TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
BÀI TẬP NHÓM TMĐT
Chủ đề : Khung pháp lý và văn bản pháp luật đối với TMĐT của
VN, mục đích sử dụng các văn bản pháp luật là gì?
Hà Nội, tháng 8 năm 2013
PHỤ LỤC
LỜI MỞ ĐẦU
PHẦN I: TỔNG QUAN VỀ THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ
1.1 Khái niệm, vai trò của thương mại điện tử
1.2 Sự cần thiết của khung pháp lý đối với thương mại điện tử
PHẦN II: KHUNG CƠ SỞ PHÁP LÝ, QUY PHẠM VĂN BẢN PHÁP LUẬT
CỦA VN ĐỐI VỚI TMĐT
2.1 Nêu khung cơ sở pháp lý
2.2 Các văn bản pháp luật đối với thương mại điện tử của VN
2.3 Mục đích của các văn bản pháp luật, khung pháp lý của TMĐT ở VN
2.4 Tác động (tích cực và tiêu cực) của các cơ sở pháp lý, các văn bản pháp luật tới
hoạt động thương mại điện tử ở VN
PHẦN III: ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP CHO VIỆC XÂY DỰNG
KHUNG PHÁP LÝ, VĂN BẢN PHÁP LUẬT ĐỐI VỚI TMĐT TRONG
THỜI GIAN TỚI
3.1 Định hướng xây dựng khung pháp lý, văn bản pháp luật đối với TMĐT
3.2 Giải pháp cho những hạn chế còn tồn đọng trong khung pháp lý, văn bản pháp
luật đối với TMĐT
KẾT LUẬN
DANH MỤC THAM KHẢO
LỜI MỞ ĐẦU
Ngày nay, Sự bùng nổ của công nghệ thông tin đặt ra những vận hội và thách thức
mới, làm thay đổi sâu sắc toàn bộ đời sống kinh tế- xã hội của thế giới và nước ta. Những
lợi thế không thể phủ nhận của thương mại điện tử đòi hỏi phải có sự thích ứng nhanh
chóng của nền kinh tế Việt Nam trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế. Việc ứng dụng
các thành tựu của công nghệ thông tin vào lĩnh vực thương mại đã mang lại những kết
mới
• Tiết kiệm chi phí và tạo thuận lợi cho các bên giao dịch. Giao dịch bằng phương
tiện điện tử nhanh hơn so với giao dịch truyền thống, rút ngắn chu kỳ kinh doanh
và các bên tham gia có thể tiến hành giao dịch khi ở cách xa nhau
• Tăng dịch vụ khách hàng như với người tiêu dùng, họ có thể ngồi tại nhà để đặt
hàng, mua sắm nhiều loại hàng hóa, dịch vụ thật nhanh chóng,
• TMĐT làm thay đổi bản chất thị trường, thay đổi tổ chức hoạt động kinh doanh.
• Giúp doanh nghiệp nắm bắt thông tin nhanh chóng và thu thập đầy đủ thông tin
hơn
• Thúc đẩy sự phát triển của hoạt động thương mại quốc tế
• Mở rộng thị trường hiện có và tạo cơ hội kinh doanh mới
• Tạo điều kiện sớm tiếp cận kinh tế số hóa.
1.2 Tính cấp thiết trong việc hoàn thiện khung pháp lý thương mại điện tử của
VN
a.Khả năng phát triển thương mại điện tử ở Việt Nam
Theo đánh giá của các chuyên gia kinh tế, Việt Nam có rất nhiều điều kiện và tiềm
năng để có phát triển thương mại điện tử. Số người sử dụng Internet ở Việt Nam cho đến
nay đã đạt trên mức 20 triệu và vẫn tiếp tục trên đà tăng trưởng mạnh. Thêm vào đó, dân
số Việt Nam là dân số trẻ, lại rất nhanh nhạy trong các lĩnh vực công nghệ thông tin nên
có thể xem Việt Nam là mảnh đất màu mỡ cho việc phát triển kinh doanh online.Theo
khảo sát của hãng nghiên cứu IDC Việt Nam, có 58% người sử dụng Internet ở Việt Nam
đã từng mua hàng online.
b.Sự cần thiết của khung pháp lý đối với thương mại điện tử ở VN
Với những vai trò của TMĐT đã được nêu trên, lẽ ra thương mại điện tử phải chiếm
một tỉ trọng đáng kể trong họat động kinh doanh. Nhưng trên thực tế, lọai hình kinh
doanh này vẫn phát triển theo kiểu “cầm chừng” với những lý do sau:
- Quyền lợi của doanh nghiệp không được đảm bảo về bản quyền, cạnh tranh
- Rủi ro cho doanh nghiệp và cá nhân: ví dụ như thanh toán, bảo mật tài khoản…
không được đảm bảo an toàn.
- Sự tin tưởng của cá nhân và doanh nghiệp trong việc giao dịch
thực chữ ký số
Như trên
23/02/2007
Nghị định số 27/2007/NĐ-CP về giao dịch điện tử trong
hoạt động tài chính
Như trên
08/03/2007
Nghị định số 35/2007/NĐ-CP về giao dịch điện tử trong
hoạt động ngân hàng
Như trên
10/04/2007
Nghị định số 64/2007/NĐ-CP về ứng dụng công nghệ
thông tin trong hoạt động của cơ quan nhà nước
Luật CNTT
13/08/ 2008
Nghị định số 90/2008/NĐ-CP về chống thư rác Luật GDĐT
28/08/2008
Nghị định 97/2008/NĐ-CP về quản lý, cung cấp, sử
dụng dịch vụ Internet và thông tin điện tử trên internet
Luật CNTT
06/04/2011
Nghị định số 25/2011/NĐ-CP quy định chi tiết và
hướng dẫn thi hành một số điều của luật viễn thông
Luật viễn thông
13/06/2011
Nghị định 43/2011/NĐ-CP quy định về việc cung cấp
thông tin và dịch vụ công trực tuyến trên trang thông tin
điện tử hoặc cổng thông tin điện tử của cơ quan nhà
nước
Luật CNTT
dịch điện tử trong hoạt động tài chính
Nghị định số
27/2007/NĐ-CP
15/09/2008
Thông tư số 05/2008/TT-BTTTT hướng dẫn một số điều
của Nghị định số 97/2008/NĐ-CP về quản lý, cung cấp,
sử dụng dịch vụ Internet và thông tin điện tử trên
Internet
Nghị định số
97/2008/NĐ-CP
18/12/2008
Thông tư số 07/2008/TT-BTTTT hướng dẫn một số nội
dung về hoạt động cung cấp thông tin trên trang thông
tin điện tử cá nhân
Nghị định số
97/2008/NĐ-CP
24/12/2008
Thông tư số 09/2008/TT-BTTTT hướng dẫn về quản lý
và sử dụng tài nguyên Internet
Như trên
24/12/2008
Thông tư số 10/2008/TT-BTTTT quy định về giải quyết
tranh chấp tên miền quốc gia việt nam “.vn”
Như trên
30/12/2008
Thông tư số 12/2008/TT-BTTTT hướng dẫn thực hiện
một số nội dung của Nghị định số 90/2008/NĐ-CP của
Chính phủ về chống thư rác
Nghị định số
90/2008/NĐ-CP
đấu thầu qua mạng
Nghị định số
26/2007/NĐ-CP
9/11/2010
Thông tư số 23/2010/TT-NHNN quy định về việc quản
lý, vận hành và sử dụng Hệ thống Thanh toán điện tử
liên ngân hàng
Nghị định số
35/2007/NĐ-CP
10/11/2010
Thông tư số 180/2010/TT-BTC hướng dẫn giao dịch
điện tử trong lĩnh vực thuế
Nghị định số
27/2007/NĐ-CP
15/11/2010
Thông tư số 25/2010/TT-BTTTT quy định việc thu thập,
sử dụng, chia sẻ, đảm bảo an toàn và bảo vệ thông tin cá
nhân trên trang thông tin điện tử hoặc cổng thông tin
điện tử của cơ quan nhà nước
Nghị định số
64/2007/NĐ-CP
20/12/2010
Thông tư số 209/2010/TT-BTC quy định giao dịch điện
tử trong hoạt động nghiệp vụ kho bạc nhà nước
Nghị định số
27/2007/NĐ-CP
31/12/2010
Thông tư số 46/2010/TT-BCT quy định về quản lý hoạt
động của các website thương mại điện tử bán hàng hóa
hoặc cung ứng dịch vụ
- Quy định liên quan tới việc lưu trữ và truyền đạt tác phẩm bằng phương tiện
điện tử trong Luật Sở hữu trí tuệ
+ Điều 4. Giải thích từ ngữ
Sao chép là việc tạo ra một hoặc nhiều bản sao của tác phẩm hoặc bản ghi âm,
ghi hình bằng bất kỳ phương tiện hay hình thức nào, bao gồm cả việc lưu trữ
thường xuyên hoặc tạm thời tác phẩm dưới hình thức điện tử.
+ Điều 20. Quyền tài sản
+ Điều 22. Quyền tác giả đối với chương trình máy tính, sưu tập dữ liệu
- Quy định về quảng cáo trên các phương tiện điện tử trong dự thảo Luật Quảng
cáo
Pháp lệnh Quảng cáo coi mạng thông tin máy tính là một phương tiện quảng
cáo (Điều 9) và quy định việc thực hiện quảng cáo trên mạng thông tin máy tính
phải được Bộ Văn hoá - Thông tin cấp giấy phép (Điều 16) .Dự thảo Luật Quảng
cáo (cập nhật đến tháng 12 năm 2011) Mục 3. Quảng cáo trên trang tin điện tử
Internet và các phương tiện truyền dẫn, phát sóng,
phương tiện điện tử
+ Điều 23. Quảng cáo trên trang tin điện tử internet
Diện tích quảng cáo không được vượt quá 15% diện tích các trang thể hiện trên
khuôn hình máy tính, trừ các chuyên trang chuyên quảng cáo và trang tin điện tử
của doanh nghiệp có nội dung quảng cáo cho chính hàng hoá, dịch vụ của doanh
nghiệp đó.
+ Điều 24. Quảng cáo trên các phương tiện truyền dẫn, phát sóng, phương tiện
điện tử
1. Tổ chức, cá nhân gửi nội dung các sản phẩm quảng cáo trên các phương tiện
truyền dẫn, phát sóng, phương tiện điện tử phải bảo đảm cho người tiếp nhận
quảng cáo khả năng từ chối nhận nội dung quảng cáo.Tổ chức, cá nhân không
được tiếp tục gửi sản phẩm quảng cáo nếu người tiếp nhận sản phẩm quảng cáo đó
thông báo không đồng ý nhận các nội dung quảng cáo.
2. Không được quảng cáo trên điện thoại từ 23 giờ đến 7giờ.
2.2.2. Các quy định về giao dịch điện tử và công nghệ thông tin
Thông tư số 50/2009/TT-BTC về việc hướng
dẫn giao dịch điện tử trên thị trường chứng
khoán
Thông tư số 180/2010/TT-BTC hướng dẫn giao
dịch điện tử trong lĩnh vực thuế
Thông tư số 209/2010/TT-BTC quy định giao
dịch điện tử trong hoạt động nghiệp vụ kho bạc
nhà nước
Thông tư số 32/2011/TT-BTC hướng dẫn về
khởi tạo, phát hành và sử dụng hóa đơn điện tử
bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ
Nghị định số 35/2007/NĐ-CP
về Giao dịch điện tử trong hoạt
động ngân hàng
Thông tư số 23/2010/TT-NHNN quy định về
việc quản lý,vận hành và sử dụng Hệ thống
Thanh toán điện tử liên ngân hàng
Nghị định số 26/2007/NĐ-CP
quy định chi tiết thi hành Luật
Giao dịch điện tử về Chữ ký số
và Dịch vụ chứng thực chữ ký số
Thông tư số 37/2009/TT-BTTTT quy định về hồ
sơ và thủ tục liên quan đến cấp phép, đăng ký,
công nhận các tổ chức cung cấp dịch vụ chứng
thực chữ ký số
Nghị định số 90/2008/NĐ-CP về
chống thư rác
Thông tư số 12/2008/TT-BTTTT hướng dẫn
thực hiện một số nội dung của Nghị định số
90/2008/NĐ-CP của Chính phủ về chống thư rác
công
nghệ
thông
tin
Nghị định số 64/2007/NĐ-CP về
Ứng dụng CNTT trong hoạt động
của cơ quan nhà nước
Thông tư số 26/2009/TT-BTTTT quy định về việc
cung cấp thông tin và đảm bảo khả năng truy cập
thuận tiện đối với trang thông tin điện tử của cơ
quan nhà nước
Thông tư số 25/2010/TT-BTTTT quy định việc thu
thập, sử dụng, chia sẻ, đảm bảo an toàn và bảo vệ
thông tin cá nhân trên trang thông tin điện tử hoặc
cổng thông tin điện tử của cơ quan nhà nước
Nghị định số 97/2008/NĐ-CP về
quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ
Internet và thông tin điện tử trên
Internet
Thông tư số 05/2008/TT-BTTTT hướng dẫn một
số điều của Nghị định số 97/2008/NĐ-CP về quản
lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ Internet và thông tin
điện tử trên Internet
Thông tư số 07/2008/TT-BTTTT hướng dẫn một
số nội dung về hoạt động cung cấp thông tin trên
trang thông tin điện tử cá nhân
Thông tư số 09/2008/TT-BTTTT hướng dẫn về
quản lý và sử dụng tài nguyên Internet
Thông tư số 10/2008/TT-BTTTT quy định về giải
quyết tranh chấp tên miền quốc gia Việt Nam
điện tử cũng như các điều kiện cần thiết để chứng từ, hóa đơn điện tử được chấp nhận
trong các nghiệp vụ kế toán, kiểm toán, thuế… Do đó, từ năm 2005 cho đến năm 2010,
việc sử dụng hóa đơn điện tử trong giao dịch TMĐT giữa các đơn vị kế toán gần như
không thể thực hiện được.
Vì vậy, Luật Kế toán năm 2003 bước đầu thừa nhận sự hiện hữu của chứng từ điện
tử và quy đinh “hóa đơn điện tử” là một trong bốn hình thức thể hiện hóa đơn. Tuy nhiên
chủ trương “Chính phủ quy định chi tiết về chứng từ điện tử” đã mất một thời gian dài
trước khi được hiện thực hóa vào năm 2011, với sự ra đời của Thông tư số 32/2011/TT-
BTC hướng dẫn về khởi tạo, phát hành và sử dụng hóa đơn điện tử bán hàng hóa, cung
ứng dịch vụ.Luật gồm 1 số quy định sau:
- Quy định về chứng từ điện tử và hóa đơn điện tử trong Luật kế toán
- Các nội dung liên quan đến hóa đơn điện tử trong Nghị định 51/2010/NĐ-CP quy
định về hóa đơn bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ
2.2.4 Các quy định về chế tài và xử lý vi phạm
Hoạt động giao dịch điện tử nói chung và TMĐT nói riêng chịu sự điều chỉnh của
rất nhiều văn bản quy phạm pháp luật. Bên cạnh hệ thống luật về TMĐT và công nghệ
thông tin, giao dịch TMĐT còn phải tuân thủ các quy định của Luật Thương mại, Luật
Quảng cáo, Luật Cạnh tranh, Luật Bảo vệ người tiêu dùng, cũng như tất cả các quy định
khác về hoạt động kinh doanh - thương mại. Do đó, những hành vi vi phạm trong TMĐT
tùy theo tính chất có thể bị xử lý theo các văn bản khác nhau.
Chế tài đối với các hành vi vi phạm được chia làm 2 loại: xử phạt hành chính và xử
lý hình sự. Ở mức độ thông thường, vi phạm trong giao dịch TMĐT sẽ bị xử lý căn cứ
theo các Nghị định về xử phạt vi phạm hành chính nằm dưới các Luật hiện hành về hoạt
động kinh doanh - thương mại hoặc CNTT, TMĐT. Những hành vi vi phạm ở mức độ
nặng hơn, gây hậu quả nghiêm trọng có thể bị xử lý hình sự căn cứ theo Bộ luật Hình sự
năm 1999 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự năm 2009.
a. Việc xử lý các vi phạm hành chính trong hoạt động TMĐT, tùy theo tính chất của hành
vi vi phạm, sẽ được áp dụng theo quy định tại những văn bản sau:
- Nghị định về xử phạt hành chính trong hoạt động thương mại( 6/2008/NĐ-CP)
- Nghị định vể xử phạt hành chính trong lĩnh vực CNTT( 63/2007/NĐ-CP)
Sở hữu trí tuệ.
2.3.2. Các quy định về giao dịch điện tử và công nghệ thông tin:
- Hướng dẫn thực hiện, quản lý và kiểm tra các giao dịch thương mại điện tử trong
các hoạt động tài chính, ngân hàng, chữ ký số và dịch vụ chứng thực chữ ký số.
- Bảo vệ và chống thư rác cho tài khoản của khách hàng
- Quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ Internet và thông tin điện tử trên Internet cho
người tiêu dùng
2.3.3 Các quy định về thuế, kế toán:
- Quy định, hướng dẫn thực hiện các nội dung liên quan đến chứng từ điện tử và
hóa đơn điện tử trong Luật kế toán.
- Trong giao dịch điện tử, các khâu đặt hàng đến khâu thanh toán, việc xử lý các hóa
đơn, chứng từ điện tử phát sinh từ giao dịch cần được giải quyết triệt để, đảm bảo
an toàn và quyền lợi cho 2 phía người tiêu dùng và doanh nghiệp.tạo sự tin tưởng
cho phía người tiêu dùng, phía doanh nghiệp tạo được uy tín và website bán hàng
trực tuyến lớn mạnh hơn, nhiều người biết đến, có nhiều cơ hội tiếp cận và hội
nhập thị trường quốc tế thông qua các diễn đàn kinh tế.
- Các quy định về thuế đảm bảo phúc lợi xã hội, lợi nhuận doanh nghiệp…( Thuế
giá trị gia tăng-VAT)
- Các chứng từ, hóa đơn để tránh gian lận trong giao dịch.
2.3.4 Các quy định về chế tài và xử lý vi phạm:
- Quy định về chế tài và xử phạt các vi phạm hành chính và dân sự trong các hoạt
động thương mại điện tử
- Các giấy cấp phép, chế tài nhằm giúp nhà nước quản lý, kiểm soát được hoạt động
thương mại, tránh hiện tượng tràn lan dẫn đến tranh chấp, cạnh tranh giữa các
doanh nghiệp trong và ngoài nước.
- Xử lý các vi phạm hành chính nhằm mục đích kiểm soát và buộc các doanh nghiệp
chấp hành, đi vào hoạt động có hệ thống, tránh lưu thông hàng hóa 1 cách tự do
khó kiểm soát.
2.4 Những tác động tích cực và hạn chế khi nhà nước áp dụng các khung
pháp lý, văn bản pháp luật trong thương mại điện tử
về thẩm quyền, ai được quyền thu thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế giá trị gia tăng…
Đặc biệt rất khó xác định được cơ sở thường trú, địa điểm giao dịch, nơi tiêu thụ trong
những trường hợp như vậy.
Thứ ba, Về bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ, Phần lớn đối tượng trong thương mại điện
tử là các ấn phẩm trí tuệ, đặc biệt là các sản phẩm có thể số hoá. Các chức năng và kỹ
thuật công nghệ trong thương mại điện tử có thể cho phép các chủ thể tham gia nhân bản
không hạn chế số lượng các sản phẩm sở hữu trí tuệ với chất lượng không đổi, đồng thời
cho phép chuyển, gửi không hạn chế về mặt số lượng các bản sao đến các địa chỉ trên
toàn cầu trong khoảng thời gian nhanh nhất. In-tơ-nét với các hacker được coi là máy
copy khổng lồ, vi phạm thường xuyên quyền sở hữu trí tuệ. Trong khi đó pháp luật về
bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ còn chưa hoàn chỉnh, hiệu quả thấp. Đây thực sự là một thách
thức đối với pháp luật để vừa bảo vệ được quyền lợi và khuyến khích chủ sở hữu trí tuệ,
vừa bảo đảm cho sự phát triển của công nghệ thông tin, thương mại điện tử.
Thứ tư, Bảo vệ người tiêu dùng, Trong thương mại điện tử, quy cách hàng hoá,
chất lượng hàng hoá đều ở dạng số, người mua không có điều kiện biết được chất lượng
hàng hoá trước khi mua. Cho nên sự rủi ro đối với người mua trong thương mại điện tử
sẽ cao hơn so với thương mại truyền thống, đó là chưa kể tới khả năng bị nhầm lẫn các cơ
sở dữ liệu, bị lừa gạt bởi các thông tin và các tổ chức bất hợp pháp trên mạng.
Thứ năm, An toàn dữ liệu và bảo mật thông tin, Hằng ngày, hằng giờ trên thế giới
thông tin điện tử và In-tơ-nét, số vụ tấn công của các hacker vào các Website ngày càng
gia tăng và mức độ nghiêm trọng hơn, ban đầu chỉ là để chứng tỏ mình, sau đó chuyển
hướng nhằm mục đích trục lợi… Hiện nay, Bộ luật hình sự nước ta đã quy định một số
hành vi bị coi là tội phạm như hành vi sử dụng trái phép thông tin trên mạng, hành vi tạo
ra và tán phát virut trên máy tính… Nhưng trên thực tế, chúng ta chưa xử lý và truy tố
hành vi của một hacker nào. Pháp luật cần bổ sung các quy định về an toàn dữ liệu và bảo
mật thông tin, đồng thời cũng kiên quyết xử lý các hành vi vi phạm trong lĩnh vực công
nghệ thông tin.
Thứ sáu, Giải quyết tranh chấp, Sự phát triển nhanh chóng thương mại điện tử đã
làm gia tăng số lượng các vụ tranh chấp phát sinh từ giao dịch điện tử. Tranh chấp trong
thương mại điện tử thường xảy ra giữa các doanh nghiệp ở các quốc gia khác nhau. Vì
- Ban hành Nghị định về chữ ký điện tử và dịch vụ chứng thực điện tử. Hợp pháp
hóa về giá trị pháp lý của các hợp đồng giao dịch điện tử và khả năng bảo đảm
thực hiện hợp đồng thương mại điện tử. Cần coi hợp đồng thương mại điện tử
giống các hợp đồng giao dịch khác (dạng truyền thống la văn bản) và áp dụng
những điều luật tương tự để đảm bảo giá trị pháp lý.
- Có những quy định chặt chẽ hơn với các công ty kinh doanh online để tránh thâm
hụt về thuế. Cần có một hệ thống quản lý và chính sách pháp luật chuyên biệt dành
cho khối bán lẻ online nói riêng và thương mại điện tử nói chung để tránh những
rủi ro không đáng có đối với người tiêu dùng.
- Sửa đổi, bổ sung luật sở hữu trí tuệ cho lĩnh vực thương mại điện tử.Hạn chế việc
sao chép các bản sao của những đối tượng thương mại điện tử, ban hành các nghị
định về sở hữu trí tuệ chặt chẽ tránh để các cá nhân hay tổ chức lợi dụng để trục
lợi. Bảo vệ quyền và lợi ích của chủ sở hữu trí tuệ.
- Quy định cụ thể về xử lý vi phạm hành chính trong thương mại điện tử vào dự án
Bộ luật xử lý vi phạm hành chính (điều này giúp các công ty làm an minh bạch,
nguời tiêu dùng có sự tin tưởng khi tham gia giao dịch).
- Xây dựng va hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về thương mại điện
tử, xây dựng cơ sở hạ tầng, đào tạo lớp cán bộ có chuyên môn kỹ thuật cao đảm
bảo an ninh cho thương mại điện tử.
- Bổ sung các quy định về an toàn dữ liệu và bảo mật thông tin, đồng thời cũng kiên
quyết xử lý các hành vi vi phạm trong lĩnh vực công nghệ thông tin.
- Nghiên cứu pháp luật các nước, kinh nghiệm các nước về xây dựng, quản lý thị
trường TMĐT
- Nâng cao hiệu quả và năng lực quản lý nhà nước về thương mại điện tử để tránh
xảy ra tranh chấp.
KẾT LUẬN
Chúng ta đã hội nhập vào một sân chơi rộng lớn với nhiều thời cơ mới nhưng cũng đặt ra
không ít những thách thức. Để có thể phát huy được những giá trị mà thương mại điện tử
có thể mang lại trong môi trường không biên giới này và tranh thủ được những thuận lợi
từ việc gia nhập WTO, thì việc hoàn thiện khung pháp luật về thương mại điện tử đóng