MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong những năm gần đây tình hình kinh tế xã hội càng phát
triển về công nghệ khoa học kỹ thuật lẫn cả về nhận thức con người
cũng tiến bộ, cuộc sống vật chất, mức sống con người ngày càng
tăng cao hơn so với trước kia. Giá trị con người ngày càng được đề
cao, quyền con người được ghi nhận hơn, mỗi người đều có những
quyền bất khả xâm phạm tính mạng, sức khỏe. Họ được phép bảo vệ
họ chống lại sự tấn công của người khác, đôi khi hành động bảo vệ
đó có thể gây ra những thiệt hại cho người khác, nhưng được pháp
Luật hình sự thừa nhận và được loại trừ tính chất tội phạm của hành
vi, loại trừ trách nhiệm hình sự. Những trường hợp hành vi gây thiệt
hại trong xã hội được loại trừ trách nhiệm hình sự hiện nay được
pháp luật thừa nhận và không coi là tội phạm tương đối phổ biến
trong đó có phòng vệ chính đáng. Phòng vệ chính đáng là hành vi của
người vì muốn bảo vệ những lợi ích hợp pháp có thể của mình hoặc
của cá nhân, tổ chức khác mà chống trả lại một cách cần thiết người
đang có hành vi xâm phạm các lợi ích nói trên. Phòng vệ chính đang
không phải là tội phạm. Chính vì vậy để phòng và chống lại những
hành vi xâm phạm đến quyền bất khả xâm phạm của con người nói
chung, xâm phạm tính mạng, sức khỏe con người được thể hiện qua
hành vi phòng vệ chính đáng nói riêng là việc cấp bách luôn được
Đảng và Nhà nước ta quan tâm, đề cao và chú trọng. Tác giả chọn đề
tài “Phòng vệ chính đáng theo pháp luật Luật hình sự Việt Nam từ
thực tiễn thành phố Đà Nẵng” để nghiên cứu làm đề tài luận văn tốt
nghiệp của mình nhằm đóng góp một phần công sức nhỏ của mình
vào việc xây dựng về mặt Luật hình sự nói chung và vấn đề xác định
phòng vệ chính đáng trong Luật hình sự nói riêng.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Như vậy, Có rất nhiều công trình nghiên cứu đề cập đến vấn
1
- So sánh chế định phòng vệ chính đáng trong pháp luật Hình
sự Việt Nam với pháp luật Hình sự một số quốc gia trên thế giới
2
- Chỉ ra một số hạn chế, bất cập trong pháp luật Hình sự Việt
Nam về chế định phòng vệ chính đáng
- Đề xuất các kiến nghị để góp phần hoàn thiện các quy định
về phòng vệ chính đáng trong pháp luật Hình sự Việt Nam.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu: Đối tượng nghiên cứu của luận
văn là những quan điểm lý luận, quy định của pháp luật thực định và
thực tiễn áp dụng các quy định của pháp luật hình sự Việt Nam về
phòng vệ chính đáng.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
- Về nội dung:
Luận văn không chỉ nghiên cứu khái niệm, điều kiện của
phòng vệ chính đáng mà còn nghiên cứu những vấn đề khác liên quan
đến phòng vệ chính đáng như vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng
và các trường hợp phạm tội do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng.
- Về thời gian, không gian:
Luận văn khảo sát thực tiễn áp dụng các quy định của pháp
luật hình sự về phòng vệ chính đáng trên địa bàn thành phố Đà Nẵng
từ năm 2012 đến năm 2016.
5. Phƣơng pháp luận và phƣơng pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp luận: Luận văn được thực hiện dựa trên
phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa
duy vật lịch sử, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng Cộng
sản Việt Nam và nhà nước Việt Nam về xây dựng Nhà nước và pháp
luật xã hội chủ nghĩa; về đấu tranh phòng, chống tội phạm; các tri
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÒNG VỆ CHÍNH ĐÁNG
1.1. Khái niệm của phòng vệ chính đáng
1.1.1. Khái niệm
Điều 13 Bộ luật hình sự năm 1985 quy định: “Phòng vệ
chính đáng là hành vi vì bảo vệ lợi ích của nhà nước, của tập
thể, bảo vệ lợi ích chính đáng của mình, của người khác mà chống
trả lại một cách tương xứng người có hành vi xâm phạm các lợi ích
nói trên.
4
Phòng vệ chính đáng không phải là tội phạm”.
Khái niệm phòng vệ chính đáng quy định tại Điều 13 Bộ luật
hình sự năm 1985 đã được sửa đổi bổ sung và tiếp tục được quy định
tại Điều 15 bộ luật hình sự năm 1999 như sau:
“Phòng vệ chính đáng là hành vi của người vì bảo vệ lợi ích
của nhà nước, của tổ chức, bảo vệ quyền lợi ích chính đáng của mình
hoặc của người khác mà chống trả lại một cách cần thiết
người đang có hành vi xâm phạm các lợi ích nói trên.
Phòng vệ chính đáng không phải là tội phạm”.
Như vậy, khái niệm phòng vệ chính đáng trong Bộ luật hình
sự năm 1999 có sự hoàn thiện hơn so với khái niệm phòng vệ chính
đáng trong Bộ luật hình sự năm 1985. Khái niệm này thể hiện rõ bản
chất xã hội, pháp lý của phòng vệ chính đáng. Nó là cơ sở thống nhất
cho việc xác định một hành vi được coi là phòng vệ chính đáng, qua
đó phát huy được tính tích cực của phòng vệ chính đáng trong đấu
tranh phòng chống tội phạm.
1.1.2. Đặc điểm
- Phòng vệ chính đáng không phải là tội phạm.
- Phòng vệ chính đáng là quyền chứ không phải nghĩa vụ
Tóm lại, trong mọi trường hợp để xem xét hành vi phòng vệ
có phải là cần thiết (chính đáng) hay vượt quá giới hạn phòng vệ
chính đáng, cần xem xét, đánh giá đầy đủ và toàn diện tất cả các điều
kiện (dấu hiệu) nêu trên có liên quan đến hành vi xâm hại cũng như
hành vi phòng vệ.
1.3. Vƣợt quá giới hạn của phòng vệ chính đáng
1.3.1. Khái niệm
Một trong những điều kiện của phòng vệ chính đáng là sự
chống trả người có hành vi xâm hại phải là sự chống trả cần thiết,
phù hợp với tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi xâm
hại. Nếu không thỏa mãn điều kiện này thì bị coi là vượt quá giới hạn
phòng vệ chính đáng.
Khoản 2 Điều 15 BLHS năm 1999 quy định “ Vượt quá giới
hạn phòng vệ chính đáng là hành vi chống trả rõ ràng vượt quá mức
6
cần thiết, không phù hợp với tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã
hội của hành vi xâm hại”.
Như vậy, vượt quá phòng vệ chính đáng thực chất là trường
hợp do đánh giá sai tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành
vi xâm hại nên người phòng vệ đã lựa chọn những công cụ, phương
tiện, biện pháp chống trả gây thiệt hại rõ ràng quá mức cần thiết cho
người có hành vi xâm hại, trong khi không cần thiệt phải chống trả
gây thiệt hại đến như vậy vẫn có khả năng bảo vệ được những lợi ích
hợp pháp.
Vấn đề phức tạp về lý luận và thực tiễn là ranh giới giữa
phòng vệ chính đáng và vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng thật
sự chưa rõ ràng, cụ thể. Do vậy, để phân định trường hợp nào là
phòng vệ chính đáng, trường hợp nào là vượt quá giới hạn phòng vệ
hạn phòng vệ chính đáng (Điều 106). Đây là hai tội được xây dựng
dưới dạng cấu thành giảm nhẹ đặc biệt vì thế loại và mức hình phạt
quy định đối với hai tội phạm này ít nghiêm khắc do với hai tội phạm
tương ứng quy định tại Điều 93 và Điều 104BLHS.
Ngoài trách nhiệm hình sự, người có hành vi vượt quá giới
hạn phòng vệ chính đáng có thể phải chịu trách nhiệm dân sự theo
quy định của Bộ luật dân sự.
1.4. Phân biệt phòng vệ chính đáng với các trƣờng hợp
không phải là phòng vệ chính đáng và trƣờng hợp loại trừ trách
nhiệm hình sự khác.
1.4.1. Phân biệt phòng vệ chính đáng với tình thế cấp thiết
Trong các trường hợp loại trừ trách nhiệm hình sự, ngoài
trường hợp phòng vệ chính đáng còn có tình thế cấp thiết được quy
định tại điều 16 BLHS có một số nội dung gần giống với phòng vệ
chính đáng. Do vậy, cần phải phân biệt để tránh nhầm lẫn.
Tình thế cấp thiết là tình thế của người vì muốn tránh một
nguy cơ đang thực tế đe dọa lợi ích của Nhà nước, của tổ chức,
quyền, lợi ích chính đáng của mình hoặc của người khác mà không
còn cách nào khác là phải gây một thiệt hại nhỏ hơn thiệt hại cần
ngăn ngừa. Hành vi gây thiệt hại trong tình thế cấp thiết không phải
8
là tội phạm
1.4.2. Phân biệt phòng vệ chính đáng với phòng vệ tưởng
tượng
Ngoài hai hình thức phòng vệ quá sớm hoặc quá muộn, còn
có một hình thức phòng vệ khác nữa đó là “phòng vệ” tưởng tượng.
Đó là sự phòng vệ trong trường hợp không có hành vi xâm hại trên
thực tế nhưng người “phòng vệ” lại tưởng lầm hành vi hợp pháp của
hành vi phòng vệ quá sớm sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội
giết người hoặc cố ý gây thương tích...
1.4.4. Phân biệt Phòng vệ chính đáng với phòng vệ quá
muộn
Theo Từ điển giải thích thuật ngữ luật học của Trường Đại
học Luật Hà Nội, Nhà xuất bản Công an nhân dân năm 1999, tr.68 có
đưa ra khái niệm phòng vệ quá muộn như sau: Phòng vệ quá muộn là
hành vi phòng vệ khi sự tấn công thực sự đã chấm dứt. Đây là trường
hợp cơ sở làm phát sinh quyền phòng vệ đã không còn nữa và do vậy
việc gây thiệt hại cho kẻ tấn công lúc này sẽ không được coi là hợp
pháp. Người có hành vi phòng vệ quá muộn phải chịu trách nhiệm
hình sự khi đủ các điều kiện khác.
Dưới góc độ khoa học luật hình sự, phòng vệ quá muộn là
hành vi trả thù cá nhân, tự ý xử lý hành vi phạm pháp khác, nó không
còn ý nghĩa trong việc đấu tranh phòng, chống tội phạm nữa mà đã
mang tính nguy hiểm cho xã hội ở mức độ nào đó. Do vậy, hành vi
phòng vệ quá muộn không những không được pháp luật cho phép mà
nó còn bị pháp luật trừng trị như đôi với tội phạm thông thường.
Thực tiễn xét xử cho thấy việc phân biệt giữa hành vi vượt
quá giới hạn phòng vệ chính đáng và hành vi phòng vệ quá muộn là
tương đối khó khăn mà yêu cầu xác định sự khác nhau đó là rất quan
trọng. Bởi vì, hành vi phạm tội do vượt quá giới hạn phòng vệ chính
đáng là hành vi phạm tội có tình tiết giảm nhẹ đặc biệt nên trách
nhiệm hình sự cũng như hình phạt áp dụng đối với người thực hiện
hành vi đó là rất nhẹ. Tuy nhiên, nhưng nếu là phạm tội trong trường
hợp phòng vệ quá muộn thì chỉ được coi là tội phạm thông thường.
10
Khi xét xử các vụ án hình sự như vậy, ta có thể coi tình tiết “phạm tội
Người viết xin nêu ra những vụ điển hình:
Vụ án xảy ra vài ngày 18/10/2014 tại phường An Hải Tây,
quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng.
Tại bản án sơ thẩm số 97/2015/HSST ngày 17/8/2015 Tòa án
nhân dân TP Đà Nẵng quyết định: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hồ
Thuận phạm tội “Giết người do vượt quá giới hạn phòng vệ chính
đáng”. Áp dụng khoản 1 Điều 96, điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46
BLHS xử phạt bị cáo Nguyễn Hồ Thuận 15 tháng tù. Thời hạn tù tính
từ ngày 21/12/2014.
Ngày 23/8/2015 đại diện hợp pháp của người bị hại có đơn
kháng cáo với nội dung đề nghị tăng mức hình phạt, tăng mức bồi
thường và đề nghị xử bị cáo Nguyễn Hồ Thuận tội giết người.
Tại phiên Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân cấp cao nhận định,
hành vi của anh Bình tại quán nhậu của anh Thanh là tự gây sự, cầm
chai bia đánh anh Thuận vô căn cứ dù được mọi người can ngăn, đã
ra về sau đó còn quay lại cầm đao tự tạo chém Thuận, Thuận giơ ghế
lên đỡ thì Bình chém đứt chân ghế sau đó định chém vào cùi tay trái
của Thuận. Khi Thuận lui vào nhà bếp thì nhặt con dao đâm lên khi
Bình tiếp tục lao vào chém Thuận, mũi dao đâm vào cổ Bình dẫn đến
Bình chết, hành vi của Thuận chống trả sự tấn công của Bình, được
xem là phòng vệ chính đáng. Tòa án TP Đà Nẵng đã xử phạt Thuận
về tội danh và hình phạt là đúng người, đúng tội có căn cứ pháp luật,
không có căn cứ để chấp nhận kháng cáo của đại diện bị hại.
Như vậy có thể nhận thấy cơ quan điều tra, Viện kiểm sát,
HĐXX từ cấp sơ thẩm đến phúc thẩm đều có chung quan điểm thống
nhất hành vi vi phạm của Bình và hành vi chống trả của Thuận. Dù
bản án sơ thẩm bị kháng cáo nhưng xem xét dưới góc độ khách quan,
các bằng chứng và nhân chứng của vụ án thì hành vi của Thuận cấu
thành tội giết người do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng chứ
Thứ sáu, chưa phân biệt được rõ phòng vệ chính đáng với
hành vi phạm tội trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh dẫn
đến áp dụng chưa đúng.
2.2.2.2. Nguyên nhân của những hạn chế, thiếu sót
13
Một là, Bộ luật hình sự Việt Nam mặc dù đã được sửa đổi,
bổ sung năm 2009, nhưng qua tình hình thực tế, xã hội ngày càng
thay đổi, thực tiễn thi hành cho thấy cần tiếp tục nghiên cứu để hoàn
thiện hơn nữa các quy định về phòng vệ chính đáng, các tội phạm do
vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng.
Hai là, một số cán bộ của các cơ quan bảo vệ pháp luật, Tòa
án trình độ nhận thức về các quy định pháp luật hình sự còn hạn chế
và chưa đầy đủ.
Ba là, thực tiễn xét xử đòi hỏi trong pháp luật hình sự phải
kịp thời, sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với tình hình mới.
Bốn là, do nguyên nhân chủ quan, một số vụ án đã vi phạm
các quy định liên quan đến phòng vệ chính đáng, các tội phạm do
vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng trong Bộ luật hình sự, qua đó,
gây thiệt hại cho các lợi ích của Nhà nước, của xã hội, quyền và lợi
ích hợp pháp của công dân vì động cơ vụ lợi hay động cơ cá nhân
khác, gây ảnh hưởng đến công tác phòng và chống tội phạm.
Năm là, do phương pháp, lề lối làm việc và trách nhiệm của
một số cán bộ làm công tác điều tra, truy tố, xét xử chưa cao, nên
việc quản lý, xử lý, giải quyết vụ án chưa thật sâu, thật kỹ.
CHƢƠNG 3
NHỮNG YẾU TỐ ĐẢM BẢO VÀ GIẢI PHÁP ÁP DỤNG
ĐÚNG QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
VỀ PHÒNG VỆ CHÍNH ĐÁNG
xâm phạm bao gồm quyền và lợi ích chính đáng của người phòng vệ
hoặc của người khác, lợi ích của Nhà nước, của tổ chức, nhưng bị
xâm phạm trong trường hợp như thế nào thì hành vi chống trả được
coi là phòng vệ chính đáng, trường hợp nào thì không được coi là
phòng vệ chính đáng…
Điều này đòi hỏi phải có văn bản giải trình, hướng đẫn,
nhưng trên thực tế những văn bản giải thích, hướng dẫn áp dụng các
quy định của Bộ luật hình sự thường không theo kịp và không đầy
đủ. Những hạn chế, bất cập này sẽ gây không ít khó khăn, vướng mắc
15
trong thực tiễn áp dụng và ảnh hưởng không nhỏ đến việc áp dụng
đúng đắn quy phạm pháp luật hình sự quy định về phòng vệ chính
đáng trong thực tiễn đấu tranh phòng, chống tội phạm.
3.1.2. Trình độ ý thức pháp luật trong xã hội
Trình độ ý thức pháp luật của cán bộ, công chức và nhân dân,
nhất là của những người tiến hành tố tụng cũng là một trong những
yếu tố, điều kiện cực kì quan trọng đảm bảo cho pháp luật hình sự
nói chung, quy phạm pháp luật hình sự quy định về phòng vệ chính
đáng nói riêng được thi hành, áp dụng chính xác, đúng đắn trong thực
tiễn.
Khi đã có trình độ, ý thức pháp luật cần thiết, câc chủ thể
pháp luật sẽ có những hành vi pháp luật tích cực, biết sử dụng các
quy định của pháp luật về phòng vệ chính đáng để bảo vệ quyền và
lợi ích chính đáng của người dân, lợi ích của nhà nước, của tổ chức,
đấu tranh không khoan nhượng với các hành vi xâm phạm bất hợp
pháp đến những lợi ích cần phải bảo vệ, điều quan trọng là họ áp
dụng các vi phạm pháp luật về phòng vẹ chính đáng được chính xác
và đúng đắn.
quan có thẩm quyền cần phải nhanh và chính xác hơn nữa. Do đó
việc bổ sung hoàn thiện các quy phạm pháp luật hình sự về phòng vệ
chính đáng và các quy phạm pháp luật có liên quan sẽ là căn cứ giúp
cho những người tiến hành tố tụng đánh giá chính xác nhất tính chất,
mức độ, điều kiện, nhằm xác định hành vi đó là phòng vệ chính đáng
hay vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng để xét xử đảm bảo đúng
người, đúng tội.
Hệ thống hóa và chính xác công tác thống kê tư pháp, thống
kê hình sự; xây dựng các chuyên đề tập huấn về phòng vệ chính đáng
và các tội phạm do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng và tiếp tục
ban hành các văn bản hướng dẫn áp dụng thống nhất các quy định
của Bộ luật hình sự còn chưa thống nhất, vướng mắc, đặc biệt liên
quan đến vấn đề trên.
3.2.2. Bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ,
kiến thức pháp luật, đạo đức nghề nghiệp cho đội ngũ cán bộ có
17
thẩm quyền áp dụng pháp luật
Việc tiến hành bồi bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn,
nghiệp vụ, kiến thức pháp luật, đạo đức nghề nghiệp cho đội ngũ cán
bộ có thẩm quyền áp dụng pháp luật, nhất là đội ngũ Thẩm phán, Hội
thẩm sẽ giúp cho công tác nghiên cứu hồ sơ, thực hiện xét xử chính
xác hơn, công bằng hơn, tránh oan sai. Giúp cho người dân thêm tin
tưởng vào pháp luật qua đó thúc đẩy việc thực hiện theo pháp luật
của quần chúng nhàn dân góp phần làm xã hội trở nên trong sạch.
Ngoài ra còn phải tiếp tục nâng cao và đổi mới công tác
tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật trong nhân dân, chủ động
phòng ngừa vi phạm pháp luật và tội phạm trong xã hội; xây dựng
Quy chế cho các Câu lạc bộ phòng, chống tội phạm, Đội Dân phòng.
hội, các quyền nhân thân, tài sản và các quyền khác của mình hoặc
của người khác, gây thiệt hại cho người có hành vi xâm hại bất hợp
pháp, thì không phải chịu trách nhiệm hình sự.
Người có hành vi phòng vệ chính đáng rõ ràng vượt quá
giới hạn cần thiết và gây thiệt hại lớn thì phải chịu trách nhiệm hình
sự, nhưng cần được giảm nhẹ, áp dụng khung hình phạt nhẹ hơn
hoặc được miễn hình phạt.
Người có hành vi phòng vệ đối với tội phạm đang
hành hung, giết người, cướp của, hiếp dâm, bắt cóc hoặc các tội
bạo lực khác, gây thương tích hoặc làm chết người phạm tội, không
thuộc trường hợp vượt quá giới hạn phòng vệ, không phải chịu
trách nhiệm hình sự
Theo tác giả, có hai nội dung các nhà làm luật nước ta có
thể tham khảo khi sửa đổi, bổ sung Bộ luật hình sự như sau:
- Người có hành vi phòng vệ chính đáng rõ ràng vượt quá
giới hạn cần thiết và gây thiệt hại lớn thì phải chịu trách nhiệm hình
sự, nhưng cần được giảm nhẹ, áp dụng khung hình phạt nhẹ
hơn hoặc được miễn hình phạt, trong khi Bộ luật hình sự nước ta
chỉ quy định chung - phải chịu trách nhiệm hình sự và xem nó là
một tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự (điểm c khoản 1 Điều
46);
19
- Người có hành vi phòng vệ đối với tội phạm đang
hành hung, giết người, cướp của, hiếp dâm, bắt cóc hoặc các tội bạo
lực khác, gây thương tích hoặc làm chết người phạm tội, không
thuộc trường hợp vượt quá giới hạn phòng vệ, không phải chịu
trách nhiệm hình sự, trong khi Bộ luật hình sự nước ta quy định. Do
đó, để khuyến khích, động viên và bảo đảm công dân thực hiện tốt
phép sẽ phải chịu truy cứu trách nhiệm hình sự. Từ đó có thể thấy
yếu tố vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng được quy định tại
khoản 2 Điều 15 BLHS đã là một yếu tố làm giảm nhẹ hành vi nguy
hiểm cho xã hội hơn. Mà đặc điểm của tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm
hình sự của yếu tố vượt quá phòng vệ chính đáng là: nó không phải là
tình tiết được dùng làm căn cứ xác định một hành vi tội phạm và sự
mất đi của tình tiết này không làm mất tính tội phạm của hành vi như
các tình tiết định tội thông thường khác. Sự xuất hiện của tình tiết
giảm nhẹ này chỉ làm thay đổi tội danh theo hướng nhẹ hơn thôi.
Người có hành vi chống trả vượt mức cần thiết trong phòng
vệ chính đáng chỉ được phép gây thiệt hại cho tính mạng sức khỏe
của người khác đã được BLHS quy định với tư cách là tình tiết định
tội tại Điều 96 tội giết người do vượt quá giới hạn phòng vệ chính
đáng và Điều 106 tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe
của người khac do vượt quá phòng vệ chính đáng. Ngoài hai trường
hợp này không còn trường hợp nào được xem là vượt quá giới hạn
phòng vệ chính đáng. Cho nên việc quy định thêm tình tiết giảm nhẹ
tại điểm c khoản 1 Điều 46 BLHS là không cần thiết, việc quy định
tình tiết giảm nhẹ ở đây chỉ có ý nghĩa giảm tính nguy hiểm cho xã
hội và được xác định thuộc loại tội danh nhẹ hơn chứ không được coi
là tính tiết giảm nhẹ khi quyết định hình phạt.
Thứ hai, cần có văn bản hướng dẫn cụ thể dưới dạng nghị
định hay thông tư quy định các căn cứ để tránh trường hợp nhầm lẫn
giữa phòng vệ chính đáng với phạm tội do tinh thần bị kích động.
Nếu hành vi tấn công vừa khiến cho bên bị hại vừa kích động
mạnh về tinh thần vừa làm phát sinh quyền phòng vệ chính đáng thì
việc tiên viện dẫn áp dụng sẽ là phòng vệ chính đáng. Vì áp dụng chế
21
22
Quang, quận Sơn Trà, TP. Đà Nẵng) 5 năm từ về tội “giết người” có
ý kiến cho rằng không nên truy cứu trách nhiệm hình sự đối với ông
Long vì kẻ bị chết chính là kẻ trộm.
KẾT LUẬN
Phòng vệ chính đáng là một trong những tình tiết loại trừ
tính chất tội phạm của hành vi, loại trừ trách nhiệm hình sự. Việc
nhận thức và áp dụng đúng các quy định của pháp luật hình sự về chế
định này sẽ góp phần không chỉ nâng cao hiệu quả đấu tranh phòng,
chống tội phạm, bảo vệ quyền con người của các cơ quan bảo vệ
pháp luật, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa và còn phát huy
được tinh thần tích cực, chủ động của quần chúng nhân dân tham gia
vào cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm.
Tuy nhiên cho đến nay vấn đề phòng vệ chính đáng chưa
được khoa học luật Hình sự quan tâm nghiên cứu một cách đầy đủ và
có hệ thống. Trong khi đó thực tiễn điều tra ruy tố và xét xử ở nước
ta nói chung và ở thành phố Đà Nẵng nói riêng trong thời gian qua
cho thấy còn nhiều vướng mắc trong nhận thức và áp dụng các quy
định của pháp luật hình sự về phòng vệ chính đáng. Phần lớn sai lầm
của các cơ quan tiến hành tố tụng trong xử lý các vụ án có liên quan
đến phòng vệ chính đáng là do nhận thức không đúng, không đầy đủ
về phòng vệ chính đáng. Mặt khác, ranh giới giữa phòng evej chính
đáng với vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng, giữa bị coi là tội
phạm với không bị coi là tội phạm quá gần nhau, nên rất dễ bị lạm
dụng trong thực tiễn áp dụng vì những động cơ cơ cá nhân.
Bộ luật hình sự năm 1999 của nước ta là một bước phát triển
mới trong quá trình hoàn thiện hệ thống pháp luật hình sự, trong đó
có chế định phòng vệ chính đáng. Tuy nhiên, quy định của Bộ luật
pháp luật để góp phần quản lý xã hội, giữ vững ổn định chính trị,
phát triển kinh tế, hội nhập quốc tế, xây dựng Nhà nước trong sạch,
vững mạnh, thực hiện quyền con người, quyền tự do, dân chủ của
công dân, góp phần đưa nƣớc ta trở thành nƣớc công nghiệp theo
hướng hiện đại vào năm 2020”.
24