VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
ĐẶNG CÔNG TIẾN
TỘI THAM Ô TÀI SẢN
THEO PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
TỪ THỰC TIỄN TỈNH BÌNH ĐỊNH
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI, năm 2017
VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
ĐẶNG CÔNG TIẾN
TỘI THAM Ô TÀI SẢN
THEO PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
TỪ THỰC TIỄN TỈNH BÌNH ĐỊNH
Chuyên ngành : Luật Hình sự và Tố tụng hình sự
Mã số
:
60.38.01.04
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
ĐỊNH .............................................................................................................. 35
2.1. Khái quát về tình hình xét xử tội tham ô tài sản tại tỉnh Bình Định ........ 35
2.2. Thực tiễn định tội danh đối với tội tham ô tài sản tại tỉnh Bình Định ..... 39
2.3. Thực tiễn quyết định hình phạt đối với tội tham ô tài sản tại tỉnh Bình
Định ................................................................................................................. 52
2.4. Đánh giá thực tiễn áp dụng các quy định của pháp luật hình sự về tội
tham ô tài sản tại tỉnh Bình Định .................................................................... 61
CHƢƠNG 3. CÁC GIẢI PHÁP BẢO ĐẢM ÁP DỤNG ĐÚNG CÁC
QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VỀ TỘI THAM Ô TÀI
SẢN ................................................................................................................. 65
3.1. Hoàn thiện các quy định của pháp luật hình sự về tội tham ô tài sản ...... 65
3.2. Tổng kết thực tiễn áp dụng các quy định của pháp luật hình sự về tội
tham ô tài sản................................................................................................... 70
3.3. Nâng cao năng lực của những người áp dụng pháp luật hình sự ............. 72
3.4. Các giải pháp khác ................................................................................... 73
KẾT LUẬN .................................................................................................... 79
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BLHS
Bộ luật hình sự
BLTTHS
Bộ luật tố tụng hình sự
GS.TS
1.2.
1.3.
Phân biệt tội tham ô tài sản với một số tội phạm
khác
Cơ cấu tội tham ô tài sản so với tổng số vụ phạm tội
tham nhũng (2011 – 2015)
Hình phạt áp dụng đối với tội tham ô tài sản 20112015
Trang
25
36
56
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Với mục tiêu xây dựng bộ máy nhà nước của dân, do dân, vì dân và thật sự
trong sạch, vững mạnh, lúc sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh coi tệ tham ô là một
căn bệnh, là hành động xấu xa nhất. Người cho rằng: “Tham ô là lấy của công
làm của tư. Là gian lận tham lam”, “Tham ô là trộm cướp”. Hồ Chí Minh cho
rằng: “Đứng về phía cán bộ mà nói, tham ô là lấy của công làm của tư; đục
khoét của nhân dân; ăn bớt của bộ đội; tiêu ít mà khai nhiều, lợi dụng của
chung của chính phủ làm quỹ riêng cho địa phương, đơn vị mình cũng là tham
ô. Đứng về phía nhân dân mà nói, tham ô là “ăn cắp của công, khai gian lậu
Bình Định là 1 trong 5 tỉnh, thành phố ở khu vực duyên hải Nam Trung Bộ,
nằm trong vùng kinh tế trọng điểm miền Trung; phía Bắc giáp tỉnh Quảng Ngãi,
phía Nam giáp tỉnh Phú Yên, phía Tây giáp tỉnh Gia Lai, phía Đông giáp biển
Đông. Diện tích tự nhiên 6.025km2; dân số năm 2014 là 1.578.800 người. Có 32
dân tộc thiểu số, với khoảng 32.500 người (chiếm 2% dân số toàn tỉnh). Tỉnh có
11 huyện, thị xã, thành phố, với 159 xã, phường, thị trấn; 1.120 thôn, làng, khu
phố. Tỉnh ủy Bình Định có 17 đảng bộ trực thuộc, với 837 tổ chức cơ sở đảng,
43.908 đảng viên. Trên địa bàn tỉnh có trên 2.800 doanh nghiệp, với số lượng
công nhân lao động là 189.000 người.
Những năm qua, nền kinh tế của tỉnh liên tục tăng trưởng khá (Giá trị tổng
sản phẩm địa phương tăng bình quân trên 9%/năm), kết cấu hạ tầng kinh tế - xã
hội được đầu tư, nâng cấp đáng kể, đáp ứng tốt hơn nhu cầu phát triển; hoạt
động trên lĩnh vực văn hóa – xã hội có nhiều tiến bộ. Quốc phòng – an ninh
được tăng cường, trật tự an toàn xã hội được giữ vững. Hệ thống chính trị tiếp
tục được củng cố kiện toàn. Đời sống nhân dân cơ bản ổn định. Gắn liền với
nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh, Ban Thường
vụ Tỉnh ủy luôn dành sự quan tâm đặc biệt đến lãnh đạo, chỉ đạo công tác
phòng, chống tham nhũng; cấp ủy, chính quyền, mặt trận, đoàn thể các cấp đã có
2
nhiều cố gắng quyết tâm trong việc tổ chức triển khai thực hiện đồng bộ các giải
pháp về phòng ngừa tham nhũng. Các vụ việc, vụ án tham nhũng được các cơ
quan công an, viện kiểm sát, tòa án xử lý kịp thời và nghiêm minh, được dư luận
nhân dân đồng tình, góp phần quan trọng trong việc phòng, chống và hạn chế
thấp nhất tình hình tham nhũng trên địa bàn tỉnh. Tuy nhiên, trong quá trình điều
tra, truy tố, xét xử các vụ việc, vụ án tham nhũng nói chung, tham ô tài sản nói
riêng vẫn còn những vướng mắc, tồn tại, có một phần nguyên nhân quan trọng
đó là Bộ Luật Hình sự năm 1999 đã có hiệu lực pháp luật hơn 15 năm, nhiều
quy định không còn phù hợp hoặc chưa được hướng dẫn, giải thích cụ thể nên
thực tiễn tỉnh Quảng Nam” của tác giả Mai Văn Sang…
Các công trình nghiên cứu nói trên mang lại giá trị lý luận và thực tiễn nhất
định cho công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng nói chung, tội tham ô tài
sản nói riêng. Tuy nhiên việc nghiên cứu mới chỉ dừng lại dưới dạng các bài viết
đăng trên các tạp chí khoa học chuyên ngành, một phần, mục trong các đề tài, đề
án, giáo trình, sách tham khảo mà chưa ở cấp độ một luận văn thạc sĩ luật hình
sự và tố tụng hình sự hoặc mới chỉ tiếp cận ở góc độ tội phạm học…hoặc đã
nghiên cứu ở thời điểm tương đối lâu so với hiện nay, chưa cập nhật những vấn
đề mới của thực tiễn áp dụng pháp luật. Do vậy, với khoa học luật hình sự và tố
tụng hình sự, đề tài này cần phải tiếp tục được nghiên cứu, làm rõ hơn đối với
loại tội phạm này trong điều kiện xây dựng nhà nước pháp quyền theo Hiến
pháp năm 2013 và quá trình hội nhập sâu kinh tế quốc tế của nước ta.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Từ nghiên cứu các vấn đề lý luận, các vấn đề về luật thực định và thực tiễn
áp dụng quy định của luật thực định để xử lý tội tham ô tài sản trên địa bàn tỉnh
Bình Định, luận văn mong muốn đề xuất một số giải pháp góp phần hoàn thiện
pháp luật hình sự và nâng cao hiệu quả định tội danh và quyết định hình phạt đối
với tội tham ô tài sản.
4
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích trên, nhiệm vụ nghiên cứu đặt ra là:
- Nghiên cứu những vấn đề lý luận và pháp luật về tội tham ô tài sản theo
pháp luật hình sự Việt Nam.
- Đánh giá thực trạng định tội danh và quyết định hình phạt đối với tội tham
ô tài sản trên địa bàn tỉnh Bình Định.
- Đưa ra các giải pháp nhằm hoàn thiện quy phạm pháp luật về tội tham ô
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1. Ý nghĩa lý luận
- Kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần làm giàu và phong phú thêm lý
luận chuyên ngành Luật Hình sự: Luận văn đưa ra khái niệm tội tham ô tài sản,
phân biệt với các tội danh khác, luận giải các dấu hiệu pháp lý về chủ thể, khách
thể, mặt khách quan, mặt chủ quan của tội phạm này theo quy định của BLHS
1999; nhận định, đánh giá những bước phát triển nổi bật của pháp luật Việt Nam
quy định về tội tham ô tài sản từ năm 1945 cho đến nay.
- Luận văn đưa ra bức tranh tổng quan về thực tiễn vận dụng pháp luật
trong điều tra, truy tố, xét xử tội tham ô tài sản tại tỉnh Bình Định từ năm 2011
đến năm 2015.
6.2.Ý nghĩa thực tiễn
- Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể được tham khảo trong thực tiễn
định tội danh và quyết định hình phạt đối với các cơ quan có thẩm quyền.
- Luận văn đưa ra những đề xuất kiến nghị nhằm hoàn thiện quy phạm pháp
luật hình sự về tội tham ô tài sản và các giải pháp hữu quan khác.
- Luận văn có thể là tài liệu tham khảo bổ ích trong nghiên cứu, giảng dạy,
học tập chuyên ngành Luật Hình sự và Luật tố tụng Hình sự.
7. Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, Luận
văn gồm 3 chương với kết cấu như sau:
6
Chương 1:Những vấn đề lý luận và pháp luật về tội tham ô tài sản theo
pháp luật hình sự Việt Nam
Chương 2: Thực tiễn áp dụng các quy định của pháp luật hình sự về tội
tham ô tài sản tại tỉnh Bình Định từ năm 2011 – 2015
Chương 3:Các giải pháp bảo đảm áp dụng đúng các quy định của pháp luật
8
biến thành quyền lực kinh tế. Tham nhũng, tham ô làm thâm hụt công quỹ, rút
ruột công trình xây dựng, giảm mức phúc lợi. Ở tầm khái quát cao hơn, có thể
nói tham nhũng, tham ô làm chậm sự phát triển kinh tế - xã hội, làm giảm lòng
tin của nhân dân vào nhà nước, đến một giai đoạn nào đó nó có thể gây mất ổn
định chính trị, kinh tế - xã hội, thậm chí làm sụp đổ cả một thể chế chính trị.
Như vậy, khái niệm về tội tham ô theo luật hình sự Việt Nam và Tổ chức
Minh bạch Quốc tế tương đối thống nhất: Nó chính là hành vi của người có chức
vụ, quyền hạn trong cơ quan, tổ chức đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn để chiếm
đoạt tài sản công.
Tác giả cho rằng: tham ô tài sản là hành vi chiếm đoạt tài sản của cơ quan,
tổ chức thành của riêng cho bản thân hay cho người khác mà bản thân chủ thể có
trách nhiệm quản lý xâm hại vào hoạt động đúng đắn của cơ quan, tổ chức, đồng
thời xâm hại vào quyền sở hữu tài sản của cơ quan, tổ chức.
1.2. Quy định của pháp luật hình sự hiện hành về tội tham ô tài sản
BLHS 1999, tội tham ô tài sản được quy định ở Điều 278 cụ thể: “Người
nào lợi dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản mà mình có trách nhiệm
quản lý có giá trị từ năm trăm nghìn đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc
dưới năm trăm nghìn đồng nhưng thuộc một trong những trường hợp sau đây thì
bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:
a) Gây hậu quả nghiêm trọng;
b) Đã bị xử lý kỷ luật về hành vi này mà còn vi phạm;
c) Đã bị kết án về một trong các tội quy định tại mục A Chương này, chưa
được xóa án tích mà còn vi phạm”.
Như vậy, so với BLHS 1985 đã có sự thay đổi cơ bản: tính chất của đối
tượng tác động là tài sản “xã hội chủ nghĩa” bị chiếm đoạt đã thay đổi, nghĩa là
tài sản bị chiếm đoạt không chỉ là tài sản thuộc sở hữu XHCN nữa mà là tài sản
hữu XHCN. Nay tội tham ô tài sản được quy định tại Chương các tội phạm về
chức vụ thì khách thể của tội phạm vẫn còn có những ý kiến khác nhau. Có ý
kiến cho rằng khách thể của tội tham ô tài sản là quan hệ sở hữu về tài sản của
10
nhà nước, của tổ chức vì nó trực tiếp xâm phạm đến quan hệ sở hữu. Có thể còn
những ý kiến khác nhau nhưng theo chúng tôi thì khách thể của tội tham ô tài
sản không còn là chế độ sở hữu XHCN nữa, mà là quan hệ sở hữu của các thành
phần kinh tế khác. Đồng thời, nó còn xâm phạm hoạt động đúng đắn của cơ
quan, tổ chức; bởi vì người có chức vụ, quyền hạn đã làm không đúng, làm sai
chức trách, làm trái các nguyên tắc, chính sách, chế độ quản lý tài sản thuộc lĩnh
vực công tác của mình phụ trách và bằng cách đó đã chiếm đoạt tài sản.
Với tư cách là một bộ phận cấu thành khách thể, đối tượng tác động của tội
phạm cũng cần được xem xét đến. Trong trường hợp này, đối tượng tác động
của tội phạm chính là tài sản mà người có chức vụ, quyền hạn đang trực tiếp
quản lý và thông qua việc tác động đến tài sản này kẻ phạm tội mới có thể xâm
hại đến khách thể của tội phạm.
Tuy nhiên, điều luật không quy định cụ thể tài sản đó gồm những loại tài
sản nào; do đó, việc áp dụng điều luật trong thực tế hiện nay đang gặp rất nhiều
vướng mắc, đặc biệt là trong trường hợp tài sản thuộc các hình thức sở hữu đan
xen với nhau trong quá trình góp cổ phần…Để giải quyết vấn đề này cần phải
xác định rõ khái niệm tài sản với ý nghĩa là đối tượng tác động của tội tham ô tài
sản và về vấn đề này hiện còn có nhiều ý kiến khác nhau.
Có ý kiến cho rằng, để xác định hành vi phạm tội có cấu thành tội tham ô
tài sản hay không thì ngoài yếu tố thuộc dấu hiệu định tội của tội phạm thì cần
phải xác định rõ tài sản bị chiếm đoạt là tài sản của ai. Những người đồng ý với
loại ý kiến này cho rằng khái niệm “tài sản” được hiểu là:
Thứ nhất, tài sản đó phải là tài sản chung của nhiều người;
Thứ hai, tài sản đó phải là tài sản của Nhà nước, của tổ chức chính trị, tổ
vốn nước ngoài.
- Hành vi của người không có chức vụ, quyền hạn hoặc của người có chức
vụ, quyền hạn nhưng không có trách nhiệm quản lý tài sản mà chiếm đoạt tài sản
của cơ quan, tổ chức.
12
1.2.1.2. Mặt khách quan của tội tham ô tài sản
Đối với tội tham ô tài sản, các dấu hiệu thuộc mặt khách quan là những dấu
hiệu rất quan trọng để xác định hành vi phạm tội cũng như để phân biệt tội tham
ô tài sản với các tội phạm khác.
Trước hết, người phạm tội tham ô tài sản phải là người có hành vi lợi dụng
chức vụ, quyền hạn của mình để chiếm đoạt tài sản.
Lợi dụng chức vụ, quyền hạn để chiếm đoạt tài sản là do người có chức vụ,
quyền hạn thực hiện và hành vi chiếm đoạt tài sản đó có liên quan trực tiếp đến
chức vụ, quyền hạn của họ. Tuy nhiên, người phạm tội phải lợi dụng chức vụ,
quyền hạn để chiếm đoạt tài sản do mình có trách nhiệm quản lý thì mới bị coi
là tham ô tài sản. Nếu hành vi chiếm đoạt tài sản do người có chức vụ, quyền
hạn thực hiện nhưng không liên quan gì đến chức vụ, quyền hạn của họ thì dù họ
có chức vụ, quyền hạn cũng không bị coi là tham ô tài sản.
Chiếm đoạt tài sản là hành vi chuyển dịch bất hợp pháp tài sản từ chủ sở
hữu thành tài sản của mình hoặc của người khác mà mình quan tâm. Hành vi
chuyển dịch bất hợp pháp tài sản có thể được thực hiện dưới nhiều hình thức
khác nhau, có trường hợp người phạm tội tự chuyển dịch tài sản như: thủ quỹ tự
lấy tiền trong két, thủ kho tự lấy tài sản trong kho đem bán…Cũng có trường
hợp việc chuyển dịch tài sản lại do người khác thực hiện theo lệnh của người
phạm tội như: giám đốc lệnh cho thủ quỹ đưa tiền cho mình; kế toán lập phiếu
thu, phiếu chi, chuyển khoản theo lệnh của người phạm tội…
1.2.1.3. Chủ thể của tội tham ô tài sản
ngân sách nhà nước.
2. Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch,
chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ
chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị
thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp,
công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà
không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo,
14
quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước,
tổ chức chính trị - xã hội (sau đây gọi chung là đơn vị sự nghiệp công lập),
trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước; đối với công chức trong
bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thì lương được bảo
đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật.
3. Cán bộ xã, phường, thị trấn (sau đây gọi chung là cấp xã) là công dân
Việt Nam, được bầu cử giữ chức vụ theo nhiệm kỳ trong Thường trực Hội đồng
nhân dân, Ủy ban nhân dân, Bí thư, Phó Bí thư Đảng ủy, người đứng đầu tổ
chức chính trị - xã hội; công chức cấp xã là công dân Việt Nam được tuyển
dụng giữ một chức danh chuyên môn, nghiệp vụ thuộc Ủy ban nhân dân cấp xã,
trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước.”.
Về vấn đề xác định tư cách chủ thể đối với tội tham ô tài sản, ngoài chức vụ
mà họ có do bầu cử, bổ nhiệm, do hợp đồng hoặc do một hình thức khác, có
hưởng lương hoặc không hưởng lương thì điều quan trọng là những người này
có được giao thực hiện một công vụ hay không. Đây là dấu hiệu rất quan trọng
nhưng trong thực tiễn điều tra, truy tố, xét xử, các cơ quan tiến hành tố tụng và
người tiến hành tố tụng không chú ý đến dấu hiệu này mà chỉ chú ý đến chức vụ,
quyền hạn mà người phạm tội có, nên không ít trường hợp người phạm tội chỉ
lợi dụng chức vụ, quyền hạn để chiếm đoạt tài sản do mình có trách nhiệm quản
lý đã vội xác định họ phạm tội tham ô, mà không xác định hành vi lợi dụng chức
cơ quan, tổ chức mình...
1.2.1.4. Mặt chủ quan của tội tham ô tài sản
Tội tham ô tài sản là tội phạm có tính chất chiếm đoạt nên cũng như đối với
những tội có tính chất chiếm đoạt khác, người phạm tội thực hiện hành vi của
mình là cố ý (cố ý trực tiếp); tức là, người phạm tội nhận thức rõ hành vi của
mình là nguy hiểm cho xã hội, thấy trước hậu quả của hành vi đó và mong muốn
hậu quả xảy ra; không có trường hợp tham ô tài sản nào được thực hiện do cố ý
gián tiếp, vì người phạm tội bao giờ cũng mong muốn chiếm đoạt được tài sản.
Hơn ai hết, bản thân người thực hiện tội phạm, ngay từ khi ý định phạm tội nảy
16
sinh đã nhận thức được rõ ràng, cụ thể những thiệt hại về tài sản; đồng thời, ở
cương vị của mình, họ cũng hoàn toàn có đủ khả năng để hiểu rằng họ đang trực
tiếp xâm phạm hoạt động đúng đắn của cơ quan, tổ chức trong lĩnh vực quản lý
tài sản nói chung và quản lý kinh tế tài chính nói riêng.
Mặc dù nhận thức được như thế nhưng kẻ phạm tội vẫn cố tình thực hiện
bằng được mục đích chiếm đoạt của mình, sự cố tình đó đặc biệt được thể hiện
trong những trường hợp kẻ phạm tội sử dụng những thủ đoạn tinh vi, khéo léo
để che đậy hành vi của mình. Mặt khác, khi thực hiện hành vi phạm tội, kẻ phạm
tội bao giờ cũng có mục đích vụ lợi, bao giờ y cũng có mong muốn biến tài sản
mà y có trách nhiệm trực tiếp quản lý thành tài sản của cá nhân y để thỏa mãn
những nhu cầu vật chất của mình.
Có thể nói mục đích chiếm đoạt tài sản là dấu hiệu bắt buộc của cấu thành
tội tham ô tài sản. Nếu mục đích của người phạm tội chưa đạt được (chưa chiếm
đoạt được tài sản) thì thuộc trường hợp phạm tội chưa đạt.
1.2.2. Hậu quả pháp lý của tội tham ô tài sản
Hậu quả của tội tham ô tài sản là những thiệt hại vật chất hoặc phi vật chất
cho xã hội. Hậu quả của tội tham ô tài sản xét về phương diện các yếu tố cấu
thành tội phạm thì không phải là dấu hiệu bắt buộc, tức là dù hậu quả chưa xảy
hành vi tham ô tài sản gây ra là những thiệt hại nghiêm trọng đến tính mạng, sức
khỏe, tài sản và những thiệt hại phi vật chất cho xã hội. Ngoài các thiệt hại về
tính mạng, sức khỏe và tài sản, thì thực tiễn cho thấy có thể còn có hậu quả phi
vật chất như ảnh hưởng xấu đến việc thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng,
chính sách của Nhà nước, gây ảnh hưởng về an ninh, trật tự, an toàn xã
hội…Trong các trường hợp này phải tùy vào từng trường hợp cụ thể để đánh giá
mức độ của hậu quả do tội phạm gây ra đã là nghiêm trọng chưa.
* Tham ô tài sản thuộc các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 278
BLHS
Trường hợp phạm tội quy định tại khoản 1 Điều 278 BLHS là cấu thành cơ
bản của tội tham ô tài sản, có khung hình phạt từ hai năm đến bảy năm tù. So
18
với tội tham ô tài sản XHCN quy định tại Điều 133 BLHS 1985, nếu chỉ căn cứ
vào khung hình phạt thì khoản 1 Điều 278 BLHS 1999 không nặng hơn và cũng
không nhẹ hơn, nhưng căn cứ vào các dấu hiệu quy định thì khoản 1 Điều 278
BLHS 1999 không có lợi cho người phạm tội, vì khoản 1 Điều 133 BLHS 1985
quy định chiếm đoạt tài sản có giá trị năm triệu đồng trở lên mới bị truy cứu
trách nhiệm hình sự, còn khoản 1 Điều 278 BLHS 1999 quy định chiếm đoạt tài
sản có giá trị hai triệu đồng đã bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội tham ô tài
sản.
Khi quyết định hình phạt đối với người phạm tội tham ô tài sản theo khoản
1 Điều 278 BLHS, Tòa án căn cứ vào các quy định về quyết định hình phạt tại
Chương VII BLHS (từ Điều 45 đến Điều 54). Nếu người phạm tội có nhiều tình
tiết giảm nhẹ quy định tại Điều 46 BLHS, không có tình tiết tăng nặng, thì có
thể được áp dụng dưới mức thấp nhất của khung hình phạt (dưới hai năm tù);
nếu có đủ điều kiện quy tại Điều 60 BLHS thì được hưởng án treo. Nếu người
phạm tội có nhiều tình tiết tăng nặng quy định tại Điều 48 BLHS, không có tình
tiết giảm nhẹ thì có thể bị phạt đến bảy năm tù.