ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
ĐỖ ĐỨC HIỂN
GIÁ TRỊ PHÁP LÝ CỦA VĂN BẢN CÔNG CHỨNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - 2013
1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
ĐỖ ĐỨC HIỂN
GIÁ TRỊ PHÁP LÝ CỦA VĂN BẢN CÔNG CHỨNG
Chuyên ngành : Luật dân sự và tố tụng dân sự
Mã số
: 60 38 01 03
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Minh Mẫn
HÀ NỘI - 2013
MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ CÔNG CHỨNG, VĂN
7
BẢN CÔNG CHỨNG
1.1.
Nguồn gốc, khái niệm và đặc điểm của công chứng
7
1.1.1
Nguồn gốc và các hệ thống công chứng trên thế giới
7
Khái niệm công chứng
15
Đặc điểm công chứng
23
1.2.
Khái niệm và đặc điểm của văn bản công chứng
4
2.1.
Một số vấn đề chung về giá trị pháp lý của văn bản công chứng
38
2.1.1
Giá trị chứng cứ không phải chứng minh của văn bản công chứng
38
Về giá trị thi hành của văn bản công chứng
43
Sự hình thành và phát triển của pháp luật Việt Nam về giá trị
46
.
2.1.2
.
2.2.
pháp lý của văn bản công chứng
Về quy định pháp luật về giá trị pháp lý của văn bản công chứng
56
2.3.3
Về cơ chế, thủ tục bảo đảm thực thi quy định về giá trị thi
61
.
hành của văn bản công chứng
2.3.4
Về một số quy định pháp luật có liên quan tác động tới giá trị
.
pháp lý của văn bản công chứng
.
2.3.2
.
Chương 3: ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÁC QUY
64
bản công chứng
3.2.3
Xây dựng và hoàn thiện cơ chế bảo đảm giá trị thi hành của
.
5
83
.
văn bản công chứng
3.2.4
Về các vấn đề có liên quan, tác động đến giá trị pháp lý của
.
văn bản công chứng
85
KẾT LUẬN
như đã nêu trên có thể được thực hiện theo nhiều phương thức khác nhau
nhưng kết quả cuối cùng của quá trình đó được thể hiện dưới một hình thức
chung nhất là những hợp đồng, giao dịch đã được công chứng hay còn gọi là
văn bản công chứng.
Tùy theo truyền thống pháp lý và điều kiện thực tế của mỗi quốc gia,
văn bản công chứng được thể hiện theo những kết cấu và nội dung khác nhau;
7
được pháp luật thừa nhận với những giá trị pháp lý cũng tương đối đa dạng.
Nhưng nhìn chung, việc quy định về văn bản công chứng và xác định giá trị
pháp lý của loại văn bản này luôn được coi là một trong những vấn đề mang
tính cốt lõi trong pháp luật về công chứng, bởi trước hết nó quyết định lý do
tồn tại của chính thiết chế công chứng trong đời sống xã hội, pháp lý của mỗi
nước và sau đó là quyết định các vấn đề khác có liên quan như trình tự, thủ
tục công chứng, tiêu chuẩn, trình độ công chứng viên...
Ở nước ta, mặc dù có thời gian hình thành và phát triển chưa dài
nhưng có thể thấy được vai trò của thiết chế công chứng được thể hiện ở
nhiều mặt, nhiều lĩnh vực. Cùng với việc hoàn thiện pháp luật về công chứng,
các quy định của pháp luật về giá trị pháp lý của văn bản công chứng cũng
từng bước được bổ sung, hoàn thiện cho phù hợp. Nếu như tại Nghị định số
45/HĐBT ngày 7/2/1991 (văn bản pháp lý đầu tiên quy định về công chứng)
mới chỉ quy định "các hợp đồng và giấy tờ được công chứng có giá trị chứng
cứ" thì đến Luật Công chứng năm 2006, các quy định về văn bản công chứng
và giá trị pháp lý của văn bản công chứng đã được quy định một cách tương
đối khái quát, rõ ràng và đầy đủ hơn, với hai giá trị cơ bản đó là giá trị chứng
cứ và hiệu lực thi hành. Có thể nói, với quy định này, Luật Công chứng đã đi
tiếp một bước trong việc đưa công chứng nước ta tiến gần hơn với thông lệ
của công chứng Latinh trên thế giới, thể hiện vai trò của công chứng với chức
hệ thống dân luật và những nước theo hệ thống thông luật) có liên quan đến
công chứng, văn bản công chứng và giá trị pháp lý của văn bản công chứng
với tính chất của một văn bản xác thực (văn bản công). Tuy chưa đi sâu chi
tiết phân tích về pháp luật của nhiều quốc gia, nhưng với phạm vi nghiên cứu
mở rộng ngoài lãnh thổ quốc gia Việt Nam, luận văn đã khái quát một cách
chung nhất về tình hình pháp luật điều chỉnh cũng như thực tiễn áp dụng các
quy định về giá trị pháp lý của văn bản công chứng ở Việt Nam hiện nay.
4. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng,
duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin, sử dụng kết hợp hoặc riêng lẻ
nhiều phương pháp nghiên cứu khoa học cụ thể như phương pháp so sánh,
thống kê, tổng hợp và kỹ năng phân tích... qua đó làm sáng tỏ các nội dung
liên quan đến văn bản công chứng, giá trị pháp lý của văn bản công chứng và
đưa ra những nhận định, kết luận có liên quan.
11
5. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội
dung của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Một số vấn đề chung về công chứng, văn bản công chứng.
Chương 2: Giá trị pháp lý của văn bản công chứng và thực trạng pháp
luật Việt Nam về giá trị pháp lý của văn bản công chứng.
Chương 3: Định hướng và giải pháp hoàn thiện các quy định của pháp
luật về giá trị pháp lý của văn bản công chứng.
12
13
common law system) tồn tại và phát triển hai hệ thống công chứng, đó là hệ
thống công chứng dân luật (civil law notary, hay còn gọi là công chứng latinh)
và hệ thống công chứng thông luật (common law notary, hay còn gọi là hệ
thống công chứng Anglo - Saxon). Bên cạnh hai trường phái công chứng chủ
yếu nêu trên, trên thế giới cũng tồn tại một hệ thống công chứng mà ở đó
công chứng được coi như một hoạt động của cơ quan nhà nước, tổ chức công
chứng là cơ quan nhà nước, công chứng viên là công chức nhà nước. Hệ thống
công chứng này được biết đến với tên gọi hệ thống công chứng Collectiviste.
Như vậy có thể thấy rằng, xét về mặt nguồn gốc, hoạt động công chứng
là hoạt động của xã hội, với vai trò "làm chứng" của xã hội (cộng đồng) đối
với các giao dịch, các khế ước nhằm đảm bảo tính công khai, minh bạch,
khách quan, đề phòng sự tranh chấp. Ở giai đoạn đầu, công chứng chính là
nhu cầu tự nhiên, tự bảo vệ của dân chúng khi họ tham gia các hợp đồng, giao
dịch chứ chưa phải nhu cầu của quản lý nhà nước và là một hoạt động mang
tính xã hội sâu sắc. Mặt khác, với vai trò chủ yếu là hỗ trợ công dân, bảo vệ
quyền, lợi ích hợp pháp của công dân và các tổ chức trong các giao dịch dân
sự, kinh tế, thương mại; phòng ngừa tranh chấp và vi phạm pháp luật; hỗ trợ
quản lý nhà nước, góp phần đảm bảo ổn định trật tự xã hội, thúc đẩy các giao
lưu dân sự, kinh tế, thương mại phát triển và hỗ trợ tư pháp thông qua việc
cung cấp chứng cứ cho hoạt động xét xử, công chứng là một nghề có tính
chuyên môn hóa, chuyên nghiệp hóa phục vụ cho lợi ích chung của xã hội,
cộng đồng. Với vai trò quan trọng như trên, công chứng đã trở thành đối
tượng quản lý của Nhà nước. Thậm chí, ở một số quốc gia, trong những điều
kiện lịch sử nhất định, công chứng còn trở thành một hoạt động thuộc chức
năng xã hội của Nhà nước (chức năng cung ứng dịch vụ công).
b) Các hệ thống công chứng trên thế giới
- Hệ thống công chứng Latinh
chứng Latinh so với hệ thống pháp luật công chứng Anglo-Sacxon là Công
chứng viên phải chịu trách nhiệm về nội dung, về tính xác thực, hợp pháp của
hợp đồng giao dịch mà mình chứng nhận, vì vậy hệ thống pháp luật công
chứng Latinh còn được gọi là hệ thống pháp luật công chứng nội dung. Theo
quy định của pháp luật trong hệ thống pháp luật công chứng Latinh, công chứng
15
viên giữ vai trò quan trọng trong việc bảo đảm trật tự pháp lý, đó là vai trò bổ
trợ tư pháp như một thẩm phán về hợp đồng, nhằm phòng ngừa tranh chấp.
Trách nhiệm của Công chứng viên là giúp cho các chủ thể tham gia hợp đồng
giao dịch lựa chọn và định đoạt tài sản của mình một cách hợp lý nhất, đồng
thời có nghĩa vụ tư vấn cho các chủ thể tham gia hợp đồng giao dịch một cách
vô tư, không thiên vị, lưu ý họ về phạm vi, các hệ quả, rủi ro mà hợp đồng có
thể đặt ra để bảo vệ quyền lợi của các bên. Với nghĩa vụ này, Công chứng
viên không chỉ là người chứng nhận ý chí của các bên khi giao kết hợp đồng,
mà còn có nghĩa vụ giúp các bên thể hiện ý chí trong hợp đồng, lựa chọn các
thể thức giao kết hợp đồng phù hợp, tùy thuộc vào mục đích của hợp đồng,
vào pháp luật áp dụng cho loại hợp đồng đó và thông tin cho các bên biết về
những hệ quả pháp lý mà hợp đồng đặt ra. Công chứng viên có nhiệm vụ hòa
giải sự bất đồng quan điểm của các chủ thể tham gia hợp đồng giao dịch trong
quá trình lập hợp đồng, để đảm bảo sự công bằng trong giao kết hợp đồng, tôn
trọng quyền lợi chính đáng của các chủ thể. Do vậy, công chứng viên thực sự
giữ vai trò trọng tài và trung gian hòa giải giữa các chủ thể tham gia hợp đồng
giao dịch, nhằm bảo vệ quyền lợi của các bên, giúp cho các bên tìm được
tiếng nói chung, sớm đạt được sự thống nhất, tránh xảy ra tranh chấp hợp
đồng sau này. Như vậy, theo quy định của pháp luật hoặc theo sự tự nguyện
của khách hàng, công chứng viên đem lại cho các hợp đồng, giao dịch một
tính đích thực, có giá trị như văn bản của các cơ quan công quyền khác cấp,
nước không quan tâm lắm đến việc hình thành các thiết chế phòng ngừa tranh
chấp. Ở các nước này mà điển hình là: Vương quốc Anh, Hợp chủng quốc
Hoa Kỳ (trừ Bang Louisane), Canada (trừ Bang Quebec), Ấn Độ, Singapore,
Thái Lan, Đài Loan... không thừa nhận thể chế công chứng chuyên nghiệp. Chức
năng công chứng ở các nước theo hệ thống pháp luật công chứng AngloSacxon được thực hiện bởi các luật sư, hộ tịch viên hoặc cố vấn pháp lý của
Giáo hội, một số nhân viên ngoại giao và lãnh sự được giao thẩm quyền thực
hiện một số việc công chứng ở nước ngoài... những người này thực hiện hoạt
động công chứng theo phương thức kiêm nhiệm. Đó là những công chứng
viên không chuyên biệt. Trước khi được kiêm nhiệm hoạt động công chứng,
họ phải có thâm niên tối thiểu một số năm hành nghề luật sư thuộc Hiệp hội
Luật sư hoặc là hộ tịch viên hay cố vấn pháp lý của Giáo hội. Trong hệ thống
17
pháp luật công chứng Anglo-Sacxon, những người hành nghề công chứng
không chịu sự can thiệp nhiều của quyền lực hành pháp của Nhà nước. Những
nước theo hệ thống công chứng này không hình thành bộ máy để quản lý,
theo dõi hoạt động công chứng cũng như những người hành nghề công chứng.
Những người hành nghề công chứng ở đây hoạt động tự do, sự quản lý của
nhà nước chỉ thể hiện ở việc cấp chứng chỉ hành nghề, và đổi chứng chỉ hành
nghề hàng năm cho những người hành nghề công chứng. Phạm vi hoạt động
của công chứng chủ yếu là xác nhận các sự kiện, các lời tuyên thệ hay chữ ký
của các bên trong các hợp đồng, giao dịch.
Đặc điểm nổi bật của hệ thống công chứng Anglo-Sacxon là việc công
chứng chỉ mang tính hình thức (vì vậy hệ thống pháp luật công chứng AngloSacxon còn được gọi là hệ thống pháp luật công chứng hình thức), nghĩa là
khi tiến hành hoạt động công chứng, người hành nghề công chứng chỉ ghi
nhận lại và chứng nhận sự kiện pháp lý đã xảy ra, họ chỉ chú trọng đến việc
nhận diện đúng chủ thể tham gia giao dịch, ghi lại đúng thời gian, địa điểm
tiến hành giao kết hợp đồng, ghi lại chính xác thỏa thuận của các bên và ý chí
Hệ thống công chứng Collectiviste (hay còn gọi là hệ thống công
chứng bao cấp) là mô hình công chứng được tổ chức khá chặt chẽ, hoạt động
chuyên nghiệp bằng sự bao cấp của Nhà nước thông qua việc cấp ngân sách.
Tổ chức công chứng là một loại hình cơ quan bổ trợ tư pháp trong bộ máy
hành pháp của Chính phủ. Công chứng viên và nhân viên nghiệp vụ đều là
công chức nhà nước, hưởng lương từ nguồn ngân sách nhà nước và được
hưởng mọi chế độ chính sách như những công chức khác. Công chứng viên
được bổ nhiệm để chứng nhận hợp đồng và văn bản, giúp đỡ pháp lý cho cá
nhân, tổ chức, tạo ra sự an toàn pháp lý và sự tin cậy cho các giao dịch, phòng
ngừa tranh chấp, vi phạm pháp luật. Tuy nhiên, vai trò của công chứng viên ở
các nước này phần nào bị hạn chế, chủ yếu phục vụ mục đích quản lý nhà
nước và bảo vệ tài sản xã hội chủ nghĩa bởi pháp luật không thừa nhận quyền
sở hữu tư nhân đối với một số tài sản, đặc biệt là đối với đất đai.
Điển hình của hệ thống Collectiviste là công chứng của các nước xã hội
chủ nghĩa cũ. Hệ thống công chứng này phát triển mạnh nhất vào những năm
từ 1970 đến 1990, gồm công chứng của Liên bang Cộng hòa xã hội chủ nghĩa
19
xô viết, Cộng hòa Ba lan, Cộng hòa dân chủ Đức, Bungari, Hunggari, Rumani,
Cu Ba, Trung Quốc, Việt Nam... Hệ thống công chứng Collectiviste có một số
điểm đặc trưng cơ bản như:
+ Nhà nước bảo đảm cơ sở vật chất của các Phòng công chứng như trụ
sở, phương tiện, thiết bị, kinh phí hoạt động;
+ Các Phòng công chứng chịu sự quản lý song trùng trực thuộc, vừa
đặt dưới sự quản lý về nghiệp vụ, chuyên môn của Nhà nước trung ương (Bộ
Tư pháp), vừa đặt dưới sự quản lý của chính quyền địa phương (Sở Tư pháp
hoặc Tòa án địa phương).
+ Cùng với các Phòng công chứng chuyên trách, một số cơ quan hành
hình công chứng Latinh.
1.1.2. Khái niệm công chứng
a) Quan niệm về công chứng ở một số nước
Notarie - tiếng Pháp, Notary - tiếng Anh, Notariat - tiếng Đức, Hottapiat tiếng Nga, đều có gốc La tinh là Notarius, có nghĩa là Viết, ghi chép. Theo
Pierre-Francois Real, một trong những nhà biên soạn Luật Ventôse năm 1804
làm cơ sở cho việc thiết lập nghề công chứng ở nhiều quốc gia khác ngoài
Cộng hòa Pháp như Bỉ, Đức, Áchentina, Áo, Bukina Faso, Chi lê, Colombia,
Bờ biển Ngà, Tây Ban Nha, Hy Lạp, Ý, Lucxembua, Ma rốc, Mêhicô, Hà
Lan, Cộng Hòa Diminica, Rumani, Sênêgal và Thụy sĩ thì:
Những người tư vấn cho các bên đương sự một cách vô tư,
giúp họ hiểu được phạm vị nghĩa vụ hợp đồng mà họ đã giao kết,
soạn thảo các hợp đồng này một cách rõ ràng, làm chứng cho chúng
có tính xác thực và có giá trị như một phán quyết chung thẩm, đóng
vai trò bộ nhớ của đương sự và lưu giữ tuyệt đối hồ sơ của họ, hạn
chế tranh chấp có thể nảy sinh giữa các bên một cách ngay tình:
những người làm công việc như vậy chính là công chứng viên [42].
So sánh các hệ thống công chứng cho thấy, mặc dù giữa hệ thống công
chứng Latinh và hệ thống công chứng Anglo - Saxon có sự khác biệt nhau về
21
cách thức tổ chức, hoạt động, trình tự, thủ tục công chứng, song quan niệm về
công chứng ở hai hệ thống này về cơ bản có một số điểm tương đồng. Cả hai
hệ thống này đều coi công chứng là một nghề, công chứng viên hoạt động độc
lập, tự chịu trách nhiệm cá nhân về hoạt động của mình. Tuy nhiên, đó là một
nghề đặc biệt, đòi hỏi công chứng viên phải có trình độ chuyên môn (luật) và
kỹ năng nghiệp vụ, được Nhà nước bổ nhiệm hoặc công nhận và hoạt động
theo chế độ chứng chỉ hành nghề. Có thể thấy rõ điều đó qua pháp luật thực
định về công chứng của một số nước, cụ thể: Ở Cộng hòa Pháp (một điển
Quốc, theo Điều 2 Luật Công chứng quy định "Công
chứng là hành vi được thực hiện bởi một công chứng
viên theo yêu cầu của khách hàng để xác nhận tính
xác thực và hợp pháp của hành vi, sự kiện hay tài liệu
có tính pháp lý theo theo thủ tục pháp luật quy định
[64].
So sánh những quy định nêu trên cho thấy, nội dung chi tiết về chức
năng, nhiệm vụ của công chứng viên trong pháp luật thực định của các nước
có những điểm khác nhau, nhưng quan niệm về công chứng đều có những
điểm cơ bản giống nhau, có thể khái quát lại như sau: Công chứng là hoạt
động của công chứng viên soạn thảo hoặc chứng nhận (xác nhận) các hợp
đồng, giao dịch nhằm bảo đảm giá trị thực hiện cho các hợp đồng giao dịch,
phòng ngừa tranh chấp hoặc cung cấp chứng cứ nếu có tranh chấp xảy ra.
b) Khái niệm công chứng ở Việt Nam
Hiểu một cách đơn giản nhất, "công chứng" chính là việc "công"
quyền đứng ra làm "chứng". Nói một cách khác, thay vì để cá nhân tự đứng ra
làm chứng cho nhau trong các giao dịch dân sự, thì nhà nước, bằng việc đào
tạo, bổ nhiệm đã trao cho một số cá nhân (hoạt tổ chức) nhất định một phần
quyền năng để những người này thay mặt nhà nước đứng ra làm chứng các
giao dịch đó. Theo học giả Đào Duy Anh thì "công chứng có nghĩa là lấy
quyền công mà làm chứng".
Ở Việt Nam, công chứng được hình thành từ những năm 80 của thế
kỷ XIX [3, tr. 12]. Văn bản công chứng đầu tiên được lập vào năm 1886 (hiện
23
nay được lưu giữ tại Phòng Công chứng Nhà nước số 1 thành phố Hồ Chí
Minh). Đến ngày 24/5/1931 một Sắc lệnh mới về tổ chức Công chứng được
ban hành, theo đó tổ chức và hoạt động công chứng được phỏng theo các
văn bản, sự kiện đó có hiệu lực thực hiện. Bằng hoạt động trên,
công chứng nhà nước tạo ra những bảo đảm pháp lý để bảo vệ
quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, các cơ quan, tổ chức phù
hợp với Hiến pháp và pháp luật của nước Cộng hòa xã hội chủ
nghĩa Việt Nam, ngăn ngừa vi phạm pháp luật, giúp cho việc giải
quyết tranh chấp được thuận lợi, góp phần tăng cường pháp chế xã
hội chủ nghĩa [1].
Lần đầu tiên kể từ khi thành lập nước (02/9/1945), khái niệm công
chứng nhà nước được đưa ra ở Việt Nam, đánh dấu sự đổi mới về tư duy pháp
lý, bước đầu đáp ứng yêu cầu của nền kinh tế ở giai đoạn đầu của thời kỳ
chuyển đổi. Tuy nhiên, là văn bản pháp lý đầu tiên về công chứng trong giai
đoạn đầu của thời kỳ đổi mới, do đó, văn bản này không thể tránh được các
hạn chế, đó là: chưa xác định được chủ thể, đối tượng của hoạt động công
chứng cũng như nội dung việc công chứng, chưa phân biệt rõ hoạt động công
chứng với hoạt động của các cơ quan nhà nước khác.
Cùng với quá trình đổi mới của đất nước, trong vòng 10 năm (19912000), Chính phủ đã ban hành ba nghị định về tổ chức và hoạt động công chứng
nhà nước, đó là: Nghị định số 45/HĐBT ngày 27/2/1991 của Hội đồng Bộ trưởng
(nay là Chính phủ) về tổ chức và hoạt động công chứng nhà nước (sau đây gọi
tắt là Nghị định số 45/HĐBT); Nghị định số 31/CP ngày 18/5/1996 của Chính
phủ về tổ chức và hoạt động công chứng nhà nước (sau đây gọi tắt là Nghị định
số 31/CP) và Nghị định số 75/2000/NĐ-CP ngày 08/12/2000 của Chính phủ về
công chứng, chứng thực (sau đây gọi tắt là Nghị định số 75/2000/NĐ-CP).
Theo Nghị định số 45/HĐBT, thuật ngữ công chứng được xác định
như sau:
Công chứng nhà nước là việc chứng nhận tính xác thực của
các hợp đồng và giấy tờ theo quy định của pháp luật, nhằm bảo vệ
25