1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọ n đề tà i:
Trong xu thế toàn cầu hoá, hội nhập kinh tế quốc tế, thực hiện nền
kinh tế chuyển đổi, các doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) đóng vai trò
quan trọng trong quá trình phát triển nền kinh tế của đất nước. Những số liệu
điều tra từ Tổng cục Thống kê năm 2010 cho thấy, các doanh DNNVV
chiếm đến 98% số lượng các doanh nghiệp trong cả nước, đóng góp hơn
40% tổng sản lượng GDP và đang tạo ra một thị trường rộng lớn, mang lại
nhiều tiềm năng về doanh thu cho các ngân hàng thương mại (NHTM) từ
hoạt động cấp cho vay và cung ứng các dịch vụ ngân hàng. Hoạt động cho
vay DNNVV là một trong những cơ sở nền tảng đưa hoạt động của NHTM
nước ta từ quy mô nhỏ bé, công nghệ lạc hậu, năng lực tài chính thấp kém,
trở thành những ngân hàng có quy mô lớn, công nghệ hiện đại và có khả
năng tài chính vững mạnh.
Tuy nhiên trong những năm gần đây nền kinh tế Việt Nam nói chung
và ngành ngân hàng nói riêng phải đối mặt với những khó khăn thách thức
lớn nhất do tác động của cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế
toàn cầu. sức cạnh tranh của các DNNVV còn rất nhiều hạn chế. Một trong
những trở ngại cho các DNNVV là khả năng tiếp cận thu hút các nguồn vốn
bên ngoài gặp khó khăn, đặc biệt là đối với nguồn vốn cho vay ngân hàng.
Trên thực tế, quan hệ cho vay ngân hàng với các DNNVV còn nhiều khó
khăn, một điều tra gần đây của Tổng cục Phát triển doanh nghiệp, Bộ Kế
hoạch và Đầu tư cho thấy, chỉ có trên 1/3 số DNNVV có khả năng tiếp cận
được với nguồn vốn ngân hàng (chủ yếu là ngân hàng thương mại), trong khi
có hơn 1/3 số doanh nghiệp khó tiếp cận và trên 1/3 số doanh nghiệp không
có khả năng tiếp cận vốn ngân hàng. Tỷ lệ hồ sơ vay vốn của DNNVV được
2
Tì m hiể u, phân tí ch, đá nh giá thự c trạ ng hoạ t độ ng cho vay vố n đố i
vớ i DNNVV tạ i ngân hà ng VPBank Đà Nẵ ng; phân tí ch đá nh giá nhữ ng khó
khăn, vướ ng mắ c trong việ c cho vay cũ ng như tiế p cậ n nguồ n vố n ngân
hà ng củ a DNNVV.
- Từ đó đưa ra cá c giả i phá p nhằ m mở rộ ng cho vay đố i vớ i cá c
DNNVV
3. Đố i tượ ng và phạ m vi nghiên cứ u
- Đố i tượ ng nghiên cứ u: Lý luậ n và thự c trạ ng về hoạ t độ ng cho vay tạ i
ngân hà ng TMCP VPBank Đà Nẵ ng đố i vớ i DNNVV.
- Phạ m vi nghiên cứ u: Hoạ t độ ng cho vay củ a ngân hà ng TMCP
VPBank Đà Nẵ ng đố i vớ i DNNVV từ năm 2007 đế n năm 2011.
4. Phương phá p nghiên cứ u:
Phương phá p lý luậ n theo chủ nghĩ a duy vậ t biệ n chứ ng kế t hợ p vớ i
phương phá p khả o sá t thự c tế , thố ng kê, phân tí ch, tổ ng hợ p và so sá nh...
Cụ thể :
-
Trên cơ sở nộ i dung đề ra, thự c hiệ n thu nhậ p, thố ng kê số liệ u từ
bá o cá o tổ ng kế t hoạ t độ ng củ a ngân hà ng TMCP VPBank Đà Nẵ ng
- Thự c hiệ n so sá nh tương đố i, tuyệ t đố i, phân tí ch số liệ u để đưa ra
cá c đá nh giá về tì nh hì nh thự c tế và tì m hiể u nguyên nhân cụ thể về nhưng
kế t quả đạ t đượ c cũ ng như nhữ ng khó khăn, tồ n tạ i trong quá trì nh tiế p cậ n
vố n vay củ a cá c DNNVV tạ i đị a bà n thà nh phố Đà Nẵ ng để từ đó đưa ra
giả i phá p cụ thể .
- Tham khả o cá c qui đị nh văn bả n nhà nướ c, đị a phương có liên
quan và cá c giá o trì nh, tà i liệ u, tạ p chí từ cá c cơ quan ban ngà nh, cá c đề tà i
nghiên cứ u có liên quan để phụ c vụ nộ i dung nghiên cứ u.
giấy tờ có giá, cho thuê tài chính và các hình thức khác theo qui định của
Ngân hàng Nhà nước.
Hay tín dụng là quan hệ chuyển nhượng quyền sử dụng vốn từ ngân
hàng cho khách hàng trong khoảng thời gian nhất định với một khoản chi phí
nhất định.
1.1.1.2 Đặc điểm tín dụng ngân hàng
- Phân phối tín dụng mang tính hoàn trả: Xuất phát từ nguyên tắc hoàn
trả, người cho vay khi chuyển giao tài sản cho người đi vay phải có cơ sở để
tin rằng người đi vay sẽ trả đúng hạn. Đây là yếu tố cơ bản trong quá trình
hoạt động cho vay.
- Hoạt động tín dụng có sự vận động đặc biệt của giá cả: Giá trị hoàn
trả thông thường lớn hơn giá trị lúc cho vay, hay nói cách khác là người đi
vay phải trả thêm phần lãi ngoài phần vốn gốc. Để thực hiện được nguyên
tắc này phải xác định lãi suất danh nghĩa lớn hơn tỷ lệ lạm phát, tức lãi suất
thực bằng lãi suất danh nghĩa trừ tỷ lệ lạm phát. Tuy nhiên lãi suất chịu ảnh
hưởng của nhiều yếu tố khác nhau trong các giai đoạn của nền kinh tế.
6
1.1.2 Vai trò và phân loại tín dụng ngân hàng
1.1.2.1 Vai trò của tín dụng ngân hàng
a/ Tín dụng có vai trò rất quan trọng trong việc góp phần sản xuất và
lưu thông hàng hoá phát triển
- Thông qua hoạt động tín dụng có thể đáp ứng kịp thời nhu cầu vốn
cho các doanh nghiệp trong quá trình sản xuất kinh doanh, qua đó làm kích
thích sản xuất chẳng hạn như các doanh nghiệp vay vốn để sản xuất, mua
sắm máy móc thiết bị, xây dựng, mở rộng nhà xưởng.
- Mặt khác thông qua tín dụng còn có thể đáp ứng kịp thời các nhu cầu
thanh toán, có thể thanh toán không phân biệt không gian và thời gian làm
cho hàng hoá dịch chuyển từ nơi này sang nơi khác, dẫn đến kích thích quá
sung vốn lưu động cho các doanh nghiệp trong lãnh vực công nghiệp,
thương mại và dịch vụ.
- Cho vay bất động sản: là loại hình cho vay liên quan đến việc mua
sắm và xây dựng bất động sản: nhà ở, đất đai, bất động sản trong lãnh vực
công nghiệp, thương mại và dịch vụ.
- Cho vay cá nhân: Là loại hình cho vay để đáp ứng các nhu cầu tiêu
dùng như: mua sắm các vật dụng tiêu dùng, và các khoản cho vay để trang
trải chi phí thông thường của đời sống cá nhân
- Cho vay nông nghiệp: là loại hình cho vay để trang trải các chi phí
sản xuất như: phân bón, thuốc trừ sâu, giống cây trồng, thức ăn gia súc, lao
động, nhiên liệu,... Nhằm tạo điều kiện và khuyến khích ngành nông nghiệp
phát triển, ngày càng góp phần xây dựng. nâng cao đời sống nông thôn.
- Cho vay các định chế tài chính: bao gồm cấp tín dụng cho các ngân
hàng, công ty tài chính, công ty bảo hiểm, công ty cho thuê tài chính, các
quỹ tín dụng và các định chế tài chính khác.
b/ Phân theo thời hạn tín dụng
Ở Việt Nam, theo quy chế cho vay của tổ chức tín dụng đối với khách
8
hàng và quyết định 1627/2001/QĐ-NHNN/ngày 31/12/2001 của Thống đốc
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam thì:
- Cho vay ngắn hạn: là các khoản vay có thời hạn cho vay đến 12
tháng và được sử dụng để bù đắp sự thiếu hụt vốn lưu động của các doanh
nghiệp và các nhu cầu chi tiêu ngắn hạn của cá nhân
- Cho vay trung hạn: là các khoản vay có thời hạn cho vay từ trên 12
tháng đến 60 tháng. Thông thường được các doanh nghiệp sử dụng để đầu tư
mua sắm tài sản cố định, cải tiến, đổi mới trang thiết bị, công nghệ, mở rộng
sản xuất kinh doanh, đầu tư xây dựng các dự án mới có quy mô nhỏ và thời
gian thu hồi vốn nhanh. Bên cạnh đầu tư cho tài sản cố định, cho vay trung
phạm vi hạn mức tín dụng để thanh toán tiền mua hàng hoá, dịch vụ và rút
tiền mặt tại máy rút tiền tự động hoặc điểm ứng tiền mặt là đại lý của tổ
chức tín dụng. Khi cho vay phát hành và sử dụng thẻ tín dụng, tổ chức tín
dụng và khách hàng phải tuân theo các quy định của Chính phủ và Ngân
hàng Nhà nước Việt Nam về phát hành và sử dụng thẻ tín dụng.
- Cho vay theo hạn mức thấu chi: Là việc cho vay mà ngân hàng thỏa
thuận bằng văn bản chấp thuận cho khách hàng cho vượt số tiền có trong tài
khoản thanh toán của khách hàng trong pham vi hạn mức tín dụng. Tuy
nhiên hình thức tín dụng này cũng gặp nhiều rủi ro trong việc hoàn trả của
khách hàng. Vì vậy chỉ áp dụng cho những khách hàng có khả năng tài chính
vững mạnh, có tín nhiệm trong quan hệ tín dụng với ngân hàng.
d/ Phân theo đảm bảo của khoản vay:
- Cho vay đảm bảo bằng tài sản: Là loại cho vay dựa trên cơ sở các
bảo đảm cho tiền vay như thế chấp, cầm cố, hoặc bảo lãnh của một bên thứ
ba nào khác.
10
- Cho vay đảm bảo không bằng tài sản: Là loại cho vay không có tài
sản thế chấp, cầm cố, hoặc bảo lãnh của người khác mà chỉ dựa trên uy tín
của khách hàng vay vốn để quyết định cho vay. Các ngân hàng thường cấp
vốn vay cho khách hàng không có tài sản thế chấp, ngoài căn cứ vào uy tín
của bản thân khách hàng còn căn cứ vào dòng tiền về của phương thức vay
vốn.
e/ Phân theo phương hoàn trả:
- Cho vay hoàn trả một lần: khi đó các khoản vay sẽ được hoàn trả
một lần vào thời gian xác định trong hợp đồng tín dụng, lãi vay có thể được
hoàn trả theo thoả thuận trong hợp đồng (theo tháng, theo quý hoặc theo
năm)
- Cho vay hoàn trả nhiều lần: Việc hoàn trả được tiến hành theo định
TIÊU CHÍ DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA
- Sản xuất : dưới 100 LĐ
- Phi sản xuất: dưới 20 LĐ
- Doanh nghiệp nhỏ: dưới 100 LĐ
- Doanh nghiệp vừa: 101- 499 LĐ
- Sản xuất:dưới 300 LĐ hoặc dưới 100 triệu Yên
- Bán lẻ, dịch vụ: dưới 50 LĐ hoặc dưới 10 triệu Yên
- Dưới 500 LĐ
- Công nghiệp, xây dựng: vốn góp dưới 40 triệu NT$,
dưới 300 LĐ
ĐÀI LOAN
- Khai khoáng: vốn góp dưới 40 triệu NT$, dưới 500
LĐ
- Thương mại, vận tải và dịch vụ khác: dưới 40 triệu
NT$, doanh thu, dưới 50 LĐ
(Nguồn: số liệu tổng hợp )
Đối với nước ta, căn cứ theo nghị định 56/2009/NĐ-CP ban hành ngày
30/6/2009 về trợ giúp phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa ta có khái niệm
DNNVV được định nghĩa như sau: Doanh nghiệp nhỏ và vừa là cơ sở kinh
doanh đã đăng ký kinh doanh theo quy định pháp luật, được chia thành ba
cấp: siêu nhỏ, nhỏ và vừa theo quy mô tổng nguồn vốn (tổng nguồn vốn
tương đương tổng tài sản được xác định trong bảng cân đối kế toán của
doanh nghiệp) hoặc số lao động bình quân năm (tổng nguồn vốn là tiêu chí
ưu tiên), cụ thể như sau:
từ trên 20 tỷ từ trên 200
trở xuống
người đến đồng đến 100 người đến
và thủy sản
II. Công
10 người trở 20 tỷ đồng
200 người
tỷ đồng
300 người
từ trên 10 từ trên 20 tỷ từ trên 200
nghiệp và
xuống
(người)
Doanh nghiệp vừa
xuống
trở xuống
người đến đồng đến 100 người đến
xây dựng
kinh tế thế giới hiện nay, các DNNVV có vai trò quan trong đối với sự tăng
trưởng của nền kinh tế, ổn định kinh tế, chính trị và xã hội cả thành thị và
nông thôn, trên các vùng miền của đất nước, phát huy các nguồn nội lực, tài
năng kinh doanh, tiền vốn, tài nguyên, lao động... tận dụng mọi cơ hội để
phát triển góp phần quan trọng vào sự nghiệp công nghiệp hóa đất nước, cụ
thể:
- DNNVV có vai trò trong sự tăng trưởng của nền kinh tế, góp phần
quan trọng trong sự gia tăng thu nhập quốc dân đều đặn và ổn định.
13
- DNNVV đóng vai trò quan trọng trong việc tạo công ăn việc làm,
giải quyết thất nghiệp hiệu quả, làm tăng thu nhập cho người lao động góp
phần xóa đói giảm nghèo và ổn định xã hội.
- DNNVV đóng góp đáng kể vào nguồn ngân sách Nhà nước và huy
động ngày càng nhiều nguồn vốn trong xã hội nhằm đầu tư và phát triển kinh
tế. Ngoài ra các DNNVV còn góp phần xây dựng các công trình văn hóa, cơ
sở hạ tầng như trường học, khu thể dục thể thao, đường xá, cầu cống, nhà
tình nghĩa, nhà tình thương và các công trình phúc lợi khác ở tất cả các địa
phương trong cả nước.
- DNNVV góp phần gia tăng xuất khẩu: với đà tăng trưởng của khoa
học công nghệ, kết hợp với sự mở cửa của thị trường, đa phương hóa đa
dạng hóa. Nhiều doanh nghiệp đã phát triển xuất khẩu, nhiều sản phẩm được
các doanh nghiệp xuất khẩu ủy thác trực tiếp hoặc hoặc ủy thác qua các
doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp nước ngoài.
- DNNVV góp phần tạo lập sự phát triển cân bằng và chuyển dịch cơ
cấu kinh tế theo vùng lãnh thổ: Xuất phát từ nền kinh tế nông nghiệp yếu
kém, sự phát triển của DNNVV đã góp phần đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu
kinh tế và cơ cấu lao động trong nước, thu hút được ngày càng nhiều lao
động ở nông thôn cũng như một số lượng lớn lao động bắt đầu tham gia vào
từ chủ thể và đối tượng của mình cho vay DNNVV có những đặc điểm sau:
- DNNVV tồn tại và phát triển ở hầu hết các lĩnh vực, các ngành nghề,
các thành phần kinh tế vì vậy nhu cầu vay vốn, thời hạn vay vốn, hình thức
vay vốn, … rất khác nhau và đa dạng.
- DNNVV có vốn đầu tư ban đầu ít nên chu kỳ SXKD của doanh
nghiệp thường ngắn dẫn đến khả năng thu hồi vốn nhanh tạo điều kiện cho
doanh nghiệp kinh doanh hiệu quả.
- DNNVV có tính năng động cao trước những thay đổi của thị trường,
các DNNVV có khả năng chuyển hướng kinh doanh và chuyển hướng mặt
15
hàng nhanh để thích ứng với sự phát triển của thị trường. Vì vậy nhu cầu vay
vốn cũng thường xuyên thay đổi theo hướng kinh doanh của doanh nghiệp
về hình thức vay, qui mô, thời hạn,..
- DNNVV tồn tại ở mọi thành phần kinh tế, ngành nghề, lĩnh vực với
số lượng các DNNVV lớn tạo nên nhu cầu vốn lớn và phân tán thông qua đó
cũng đồng nghĩa phân tán rủi ro.
Bên cạnh những thuận lợi của việc cho vay DNNVV cũng còn gặp
nhiều khó khăn:
- Năng lực kinh doanh còn hạn chế, do quy mô vốn nhỏ nên các
DNNVV không có điều kiện đầu tư quá nhiều vào nâng cấp, đổi mới máy
móc, mua sắm thiết bị công nghệ tiên tiến, hiện đại nên DNNVV cũng gặp
nhiều khó khăn làm cho các mặt hàng của DNNVV khó tiêu thụ trên thị
trường. Điều này làm cho việc thu hồi vốn vay gặp nhiều khó khăn.
- Năng lực quản lý còn thấp: Một bộ phận lớn chủ doanh nghiệp và
giám đốc doanh nghiệp tư nhân chưa được đào tạo bài bản về kinh doanh và
quản lý, thiếu phương án, dự án vay vốn khả thi, thiếu kiến thức kinh tế-xã
hội và kỹ năng quản trị kinh doanh là ảnh hưởng không nhỏ đến quan hệ tín
dụng với ngân hàng.
Việc mở rộng cho vay được phản ánh qua các nhóm chỉ tiêu sau:
a/ Mở rộng qui mô cho vay DNNVV:
- Tăng trưởng dư nợ cho vay DNNVV: Chỉ tiêu dư nợ phản ánh lượng
vốn vay mà khách hàng đang còn nợ Ngân hàng tại một thời điểm cụ thể.
Việc mở rộng qui mô cho vay thể hiện qua việc đánh giá tăng trưởng dư nợ
thông qua phân tích các khía cạnh như: dư nợ theo thời hạn, theo các thành
phần kinh tế, theo phương thức cho vay,... Nếu chỉ tiêu này tăng cho thấy
hoạt động mở rộng cho vay của ngân hàng đối với khách hàng ngày càng lớn
- Tăng trưởng số lượng DNNVV vay vốn: chỉ tiêu phản ánh số lượng
khách hàng của ngân hàng qua các thời kỳ, cho thấy khả năng thu hút khách
17
hàng trong thời gian qua và thị phần của ngân hàng được mở rộng hay
không. Trong nền kinh tế thị trường hiện nay, các ngân hàng cạnh tranh gay
gắt về mọi mặt nhằm thu hút khách hàng. Vì vậy để tồn tại và phát triển hoạt
động kinh doanh theo hướng lâu dài bền vững cần mở rộng mạng lưới hoạt
động của ngân hàng, duy trì các mối quan hệ khách hàng cũ, củng cố tạo uy
tín tốt cho ngân hàng nhằm tìm kiếm thêm khách hàng mới, đẩy mạnh hoạt
động kinh doanh của ngân hàng.
- Tăng dư nợ bình quân khách hàng: chỉ tiêu phản ánh lượng vốn vay
bình quân/khách hàng đang còn nợ tại một thời điểm cụ thể. Việc mở rộng
cho vay cũng phải tính đến việc tăng dư nợ của mỗi khách hàng. Hiện nay
nguồn vốn kinh doanh của doanh nghiệp chủ yếu dựa vào nguồn vốn vay từ
ngân hàng, kinh hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp càng phát triển thì
nhu cầu vay vốn càng gia tăng. Điều này có sự ảnh hưởng từ phía ngân hàng
về hỗ trợ vốn vay cho doanh nghiệp như tăng hạn mức cho vay, quản lý chặt
chẽ nguồn tiền vay cũng như nguồn tiền trả nợ vay, ... và một số hỗ trợ khác
về phía ngân hàng để tăng dư nợ bình quân khách hàng, một mặt giúp doanh
nghiệp ngày càng phát triển kinh doanh, một mặt tăng thu nhập cho ngân
Thống đốc Ngân hàng, nợ xấu bao gồm các nhóm nợ cụ thể tại Điều 6 Quyết
định số 493/2005/QĐ-NHNN như sau:
* Nhóm 3 (Nợ dưới tiêu chuẩn) bao gồm:
- Các khoản nợ quá hạn từ 91 ngày đến 180 ngày;
- Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu, trừ các khoản nợ
điều chỉnh kỳ hạn trả nợ lần đầu phân loại vào nhóm 2 theo quy định tại
Điểm b Khoản này
- Các khoản nợ được miễn hoặc giảm lãi do khách hàng không đủ khả
năng trả lãi đầy đủ theo hợp đồng tín dụng;
- Các khoản nợ khác được phân vào nhóm 3 theo qui định tại Khoản 3
Điều này.
* Nhóm 4 (Nợ nghi ngờ) bao gồm:
- Các khoản nợ quá hạn từ 181 đến 360 ngày;
19
- Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu quá hạn dưới 90
ngày theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần đầu;
- Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ hai
- Các khoản nợ khác được phân vào nhóm 4 theo qui định tại Khoản 3
Điều này.
* Nhóm 5 (Nợ có khả năng mất vốn) bao gồm:
- Các khoản nợ quá hạn trên 360 ngày;
- Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu quá hạn từ 90 ngày
trở lên theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần đầu;
- Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ hai quá hạn theo thời
hạn trả nợ được cơ cấu lại lần thứ hai;
- Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ ba trở lên, kể cả chưa
bị quá hạn hoặc đã quá hạn;
- Các khoản nợ khoanh, nợ chờ xử lý;
x 100%
Tổng dư nợ cho vay
Khoản xoá nợ ròng = Khoản vay đã xoá nợ – Khoản thu bù đắp thiệt
hại.
Chỉ tiêu tỷ lệ nợ xấu chưa phải là căn cứ tin cậy để đánh giá mức độ
rủi ro mà ngân hàng phải đối mặt, để đánh giá chính xác hơn về mức độ rủi
ro, người ta sử dụng chỉ tiêu tỷ lệ nợ xóa ròng. Đây là chỉ tiêu đánh giá khả
năng thu nợ từ các khoản nợ đã chuyển ra ngoại bảng và đang được ngân
hàng sử dụng các biện pháp để đòi. Khoản xóa nợ ròng là một số khoản cho
vay không còn giá trị và ngân hàng xóa khỏi sổ sách (theo dõi ngoại bảng)
được gọi là khoản cho vay được xóa nợ. Nếu một trong những khoản cho
vay đó mà cuối cùng ngân hàng cũng thu được thì khoản thu nhập đó sẽ
khấu trừ tổng các khoản xóa nợ tạo thành khoản xóa nợ ròng.
21
Khoản xóa nợ ròng là mức tổn thất thật sự, phản ảnh mức rủi ro trong
hoạt động cho vay của ngân hàng. Do vậy, nếu tỷ lệ này cao cho thấy hoạt
động tín dụng của ngân hàng bị tổn thất lớn, danh mục cho vay có chất
lượng thấp, hoạt động kinh doanh không hiệu quả.
Như vậy, việc mở rộng cho vay của ngân hàng là tăng tổng dư nợ vay
của khách hàng, tăng số lượng khách hàng, .. trên cơ sở kiểm soát được rủi
ro, đảm bảo lợi nhuận và an toàn cho ngân hàng.
1.2.2.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến việc mở rộng cho vay đối với
doanh nghiệp nhỏ và vừa của ngân hàng thương mại
a/ Các nhân tố thuộc về Ngân hàng thương mại
- Chính sách tín dụng của ngân hàng: Để đạt mục tiêu đề ra, một ngân
hàng trong từng thời kỳ sẽ có những chính sách tín dụng riêng của mình như
Cán bộ ngân hàng có thể coi là người tiếp xúc với khách hàng, thẩm định
cho vay, lập tờ trình, người ra quyết định,… Về mặt tích cực của nhân tố con
người, nếu cán bộ ngân hàng có đạo đức nghề nghiệp và trình độ chuyên
môn cao sẽ là vô cùng lý tưởng đối với hoạt động cho vay. Cán bộ ngân
hàng sẽ làm tăng năng suất công việc, nâng cao chất lượng, đẩy nhanh được
tốc độ cho vay, đồng thời vẫn có thể đảm bảo được an toàn cho các món vay,
tránh rủi ro cho ngân hàng. Cán bộ ngân hàng được đào tạo về chuyên môn
nghiệp vụ, có tinh thần trách nhiệm cao thì hoạt động cho vay hầu như luôn
tốt đẹp.
Tuy nhiên, vẫn tồn tại những nguyên nhân làm cho yếu tố con người
có thể ảnh hưởng không tốt tới các khoản cho vay. Nguyên nhân có thể kể
đến như cán bộ tín dụng vi phạm đạo đức nghề nghiệp: đòi hoa hồng, phần
trăm, cố tình cản trở, kéo dài thời gian, làm sai sự thật, báo cáo sai,… ảnh
hưởng tới hoạt động cho vay. Hoặc cán bộ tín dụng có quan điểm bảo thủ
đối với một số ngành nghề, lĩnh vực, loại hình doanh nghiệp, phương thức
sản xuất kinh doanh,… Sự đánh giá của cán bộ ngân hàng vẫn còn mang tính
cảm tính, thói quen, kinh nghiệm. Việc lựa chọn nhân sự tốt, có đạo đức
nghề nghiệp, giỏi về năng lực quản lý cũng như chuyên môn (năng lực phân
tích, đánh giá, hiệu quả kinh doanh của dự án, đánh giá giá trị tài sản đảm
23
bảo, giám sát khoản vay,…) sẽ giúp ngân hàng ngăn ngừa được những sai
phạm đáng tiếc có thể xảy ra, hạn chế rủi ro tín dụng.
- Thông tin và trang thiết bị công nghệ: Có thể nói thông tin và trang
thiết bị công nghệ cũng đóng góp một phần không nhỏ vào quyết định mở
rộng cho vay của ngân hàng. Thông tin chính là nguồn nguyên liệu đầu vào
giúp cho tiến trình tín dụng được thông suốt. Đó chính là thông tin về khách
hàng, về đối thủ cạnh tranh, về môi trường kinh doanh, kinh tế chính trị xã
hội, pháp luật,… Nắm vững thông tin sẽ giảm thiểu rủi ro do thiếu thông tin
- Tài sản đảm bảo: Tuy hoàn trả tín dụng không phải là mục đích kinh
doanh của ngân hàng nhưng đây là cơ sở quan trọng nhất để thực hiện mục
tiêu kinh doanh. Để đảm bảo thu hồi được nợ, ngân hàng phải xem xét một
cách thận trọng từ uy tín đến năng lực của khách hàng từ đó sẽ áp dụng các
phương pháp cho vay thích hợp . Nếu khách hàng được đánh giá tốt trong
kinh doanh, với khả năng tài chính mạnh, chấp hành tốt các hợp động tín
dụng trong quá khứ và có nhiều triển vọng trong tương lai thì ngân hàng có
thể cho vay mà không cần đảm bảo. Còn trong trường hợp ngược lại, nếu
doanh nghiệp không đáp ứng được các điều kiện cho phép thì ngân hàng sẽ
đòi hỏi ở doanh nghiệp tài sản đảm bảo. Tài sản đảm bảo là một trong những
tiêu chuẩn khi xét duyệt cho vay, nhưng phải thấy rằng đây không phải là
tiêu chuẩn quan trọng nhất hay nói cách khác không phải là tiêu chuẩn mang
tính nguyên tắc.
c/ Các nhân tố thuộc môi trường kinh tế - xã hội
Hoạt động của các NHTM chịu ảnh hưởng rất lớn của môi trường kinh
tế, chính trị và xã hội. Một ngân hàng dù có gắng đến đâu trong hoạt động
kinh doanh của mình nhưng nếu gặp một trường kinh tế, chính trị và xã hội
không ổn định thì cũng khó mà thành công. Chính vì vậy mà việc nghiên cứu
môi trường kinh doanh là hoạt động thường xuyên của mỗi NHTM.
- Môi trường kinh tế
Môi trường kinh tế phát triển sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động
25
tín dụng của ngân hàng. Trong môi trường kinh tế phát triển lành mạnh thì
các chủ thể tham gia nền kinh tế đang hoạt động có hiệu quả sẽ thúc đẩy mở
rộng quy mô sản xuất kinh doanh, vì vậy mà hiệu quả của hoạt động tín dụng
cũng sẽ được nâng lên. Như vậy hiệu quả hoạt động tín dụng của NHTM sẽ
chịu sự ảnh hưởng rất lớn của môi trường kinh tế mà nó hoạt động. Vấn đề
đặt ra đối với các ngân hàng là phải làm tốt công tác dự báo và cung với đó