liên quan
thuộc chuyên ngành tội phạm học và phòng ngừa tội phạm.
Sách chuyên khảo “Nạn nhân của tội phạm”, Trần Hữu Tráng, Nxb Giáo dục
Việt Nam, năm 2011 [129]. Công trình này tác giả nghiên cứu những vấn đề liên quan
12
đến nạn nhân trong tội phạm học, đi vào nghiên cứu các dấu hiệu cụ thể, chuyên biệt
An. Đi theo hướng này, ngoài những công trình ở dạng sách nói trên, còn phải kể đến
các bài viết về nguyên nhân và điều kiện của tội phạm, về nhân thân người phạm tội,
về phòng ngừa tội phạm được đăng tải trong những năm qua trên các tạp chí: Nhà
13
nước và Pháp luật, Cảnh sát nhân dân, Công an nhân dân, Tòa án nhân dân và tạp chí
Kiểm sát, tạp chí Khoa học và Nhân Lực, tạp chí Luật học.
Môn tội phạm học đã được đưa vào chương trình giảng dạy với việc xuất bản
các tập giáo trình tại các khoa và Trường Đại học Luật. Ví dụ giáo trình tội phạm học
của khoa Luật trường Đại học tổng hợp (nay là trường Đại học Quốc gia) xuất bản
năm 1993, của Trường Đại học Luật Hà Nội xuất bản năm 1994. Gần đây môn tội
phạm học đã được đưa vào khung chương trình đào tạo cử nhân luật của các cơ cở đào
tạo luật trên cả nước.
1.1.2. Những công trình nghiên cứu về tình hình, nguyên nhân và giải pháp
phòng ngừa tình hình tội phạm nói chung và từng tội phạm cụ thể
Để có thêm kinh nghiệm nghiên cứu, cũng như thông tin và số liệu thực tế cho
đề tài luận án, các công trình được hoàn thành ở dạng luận án và luận văn có đề tài đề
cập đến tội giết người cũng đã được nghiên cứu, tham khảo. Cụ thể là những công
trình sau:
Luận án tiến sĩ luật học của Nguyễn Ngọc Bình,“Đấu tranh phòng, chống tội
phạm có sử dụng bạo lực ở Việt Nam hiện nay”, bảo vệ năm 2010 [14]. Luận án này
tác giả đã đưa ra một số vấn đề lý luận về phòng ngừa tội phạm, đưa ra các quan điểm
của Đảng và Nhà nước trong công cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm nói chung và
các tội phạm sử dụng bạo lực nói riêng. Tác giả luận án đã tập trung nghiên cứu làm rõ
thực trạng của tình hình tội phạm sử dụng bạo lực Việt Nam trong giai đoạn năm 1999
đến năm 2008 thông qua phân tích thực trạng, diễn biến, cơ cấu, tính chất của tình
hình tội phạm. Luận án đề xuất được một số giải pháp tăng cường phòng, chống ngăn
chặn kịp thời những hậu quả do hành vi sử dụng bạo lực gây ra.
thực tiễn, nguyên nhân phát sinh tội phạm trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh. Tội cố
ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác tại địa bàn thành phố
Hồ Chí Minh là loại tội xảy ra rất phổ biến. Tác giả luận án đã sử dụng cách tiếp cận là
nghiên cứu sự tác động qua lại giữa những hiện tượng tiêu cực của xã hội thuộc môi
trường sống ở thành phố Hồ Chí Minh và các hiện tượng tiêu cực thuộc cá nhân con
người mà trong những tình huống xã hội nhất định dẫn đến việc hình thành hành vi
phạm tội. Cách tiếp cập như vậy đã cung cấp cho tác giả đang thực hiện luận luận án
tội giết người trên địa bàn tỉnh Nghệ An có một cách nhìn nhận hợp lý thuộc về
nguyên nhân và điều kiện phạm tội của tình hình tội phạm nói chung và tình hình loại
tội xâm phạm về nhân thân nói riêng. Cách tiếp cận này sẽ được tác giả kế thừa và
phát triển trong nội dung của công trình luận án nghiên cứu.
Luận án tiến sĩ luật học của tác giả Đỗ Thị Kim Tuyến, “Đấu tranh phòng,
chống tội cướp tài sản trên địa bàn thành phố Hà Nội”, bảo vệ năm 2001 [126]. Luận
án này tác giả cũng đi sâu nghiên cứu tội cướp tài sản theo mô hình đầy đủ: tình tình –
nguyên nhân và giải pháp phòng ngừa, cụ thể ở địa bàn thành phố Hà Nội. Đặc biệt,
tác giả tập trung vào hệ thống các giải pháp phòng ngừa loại tội này trên địa bàn thành
phố Hà Nội.
Luận án tiến sĩ luật học của tác giả Hà Công Tuấn, “Quản lý Nhà nước bằng
pháp luật trong lĩnh vực bảo vệ rừng ở Việt Nam hiện nay”, bảo vệ năm 2006 [123].
15
Tác giả luận án đã chỉ ra những vai trò chủ yếu của các cơ quan trong việc sử dụng
pháp luật để bảo vệ rừng và phát triển bền vững rừng; luận án chỉ ra những phong tục
tập quán của nhân dân trong việc khai thác và bảo vệ rừng. Trong đó, tác giả luận án
đã chỉ ra được vai trò rất quan trọng của các cơ quan trong việc bảo vệ và phát triển
rừng như Tổng cục lâm nghiệp, Cục kiểm lâm; luận án đã đưa ra một số giải pháp
trong việc nâng cao quản lý Nhà nước bằng pháp luật và hoàn thiện pháp luật bảo vệ
rừng trong thời gian tới, hướng tới phát triển rừng bền vững. Đây là một công trình
1996 [26]. Luận văn đã nghiên cứu những quy định pháp lý của Bộ luật hình sự về
trách nhiệm hình sự của những người chưa thành niên phạm tội; bên cạnh đó nghiên
cứu về thực trạng, diễn biến của loại tội này trên địa bàn cả nước. Từ đó, tìm ra những
nguyên nhân và giải pháp nhằm phòng ngừa, ngăn chặn các tội phạm do người chưa
thành niên thực hiện.
Luận văn thạc sĩ luật học của Cao Thị Oanh, “Đấu tranh phòng, chống các tội
cờ bạc trên địa bàn thành phố Hà Nội”, bảo vệ năm 2002 [73]. Xuất phát từ thực tiễn
ở địa bàn thành phố Hà Nội ở giai đoạn này các tội cờ bạc và những hành vi biến
tướng của cờ bạc diễn ra rất nhiều và rất khó để giải quyết và gây hoang mang trong
dư luận. Để làm sáng tỏ được mục đích của luận văn, trước hết tác giả đã nghiên cứu
những vấn rất cơ bản về công tác đấu tranh phòng chống tội cờ bạc ở Việt nam nói
chung và đặc biệt là trên địa bàn thành phố Hà Nội. Qua đó, tác giả nghiên cứu thực
trạng của tình hình tội phạm này, tìm ra nguyên nhân và điều kiện cho việc phát sinh
tội phạm, đồng thời đưa ra được các giải pháp nhằm hạn chế và ngăn chặn các tội cờ
bạc trên địa bàn thành phố Hà Nội.
Luận văn thạc sĩ luật học, “Đấu tranh phòng chống tội giết người trên địa bàn
tỉnh Hà Nam” của tác giả Bùi Trọng Tuệ, bảo vệ năm 2004 [125]. Luận văn đi sâu
vào nghiên cứu nguyên nhân tội giết người giai đoạn từ 1999 đến 2004 và đặc biệt là
đưa ra các giải pháp phòng chống tội giết người trên địa bàn tỉnh Hà Nam.
Luận văn thạc sĩ luật học của tác giả Nguyễn Thị Ngọc Hà, “Đấu tranh phòng
chống tội giết người trên địa bàn tỉnh Nghệ An”, bảo vệ năm 2006 [51]. Đề tài làm rõ
tình hình tội giết người ở trên địa bàn tỉnh Nghệ An, những nguyên nhân của tình hình
tội phạm giết người. Từ đó đưa ra những luận cứ khoa học của các giải pháp nhằm
nâng cao hiệu quả công tác đấu tranh phòng, chống tội giết người trên địa bàn tỉnh
Nghệ An. Về phạm vi nghiên cứu, đề tài được nghiên cứu về tội giết người trên địa
bàn tỉnh Nghệ An từ năm 2001 đến năm 2006.
Luận văn thạc sĩ luật học, “Tội giết người theo Luật hình sự Việt Nam và đấu
tranh phòng chống tội giết người” của tác giả Hoàng Công Huấn, bảo vệ năm 1997
[61]. Đề tài tập trung nghiên cứu về tội giết người theo pháp luật hình sự Việt Nam
trước khi pháp điển hoá (1945 - 1985), theo Bộ luật hình sự hiện hành. Phân biệt tội
nghiên cứu rộng về tội giết người trên địa bàn cả nước nên chưa được phân tích sâu về
mặt lý luận và thực tiễn; có nhiều công trình xem xét tội giết dưới góc độ pháp lý luật
hình sự để bình luận các dấu hiệu pháp lý hình sự và hình phạt. Qua tìm hiểu, nghiên
cứu thấy rằng đến thời điểm hiện tại chưa có công trình luận án tiến sĩ nào hoàn toàn
nghiên cứu tội giết người dưới góc độ tội phạm học và phòng ngừa tội phạm ở địa bàn
một tỉnh, thành phố. Đặc biệt là nghiên cứu một cách cụ thể tại Nghệ An dưới góc độ
tội phạm học với đề tài luận án: “Tội giết người trên địa bàn tỉnh Nghệ An: Tình hình,
nguyên nhân và giải pháp phòng ngừa” mà tác giả đang nghiên cứu.
Như vậy có thể nói về tài liệu lý luận, các công trình ở trong nước cho đến nay
đã tạo được nền tảng rất cơ bản về lý luận cho việc thực hiện đề tài. Đó là vấn đề lý
18