Pháp luật bồi thường khi nhà nước thu hồi đất từ thực tiễn tỉnh quảng nam (tt) - Pdf 45

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

LÊ THANH LONG

PHÁP LUẬT BỒI THƯỜNG KHI NHÀ NƯỚC
THU HỒI ĐẤT TỪ THỰC TIỄN
TỈNH QUẢNG NAM

Chuyên ngành: Luật Kinh tế
Mã số: 60 38 01 07

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI, năm 2017


Công trình được hoàn thành tại
Học viện Khoa học Xã hội

Người hướng dẫn khoa học: TS. NGUYỄN LINH GIANG

Phản biện 1: .............................................................
Phản biện 2: ..............................................................

Luận văn sẽ được bảo vệ trước hội đồng chấm luận văn
thạc sĩ họp tại Học viện khoa học xã hội ....... giờ ...... ngày ......
tháng ..... năm 2017.

Có thể tìm hiểu luận văn tại

vướng mắc phát sinh trong quá trình thực hiện ảnh hưởng đến các
yếu tố xã hội như: người lao động mất đất sản xuất, chuyển đổi nghề
1


nghiệp, việc làm cho nhân dân, tái định cư,...chưa được giải quyết
triệt để, làm chậm tiến độ bàn giao mặt bằng để thi công các công
trình. Do vậy, vấn đề đặt ra hiện nay là làm thế nào để giải quyết
những bất cập nêu trên, vừa đảm bảo hài hòa quyền lợi của các bên
liên quan vừa đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật.
Tìm hiểu, đánh giá đúng thực trạng công tác này là việc làm
cần thiết, nhằm kịp thời đề xuất các giải pháp khắc phục những tồn
tại, làm cho công tác quản lý nhà nước về đất đai ngày càng tốt hơn,
đẩy nhanh công tác BT, GPMB và củng cố lòng tin của người nhân
dân vào chủ trương, đường lối của Đảng và chính sách, pháp luật của
nhà nước, tôi chọn đề tài: “Pháp luật bồi thường khi Nhà nước thu
hồi đất từ thực tiễn tỉnh Quảng Nam” để nghiên cứu tìm hiểu trong
khuôn khổ luận văn thạc sĩ luật.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Trên cơ sở tiếp thu, kế thừa kết quả từ các công trình khoa học
đã nghiên cứu. Tác giả cho rằng, đây là vấn đề khá phức tạp trong
thực tiễn áp dụng và cũng vô cùng nhạy cảm. Vì vậy, Luận văn sẽ
tiếp tục nghiên cứu, giải quyết những vấn đề về BT khi NNTHĐ mà
chưa được các nhà nghiên cứu tiếp cận hoặc đã được tiếp cận nhưng
chỉ ở mức độ khái quát: những nguyên tắc, điều kiện của việc BT khi
NNTHĐ; việc điều tiết công bằng, hợp lý lợi ích trong quá trình
THĐ nhằm tạo nguồn thu cho Nhà nước để tái đầu tư, xây dựng đất
nước. Luận văn sẽ nghiên cứu một cách hệ thống và sâu sắc, toàn
diện hơn vấn đề BT đất, tài sản trên đất khi NNTHĐ trong đó đặc
biệt chú trọng đến giá đất BT vì đây là trọng tâm của vấn đề BT. Mặt

- Đánh giá thực trạng pháp luật về BT khi NNTHĐ trên địa
bàn tỉnh Quảng Nam nhằm chỉ ra những thành tựu, hạn chế và
nguyên nhân của những hạn chế; trên cơ sở đó, Luận văn đưa ra định
hướng và các giải pháp tiếp tục hoàn thiện nâng cao hiệu quả thực
hiện pháp luật về BT khi NNTHĐ ở Việt Nam.
4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài bao gồm:
3


- Hệ thống quan điểm, đường lối, chính sách và pháp luật của
Đảng và Nhà nước về BT khi NNTHĐ.
- Nội dung của Luật đất đai qua các giai đoạn, Luật Đất đai
năm 2013 và các văn bản hướng dẫn thi hành về BT khi NNTHĐ.
- Các thông tin, số liệu, vụ việc từ thực tiễn về áp dụng các
quy định của pháp luật về BT khi NNTHĐ tại tỉnh Quảng Nam
- Các công trình khoa học về pháp luật BT khi NNTHĐ đã
công bố trong và ngoài nước thời gian qua.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
BT khi NNTHĐ ở tỉnh Quảng Nam là đề tài có phạm vi
nghiên cứu rộng, phức tạp liên quan đến nhiều lĩnh vực khác nhau.
Tuy nhiên, trong khuôn khổ có hạn của một bản luận văn thạc sĩ luật
học, Luận văn không kỳ vọng tìm hiểu toàn diện và giải quyết thấu
đáo các yêu cầu của vấn đề BT khi NNTHĐ dưới góc độ pháp lý, mà
giới hạn phạm vi nghiên cứu ở việc nghiên cứu những vấn đề lý luận
và thực tiễn của pháp luật về BT khi NNTHĐ ở tỉnh Quảng Nam,
thông qua việc tìm hiểu, đánh giá nội dung Luật Đất đai năm 2013.
Luận văn đi sâu tập trung nghiên cứu, tìm hiểu vấn đề BT khi
NNTHĐ của hộ gia đình, cá nhân, vì đây là chủ thể sử dụng đất phổ

- Phương pháp tổng hợp, phân tích: được sử dụng để tổng hợp
và phân tích các quy định của pháp luật về BT khi NNTHĐ, cũng
như các thông tin về thực tiễn áp dụng. Phương pháp này còn được
sử dụng để nhận xét, đánh giá trong luận văn.
- Phương pháp thống kê: Phương pháp này được sử dụng
nhằm xử lý các tài liệu, các số liệu mà tôi thu thập từ thực tiễn áp
dụng pháp luật về BT khi NNTHĐ. Qua đó, tôi có được các số liệu,
thông tin tin cậy trình bày trong luận văn. …
Bên cạnh đó, tôi còn sử dụng các phương pháp: diễn dịch, quy
nạp, so sánh, logic...để nghiên cứu và làm sáng tỏ nội dung của luận
văn.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Luận văn thạc sĩ luật học với đề tài “Pháp luật bồi thường khi
nhà nước thu hồi đất từ thực tiễn tỉnh Quảng Nam” có những đóng
5


góp chủ yếu sau đây:
6.1. Ý nghĩa lý luận của luận văn: Luận văn đã hệ thống hoá
và góp phần phát triển, bổ sung cơ sở lý luận của pháp luật về BT khi
NNTHĐ và làm rõ cơ chế điều chỉnh của pháp luật về BT khi
NNTHĐ ở Việt Nam.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn của luận văn: Luận văn là tài liệu tham
khảo bổ ích không chỉ đối với các nhà hoạch định chính sách, pháp
luật đất đai, các nhà quản lý đất đai mà còn là tài liệu chuyên khảo
cho công tác giảng dạy, học tập và nghiên cứu khoa học về pháp luật
đất đai ở các cơ sở đào tạo, nghiên cứu về luật học ở nước ta.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo thì
nội dung chính của Luận văn, bao gồm 3 chương:

với HT và TĐC có quan hệ mật thiết với nhau. Tuy nhiên, giữa
chúng cũng thể hiện những điểm khác biệt cơ bản, đó là:
Về nguyên tắc, BT khi NNTHĐ thực hiện theo nguyên tắc là BT
toàn bộ giá trị quyền SDĐ đối với diện tích đất bị thu hồi khi thỏa mãn
điều kiện được BT, BT toàn bộ thiệt hại về tài sản gắn liền với đất.
Về nội dung, khi NNTHĐ sẽ BT giá trị quyền SDĐ đối với
diện tích đất bị thu hồi (là quyền tài sản quan trọng của người SDĐ),
các tài sản gắn liền với đất, các chi phí đầu tư vào đất, các thiệt hại
do ngừng việc hoặc bị ngưng trệ quá trình sản xuất và các thiệt hại
vô hình khác.
Về vị trí, vai trò, BT khi NNTHĐ đóng vai trò trung tâm và có
tính chất quyết định trực tiếp đến quyền và lợi ích của người bị THĐ,
Nhà nước có nghĩa vụ BT ngang giá và sát với giá thị trường về
những thiệt hại hữu hình và vô hình phát sinh trực tiếp từ hoạt động
THĐ.
1.1.3. Ý nghĩa của việc bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất
Để sử dụng hợp lý và có hiệu quả tài nguyên đất đai, nhất là
trong giai đoạn thực hiện CNH-HĐH, tốc độ đô thị hóa nhanh đã gây
7


áp lực rất lớn cho việc SDĐ. Điều này đòi hỏi việc phân bổ quỹ đất
quốc gia nói chung và ở mỗi địa phương nói riêng phải chi tiết, mang
tính khoa học và có tầm nhìn chiến lược. Để hoàn thành mục tiêu
này, không thể tránh khỏi việc NNTHĐ của các chủ thể đang sử
dụng. Do đó, việc BT khi NNTHĐ đóng vai trò hết sức quan trọng.
1.2. Khái niệm, các yêu cầu của pháp luật về bồi thường
khi Nhà nước thu hồi đất
1.2.1. Khái niệm, đặc điểm của pháp luật về bồi thường khi
Nhà nước thu hồi đất

với đất nông nghiệp góp phần để người bị THĐ sớm ổn định đời
sống, sản xuất, kinh doanh, hạn chế thấp nhất những biến động, thiệt
hại khi NNTHĐ.
1.3.2. Bồi thường về tài sản khi nhà nước thu hồi đất
Khi NNTHĐ thì tài sản trên đất của người có đất bị thu hồi
bao gồm nhà cửa, vật kiến trúc, cây cối, hoa màu, vật nuôi, mồ mã
trên đất sẽ được xem xét BT. Tuy vào mức độ thiệt hại khi
NNTHĐ, người bị THĐ sẽ được xem xét BT, HT hợp lý, người bị
THĐ có thể được hỗ trợ toàn bộ công trình bị thiệt hại, hoặc có
thể được hỗ trợ phần bị thiệt hại và chi phí sửa chữa, hoàn thiện
phần còn lại theo tiêu chuẩn kỹ thuật tương đương của nhà, công
trình trước khi phá dỡ. Mức BT nhà, công trình = giá trị hiện có
của nhà, công trình bị thiệt hại + một khoản tiền tính bằng tỷ lệ
phần trăm theo giá trị hiện có của nhà, công trình.
Pháp luật về BT khi NNTHĐ cũng đã quy định việc BT đối với
hoa màu khi THĐ nông nghiệp, mức BT đối với cây hàng năm được
tính theo năng suất của vụ cao nhất trong 3 năm trước liền kề của cây
trồng chính tại địa phương và giá trị trung bình tại thời điểm THĐ.
1.4. Các yếu tố ảnh hưởng đến pháp luật về bồi thường khi
Nhà nước thu hồi đất
1.4.1. Yếu tố chính trị
Thứ nhất, quan điểm, đường lối của Đảng về xây dựng, hoàn
thiện chính sách, pháp luật đất đai nói chung và chính sách, pháp
luật về BT khi NNTHĐ nói riêng.
9


Thứ hai, chế độ sở hữu toàn dân về đất đai
1.4.2. Yếu tố kinh tế
1.4.3. Yếu tố tâm lý xã hội, nhận thức xã hội

2.1.2. Quy định về thu hồi đất không được Nhà nước bồi
thường
Trên thực tế, không phải mọi trường hợp bị THĐ đều được
nhà nước BT. Có những trường hợp bị THĐ không được BT do
không thỏa mãn các điều kiện về BT mà pháp luật quy định. Các
trường hợp này được quy định cụ thể tại Điều 82, Luật Đất đai 2013,
bao gồm:
Tóm lại, người bị THĐ thuộc một trong các trường hợp trên sẽ
không được BT khi NNTHĐ. Tùy từng trường hợp cụ thể nhà nước
sẽ xem xét để HT cho người bị THĐ, đảm bảo theo nguyên tắc khách
quan, công bằng, kịp thời, công khai và đúng quy định của pháp luật.
2.1.3. Quy định về giá đất tính bồi thường và chi phí đầu tư
vào đất
Một trong những vấn đề quan trọng trong BT khi THĐ chính
là giá đất để tính BT. Bởi lẽ, nó là căn cứ quan trọng để thực hiện BT
cho người THĐ, đồng thời là cơ sở để giải quyết lợi ích về kinh tế
giữa nhà nước với người bị THĐ. Thực tế cho thấy, phần lớn các
trường hợp tranh chấp, khiếu kiện liên quan đến BT khi NNTHĐ đều
bắt nguồn từ việc người bị THĐ không chấp nhận giá đất BT. Để
khắc phục tồn tại này, sau khi ban hành Luật Đất đai 2013 ngày
15/5/2014 chính phủ đã ban hành Nghị định 44/2014/NĐ-CP về quy
định giá đất, so với các văn bản trước thì các quy định hiện hành về
giá đất liên quan đến BT về đất có những sửa đổi, bổ sung.
2.1.4. Quy định về các trường hợp được nhà nước BT khi
thu hồi đất
2.1.4.1. Quy định về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất của
hộ gia đình cá nhân
2.1.4.2. Quy định về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất của
11


12


hướng dẫn đã tạo khung pháp lý trong BT, HT&TĐC khi NNTHĐ,
làm cơ sở để các bộ, ngành, địa phương, các đơn vị thực hiện việc
BT khi NNTHĐ.
Trong 5,5 năm qua, tỉnh Quảng Nam đã tổ chức GPMB để
thực hiện 1.215 dự án, đây là số lượng dự án khá lớn trong tiến trình
đô thị hóa, công nghiệp hóa, phục vụ mục tiêu phát triển kinh tế - xã
hội chung trên địa bàn của tỉnh; trong đó, số lượng hộ gia đình bị ảnh
hưởng bởi dự án khá nhiều: 68.612 hộ cho thấy là thành công, kết
quả đáng ghi nhận trong công tác BT, HT & TĐC của tỉnh để thực
hiện nhiều các dự án, công trình trọng điểm, làm thay đổi cơ bản
diện mạo tỉnh nhà, tạo động lực kết nối, phát triển với các tỉnh bạn,
khu vực. (Xem phần Phụ lục)
2.3.4. Những hạn chế, vướng mắc trong việc thực hiện bồi
thường khi nhà nước thu hồi đất tại tỉnh Quảng Nam
Thực tiễn triển khai công tác BT khi NNTHĐ trong những
năm qua gặp không ít khó khăn, phức tạp; việc khiếu kiện liên quan
đến giá đất khi BT từ phía người dân đang có xu hướng gia tăng.
Theo đánh giá của cơ quan thanh tra tỉnh Quảng Nam hằng năm có
trên 70% vụ KN, TC liên quan đến đất đai, trong đó nguyên nhân
chủ yếu là do việc BT thiệt hại cho người có đất bị thu hồi chưa thỏa
đáng.
Thứ nhất, về điều kiện BT khi NNTHĐ.
Thứ hai, về xác định giá đất để tính BT
Thứ ba, việc chênh lệch giá đất trước và sau khi thu hồi
Thứ tư, vấn đề liên quan đến trách nhiệm của cơ quan nhà
nước có thẩm quyền.
2.3.5. Nguyên nhân hạn chế, thiếu sót, vướng mắc

Đảng khóa XI. Để đảm bảo định hướng này, pháp luật về BT khi
NNTHĐ cần phải chú trọng những vấn đề sau:
Một là, Nhà nước chủ động THĐ theo kế hoạch sử dụng đất
của giai đoạn và hàng năm đã được xét duyệt. Quy định rõ ràng và
cụ thể hơn các trường hợp Nhà nước thực hiện việc THĐ để sử dụng
14


vào các mục đích quốc phòng, an ninh, phục vụ lợi ích quốc gia, lợi
ích công cộng và các dự án phát triển kinh tế, xã hội, không có phân
biệt dự án đó thuộc thành phần kinh tế nào.
Hai là, việc BT khi NNTHĐ phải bảo đảm công khai, minh
bạch, dân chủ, khách quan, và công bằng. Đây là những giá trị phổ
quát được pháp luật và thực tiễn pháp lý kiểm chứng trong quá trình
thực thi pháp luật đất đai ở nước ta. Nếu các quy định của pháp luật
thiếu công khai, minh bạch sẽ tạo điều kiện phát sinh tham nhũng,
tiêu cực; thiếu dân chủ, khách quan sẽ làm cho người bị THĐ không
đồng thuận và phát sinh tranh chấp, khiếu kiện kéo dài.
Ba là, trong công tác BT khi NNTHĐ, cần chú ý đến việc thực
hiện có hiệu quả phương án đào tạo nghề, tạo việc làm, tổ chức lại
sản xuất và bảo đảm đời sống của nhân dân ở khu vực có đất bị thu
hồi, bởi đất trong đó có đất nông nghiệp là tư liệu sản xuất chủ yếu
của người nông dân.
Thứ hai, hoàn thiện pháp luật về BT khi NNTHĐ phải dựa
trên nguyên tắc giải quyết hài hòa lợi ích của Nhà nước, của doanh
nghiệp và lợi ích của người bị THĐ.
Khi NNTHĐ sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh; lợi
ích quốc gia; lợi ích công cộng và vào mục đích kinh tế (gọi chung là
các mục đích chung) đã để lại những hậu quả rất khác nhau đối với
các bên có liên quan: người bị THĐ không chỉ mất đi chỗ ở, nhà cửa

cấp GCNQSDĐ thì việc BT về đất khi NNTHĐ sẽ trở nên thuận lợi
hơn rất nhiều. Thực tế cho thấy, những khó khăn, phức tạp, khiếu nại
nẩy sinh trong công tác BT khi NNTHĐ chủ yếu phát sinh từ các
trường hợp không có hoặc thiếu các giấy tờ về QSDĐ. Trong trường
hợp này, khi NNTHĐ để thực hiện BT phải dựa trên việc xác nhận
nguồn gốc, thời gian, mục đích sử dụng đất của UBND cấp xã làm
căn cứ lập phương án BT. Việc xác nhận nguồn gốc, thời gian, mục
đích sử dụng đất gặp rất nhiều khó khăn, phức tạp do hồ sơ, tài liệu
về đất đai lưu giữ của chính quyền cấp xã có nhiều biến động, chưa
cập nhật thường xuyên,... Để khắc phục những tồn tại này, việc hoàn
thiện pháp luật về BT khi NNTHĐ phải hướng tới việc hoàn thành
16


dứt điểm công tác cấp GCNQSDĐ đi đôi với hiện đại hoá hệ thống
bản đồ địa chính, hồ sơ địa chính [40, tr.129].
3.2. Giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả
thực hiện pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất
3.2.1. Giải pháp hoàn thiện pháp luật về bồi thường khi Nhà
nước thu hồi đất
3.2.1.1. Hoàn thiện quy định pháp luật về nguyên tắc bồi
thường khi Nhà nước thu hồi đất
3.2.1.2. Hoàn thiện quy định pháp luật về cơ chế xác định giá
đất bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất
3.2.1.3. Hoàn thiện các quy định pháp luật liên quan đến điều
kiện bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất
3.2.1.4. Hoàn thiện quy định pháp luật về việc Nhà nước điều
tiết một phần lợi ích từ việc thu hồi, chuyển mục đích sử dụng đất để
thực hiện các khoản hỗ trợ cho người sử dụng đất
3.2.1.5. Hoàn thiện các quy định pháp luật về trình tự, thủ tục

nguyên nhân làm phát sinh tham nhũng, tiêu cực trong công tác BT.
Vì vậy, cần lưu ý rằng, minh bạch, công khai về BT phải đảm bảo ở
tất cả các khâu, các công đoạn của quá trình THĐ, BT, HT và GPMB
3.2.2.2. Đẩy nhanh tiến độ và nâng cao chất lượng của công
tác cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
Khi người sử dụng đất được cấp GCNQSDĐ, họ sẽ được pháp
luật bảo hộ các quyền và lợi ích hợp pháp trong quá trình sử dụng
đất. GCNQSDĐ cũng là cơ sở pháp lý để người sử dụng đất được BT
khi bị THĐ, việc tính toán BT cho người sử dụng đất sẽ thuận lợi
hơn rất nhiều khi họ đã được cấp giấy chứng nhận. Có thể nói,
GCNQSDĐ có ý nghĩa quan trọng trong công tác quản lý Nhà nước
về đất đai nói chung và trong công tác BT nói riêng. Vì vậy, cần phải
đẩy nhanh tiến độ và hoàn thành dứt điểm việc cấp GCNQSDĐ. Để
làm được điều này cần rà soát kỹ càng hiện trạng sử dụng đất ở địa
phương, thực hiện khẩn trương việc đăng ký sử dụng đất, tiến hành
kê khai, đo đạc đất đai một cách đồng bộ, điều này cần phải được
thực hiện với sự chỉ đạo quyết liệt của các cấp chính quyền; Cải cách
18


thủ tục hành chính trong việc cấp GCNQSDĐ, để hạn chế thời gian
và thủ tục phiền hà khi được cấp giấy; Đầu tư cơ sở vật chất, ứng
dụng công nghệ thông tin, xây dựng cơ sở dữ liệu điện tử để phục vụ
cho việc quản lý thuận tiện, thống nhất đối với hồ sơ địa chính trên
phạm vi cả nước [40,tr.154].
3.2.2.3. Tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến giáo dục
pháp luật đất đai nói chung, cũng như pháp luật về bồi thường khi
Nhà nước thu hồi đất nói riêng cho cán bộ và nhân dân, từ đó tạo ra
sự đồng thuận của người dân khi Nhà nước thu hồi đất
Trong thực tiễn thi hành, việc tuyên truyền phổ biến pháp luật

xuất) các cơ quan có thẩm quyền THĐ, Tổ chức làm nhiệm vụ BT.
Thứ hai, thực hiện việc giám sát thi hành thông qua Hội đồng
nhân dân, Mặt trận Tổ quốc các cấp, nhất là vai trò giám sát xã hội
của các cơ quan truyền thông, các tổ chức xã hội và người dân.
Thứ ba, thanh tra, kiểm tra việc giải quyết các KN, TC về BT
khi NNTHĐ và các KN, TC liên quan đến trình tự thủ tục THĐ, BT,
hỗ trợ khi THĐ của các cơ quan, cá nhân có thẩm quyền khi thực thi
nhiệm vụ.
3.2.2.5. Thực hiện nghiêm túc công tác lập quy hoạch, kế
hoạch sử dụng đất; tăng cường thanh tra, kiểm tra, giám sát việc
thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất
Muốn quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đảm bảo tính khả thi,
tính thống nhất, tính đồng bộ và tránh tình trạng quy hoạch “treo”.
Thiết nghĩ, cần phải thực hiện một số giải pháp cơ bản sau:
Thứ nhất, xác định rõ ràng mối quan hệ giữa quy hoạch sử
dụng đất với quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội và quy hoạch xây
dựng đô thị nhằm tránh hiện tượng mâu thuẫn, chồng chéo giữa các
loại quy hoạch.
Thứ hai, khi lập quy hoạch, cần có cái nhìn tổng thể và dài
hạn, chắc chắn về nhu cầu sử dụng đất (từ 10 năm trở lên) vì quy
hoạch chính là việc dự đoán khả năng ứng dụng trong tương lai, trên
cơ sở đó sẽ giúp Nhà nước chuẩn bị được quỹ đất để chủ động trong
việc phân phối lại đất đai. Việc lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất
20


phải tính đến các yếu tố KTXH, môi trường, các yếu tố liên kết đa
ngành, đa lĩnh vực tại địa bàn thực hiện.
Thứ ba, thực hiện việc công bố công khai và đảm bảo tính
khách quan, minh bạch của quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch xây

nước thực hiện chức năng quản lý nhà nước về đất đai [40, tr.159].
KẾT LUẬN
Bồi thường khi NNTHĐ là vấn đề phức tạp và mang tính thời
sự nóng bỏng, thu hút sự quan tâm của toàn xã hội; có ảnh hưởng
trực tiếp đến cuộc sống, tâm lý của người dân và tác động không nhỏ
đến sự ổn định chính trị. Với mục tiêu đẩy mạnh toàn diện công cuộc
đổi mới, tạo nền tảng đến năm 2020, nước ta cơ bản trở thành nước
công nghiệp phát triển theo hướng hiện đại thì chúng ta không thể
không thực hiện CNH - HĐH đất nước. Để giải quyết bài toán đất
đai đáp ứng yêu cầu CNH - HĐH đất nước thì việc THĐ là việc làm
tất yếu. Tuy nhiên, việc làm này gây ra nhiều hậu quả mà nếu không
giải quyết dứt điểm, kịp thời sẽ phát sinh tranh chấp, khiếu nại kéo
dài và tiềm ẩn nguy cơ mất ổn định chính trị. Pháp luật về BT khi
NNTHĐ ra đời nhằm tạo cơ sở pháp lý cho việc thực hiện THĐ và
giải quyết hài hoà lợi ích của các bên liên quan: Lợi ích của Nhà
nước, lợi ích của người bị THĐ và lợi ích của người sử dụng đất sau
thu hồi. Trên cơ sở các kết quả nghiên cứu những vấn đề lý luận về
pháp luật BT khi NNTHĐ ở Chương 1; đánh giá thực trạng pháp luật
và thực tiễn áp dụng pháp luật về BT khi NNTHĐ tại tỉnh Quảng
Nam ở Chương 2 và đề xuất định hướng, giải pháp hoàn thiện pháp
luật về BT khi NNTHĐ tại Chương 3 của Luận văn, tôi rút ra một số
kết luận chủ yếu sau đây:
1. Việc THĐ được thực hiện để sử dụng vào mục đích quốc
phòng, an ninh, để phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công
cộng là một tất yêu khách quan trong quá trình xây dựng phát triển
xã hội, được quy định tại Luật Đất đai 2013 và các văn bản hướng
dẫn thi hành có liên quan.
2. Việc NNTHĐ sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh,
22


23



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status