Quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng - Pdf 45

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

PHẠM THANH THỦY

QUYẾT ĐỊNH HÌNH PHẠT
DƢỚI MỨC THẤP NHẤT CỦA KHUNG
HÌNH PHẠT ĐƢỢC ÁP DỤNG TỪ THỰC TIỄN
THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI, năm 2017


VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

PHẠM THANH THỦY

QUYẾT ĐỊNH HÌNH PHẠT
DƢỚI MỨC THẤP NHẤT CỦA KHUNG
HÌNH PHẠT ĐƢỢC ÁP DỤNG TỪ THỰC TIỄN
THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
Chuyên ngành : Luật Hình sự và Tố tụng hình sự
Mã số

: 60.38.01.04


DỤNG TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG VÀ THỰC TIỄN THỰC
HIỆN ......................................................................................................................... 35
2.1. Quy định của Bộ luật hình sự năm 1999 về QĐHP dưới mức thấp nhất của
khung hình phạt theo quy định của Bộ luật hình sự .................................................. 35
2.2. Thực tiễn thực hiện quy định về QĐHP dưới mức thấp nhất của khung hình
phạt tại thành phố Đà Nẵng ....................................................................................... 43
CHƢƠNG 3. CÁC GIẢI PHÁP BẢO ĐẢM ÁP DỤNG ĐÚNG QUY ĐỊNH
PHÁP LUẬT VỀ QUYẾT ĐỊNH HINH PHẠT DƢỚI MỨC THẤP NHẤT
CỦA KHUNG HÌNH PHẠT .................................................................................. 51
3.1. Hoàn thiện các quy định của BLHS về QĐHP dưới mức thấp nhất của khung
hình phạt .................................................................................................................... 51
3.2. Giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng qui định về QĐHP dưới mức thấp nhất
của khung hình phạt qui định của Bộ luật ................................................................. 53
3.3. Xây dựng án lệ và phổ biến giáo dục pháp luật ................................................. 67
3.4. Cập nhật BLHS năm 2015 ................................................................................. 68
KẾT LUẬN .............................................................................................................. 71
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO


DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
BLHS

: Bộ luật hình sự

QĐHP

: Quyết định hình phạt

TNHS


1

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Quyết định hình phạt là một trong những giai đoạn cơ bản và quan trọng của
quá trình áp dụng pháp luật hình sự vào thực tiễn xét xử các vụ án hình sự do Tòa
án thực hiện sau khi đã làm rõ các tình tiết định tội, định khung hình phạt, tính chất
và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm
nhẹ TNHS và nhân thân của người phạm tội. Quyết định hình phạt đúng pháp luật,
phù hợp với tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, có sự
cân nhắc các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ TNHS, nhân thân của người phạm tội là
cơ sở để thực hiện các nguyên tắc của luật hình sự, đặc biệt là nguyên tắc pháp chế,
nguyên tắc nhân đạo, nguyên tắc công bằng và nguyên tắc cá thể hóa hình phạt
trong quá trình áp dụng pháp luật hình sự vào thực tiễn xét xử của Tòa án.
Quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt quy định của
Bộ luật là một trường hợp đặc biệt của quyết định hình phạt, tính đặc biệt của nó thể
hiện ở mức độ giảm nhẹ hình phạt đặc biệt so với trường hợp giảm nhẹ thông
thường khác, thông thường khi quyết định hình phạt thì Tòa án quyết định mức hình
phạt trong giới hạn của chế tài, còn khi áp dụng quy định về quyết định hình phạt
nhẹ hơn thì mức hình phạt xuống dưới mức tối thiểu của chế tài, phá vỡ chế tài mà
Nhà làm luật dự kiến áp dụng đối với người phạm tội. Thực tiễn xét xử cho thấy,
các Tòa án áp dụng quy định về quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất là rất phổ
biến, điều đó thể hiện ở tỷ lệ các vụ án được áp dụng hình phạt dưới mức tối thiểu
của chế tài là khá cao so với tổng số vụ án đã xét xử, tính phổ biến còn thể hiển ở
chỗ là hầu hết các Tòa án đều áp dụng quy định về QĐHP dưới mức thấp nhất của
khung hình phạt trong hoạt động quyết định hình phạt của mình.
QĐHP dưới mức thấp nhất của khung hình phạt quy định của Bộ luật có vai
trò hết sức quan trọng đối với thực tiễn xét xử là phương tiện để đạt đến sự công
bằng xã hội và là biểu hiện của chính sách khoan hồng, nhân đạo của Nhà nước đối
với người phạm tội. Do vậy, khi áp dụng quy định về QĐHP dưới mức thấp nhất

nhẹ hơn có phải tuân thủ các quy định chung của loại hình phạt đó hay không;
vướng mắc khi QĐHP dưới mức thấp nhất của khung hình phạt trong trường hợp
chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt hoặc đối với người chưa thành niên phạm tội;
vướng mắc trong việc xác định các tình giảm nhẹ để làm căn cứ quyết định hình


3
phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt..v.v. Những bất cập, vướng mắc và
thiếu sót khi QĐHP dưới mức thấp nhất của khung hình phạt là do nhiều nguyên
nhân khác nhau, có những nguyên nhân thuộc về chủ quan của Thẩm phán và Hội
thẩm nhân dân do không nghiên cứu toàn diện các quy định của pháp luật hình sự,
cũng có những nguyên nhân khách quan là do những bất cập của pháp luật hình sự
liên quan đến QĐHP dưới mức thấp nhất của khung hình phạt. Bên cạnh đó, cùng
với sự phát triển kinh tế, chính trị và xã hội của đất nước; xu hướng toàn cầu hóa,
nhân đạo hóa thì nhiều vấn đề của luật hình sự trong đó có QĐHP dưới mức thấp
nhất hơn quy định của Bộ luật về lý luận và thực tiễn cần tiếp tục nghiên cứu hoàn
thiện để đáp ứng yêu cầu yêu cầu cấp thiết trong hoạt động xét xử của ngành Tòa án
cũng như yêu cầu cải cách tư pháp theo tinh thần Nghị quyết 49 của Bộ Chính Trị
trong giai đoạn hiện nay.
Từ những lý do trên, tác giả chọn đề tài: “Quyết định hình phạt dưới mức thấp
nhất của khung hình phạt được áp dụng từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng” làm luận
văn cao học của mình.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
QĐHP dưới mức thấp nhất của khung hình phạt quy định của Bộ luật là một
trong những đề tài có ý nghĩa về mặt lý luận và thực tiễn được nhiều tác giả có
nhiều uy tín trong lĩnh vực hình sự đề cập trong nhiều công trình khoa học khác
nhau, chẳng hạn như các Chuyên khảo: “Tìm hiểu về hình phạt và quyết định hình
phạt trong luật hình sự Việt Nam” củaThạc sĩ Đinh Văn Quế và Tiến sĩ Lê Văn Đệ,
“Quyết định hình phạt trong luật hình sự Việt Nam” của Tiến sĩ Dương Tuyết Miên,
“Các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự trong luật hình sự Việt Nam” của Tiến

thực tiễn xét xử.
Tóm lại, QĐHP dưới mức thấp nhất của khung hình phạt quy định của Bộ luật
tuy đã có nhiều tác giả nghiên cứu ở nhiều góc độ khác nhau thể hiện một phần ở
các công trình chuyên khảo, luận văn cử nhân cho đến những bài viết trên các tạp
chí chuyên ngành nhưng vẫn chưa làm rõ các vấn đề pháp lý của nó, chưa hệ thống
những vướng mắc trong thực tiễn áp dụng và chưa đưa ra những giải pháp toàn diện
để hoàn thiện pháp luật cũng như nâng cao hiệu quả áp dụng quy định về QĐHP
dưới mức thấp nhất của khung hình phạt. Do vậy, tiếp tục nghiên cứu quy định về
QĐHP dưới mức thấp nhất của khung hình phạt là cần thiết và có ý nghĩa quan
trọng trong việc hoàn thiện về mặt lý luận để đáp ứng yêu cầu thực tiễn xét xử của


5
ngành Tòa án trong giai đoạn cải cách tư pháp hiện nay.
Điều đó cho thấy yêu cầu nghiên cứu cả về lý luận và thực tiễn nhằm hoàn
thiện các quy định của pháp luật hình sự có liên quan đến việc áp dụng Điều 47
BLHS năm 1999 (Điều 54 BLHS năm 2015) là hoàn toàn có giá trị khoa học và rất
thiết thực. Làm được điều này sẽ góp phần nâng cao chất lượng hoạt động áp dụng
hình phạt, qua đó đáp ứng mục tiêu nâng cao hiệu lực, hiệu quả của công tác xét xử
các vụ án hình sự theo tinh thần của NQ số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ
Chính trị về Chiến lược Cải cách tư pháp đến năm 2020 đã đề ra.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu một cách tuyên đối có hệ thống về các vấn đề lý luận và
thực tiễn QĐHP dưới mức thấp nhất của khung hình phạt, đồng thời đi sâu phân
tích đánh giá thực tiễn của BLHS trong giai đoạn 2012-2016, trên cơ sở đó chỉ ra
một số vướng mắt, tồn tại trong thực tiễn, từ đó đề xuất một số kiến nghị, giải pháp.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu để đạt được mục đích trên, luận văn tập trung thực
hiện các nhiệm vụ nghiên cứu chủ yếu sau:

đặc biệt là BLHS năm 1999. Bên cạnh đó tập trung nghiên cứu thực tiễn áp dụng
quy định về QĐHP dưới mức thấp nhất của khung hình phạt của Tòa án nhân dân
thành phố Đà Nẵng.
5. Phƣơng pháp luận và phƣơng pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp luận
+ Cơ sở lý luận: Đề tài được thực hiện dựa trên cơ sở lý luận chủ nghĩa duy
vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử của Chủ nghĩa Mác - LêNin; Tư tưởng
Hồ Chí Minh và Nhà nước pháp quyền; Quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng
và Nhà nước về phòng, chống tội phạm, xử lý người phạm tội; Chính sách hình sự,
chính sách nhân đạo, các nguyên tắc của luật hình sự Việt Nam về vấn đề cải cách
tư pháp được thể hiện trong các Nghị quyết của Đại hội Đảng X, XI và các Nghị
quyết số 08-NQ/TW ngày 02.01.2001, Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 26.5.2005 về
Chiến lược cải cách tư pháp đến năn 2020 của Bộ Chính trị; các quy định về QĐHP
dưới mức thấp nhất của khung hình phạt quy định tại BLHS năm 1999 và căn cứ
QĐHP dưới mức thấp nhất của khung hình phạt và các văn bản hướng dẫn thi hành
BLHS năm 1999.


7
+ Cơ sở thực tiễn: Thực tiễn áp dụng căn cứ QĐHP trong hoạt động QĐHP
của TAND hai cấp TP Đà Nẵng từ khi BLHS năm 1999 đến nay.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Quá trình nghiên cứu luận văn cũng bám sát việc sử dụng các phương pháp
nghiên cứu chính của khoa học hình sự để thấy rõ mức độ hiệu quả của quy định
QĐHP dưới mức thấp nhất của khung hình phạt theo pháp luật hình sự Việt Nam,
đó là: phương pháp xã hội học, phương pháp loogic hình thức, phương pháp luật
học - lịch sử, phương pháp luật học - so sánh và phương pháp biện chứng.
Ngoài ra, luận văn còn sử dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp, thống
kê, quy nạp để phân tích cụ thể thực trạng áp dụng QĐHP dưới mức thấp nhất của
BLHS trên địa bàn thành phố Đà Nẵng, cũng như nhằm làm rõ những nguyên nhân

Chương 2: Quy định của BLHS năm 1999 về quyết định hình phạt dưới mức
thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng trên địa bàn thành phố Đà Nẵng và
thực tiễn thực hiện.
Chương 3: Các giải pháp bảo đảm áp dụng đúng quy định pháp luật về quyết
định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt.


9

CHƢƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ LỊCH SỬ LẬP PHÁP LUẬT
HÌNH SỰ VIỆT NAM VỀ QUYẾT ĐỊNH HÌNH PHẠT DƢỚI
MỨC THẤP NHẤT CỦA KHUNG HÌNH PHẠT
1.1. Khái niệm và ý nghĩa đƣợc áp dụng về quyết định hình phạt dƣới mức
thấp nhất của khung hình phạt theo pháp luật hình sự Việt Nam
1.1.1. Khái niệm và ý nghĩa của quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất
của khung hình phạt theo pháp luật hình sự Việt Nam
Mục đích của hình phạt không chỉ nhằm trừng trị người phạm tội mà còn giáo
dục họ trở thành người có ích cho xã hội, có ý thức tuân theo pháp luật, góp phần
tác động lớn đối với xã hội thông qua việc tuyên truyền, phổ biến các quy định luật
hình sự, tính nghiêm minh phán quyết của Tòa án tạo nên lòng tin của công dân, uy
tín của cơ quan tư pháp, tính nhân đạo và dân chủ của Nhà nước pháp quyền.
Khi QĐHP đối với bị cáo có hiều tình tiết giảm nhẹ, mặc dù Tòa án có thể
tuyên cho người phạm tội dưới mức thấp nhất của khung hình phạt nhưng xét về
mức độ tương xứng giữ tội phạm và hình phạt thì hình phạt vẫn chưa nghiêm khắc,
vì vậy luật hình sự cho phép Tòa án QĐHP dưới mức thấp nhất của khung hình phạt
hoặc chuyển sang một hình phạt khác thuộc loại nhẹ hơn.
Có nhiều quan điểm khoa học khác nhau về QĐHP dưới mức thấp nhất của
khung hình phạt, nhiều quan điểm khoa học chỉ dừng lại ở việc giải thích nội dung
của quy phạm pháp luật mà chưa đưa ra được tiêu chí và tiêu chuẩn quan trọng đánh

và thực hiện tùy thuộc vào từng trường hợp để quyết định một mức hình phạt dưới
mức thấp nhất thuộc một loại hình phạt được quy định trong khung hình phạt tại
điều luật cụ thể hoặc chuyển sang một loại hình phạt khác thuộc loại nhẹ hơn
khung hình phạt tại điều luật cụ thể của Phần các tội phạm BLHS mà bị cáo đã
thực hiện và Tòa án đã đưa ra xét xử”
1.1.2. Ý nghĩa của việc áp dụng về QĐHP dưới mức thấp nhất quy định của Bộ
luật
Ý nghĩa về mặt xã hội
Việc Nhà làm luật quy định QĐHP dưới mức thấp nhất quy định của Bộ luật
trong pháp luật hình sự có ý nghĩa rất quan trọng về phương diện xã hội, nó bảo


11
đảm cho việc thực hiện nguyên tắc công bằng xã hội trong lĩnh vực hình sự. Trong
lĩnh vực hình sự khi nói đến công bằng thì chúng ta có thể hiểu:
Công bằng có hai khía cạnh: Công bằng ngang bằng và công bằng phân phối,
ở khía cạnh ngang nhau của công bằng thể hiện ở việc: Quy định cơ sở TNHS thống
nhất đối với tất cả mọi người thực hiện tội phạm; quy định hệ thống tội phạm và
hình phạt thống nhất đối với tất cả mọi người phạm tội; quy định khung hình phạt
thống nhất cho mỗi loại tội phạm có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội
giống nhau; quy định cơ sở thống nhất của việc quyết định hình phạt.
- Ý nghĩa về mặt pháp lý
Về mặt pháp lý, QĐHP dưới mức thấp nhất của khung hình phạt quy định của
Bộ luật có ý nghĩa rất quan trọng thể hiện ở các khía cạnh sau:
- QĐHP dưới mức thấp nhất là quy định có ý nghĩa là phương tiện cá thể hóa
trách nhiệm hình sự sao cho hình phạt được tuyên sát nhất với tính chất, mức độ
phạm tội cụ thể
- Thể chế hóa chính sách khoan hồng, nhân đạo của Nhà nước đối với người
phạm tội.
Tóm lại, QĐHP dưới mức thấp nhất quy định của Bộ luật trong pháp luật hình

hợp điều luật chỉ có một khung hình phạt hoặc khung hình phạt đó là khung hình
phạt nhẹ nhất của điều luật, thì Toà án có thể quyết định một hình phạt dưới mức
thấp nhất của khung hoặc chuyển sang một hình phạt khác thuộc loại nhẹ hơn. Lý
do của việc giảm nhẹ phải được ghi rõ trong bản án.
Phân tích nội dung của điều luật ta thấy để có thể quyết định một hình phạt
dưới mức thấp nhất mức tối thiểu của chế tài thì cần phải đáp ứng các điều kiện về
tình tiết giảm nhẹ luật định và giới hạn giảm nhẹ hình phạt như sau:
1.2.1. Quy định của BLHS về điều kiện tình tiết giảm nhẹ để áp dụng QĐHP
dưới mức thấp nhất của khung hình phạt
Theo quy định tại Điều 47 BLHS, để QĐHP nhẹ hơn thì người phạm tội phải
có ít nhất hai tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự
Các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là các tình tiết phán ánh mức độ
giảm nhẹ tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, phản ánh khả năng cải
tạo tốt hoặc hoàn cảnh đặc biệt đáng được khoan hồng của người phạm tội. Các tình
tiết giảm nhẹ TNHS là điều kiện tiên quyết để Tòa án có thể quyết định mức hình
phạt dưới mức tối thiểu của chế tài, chỉ có những tình tiết giảm nhẹ quy định tại


13
khoản 1 Điều 46 BLHS mới được coi là tình tiết giảm nhẹ như là điều kiện và phải
đáp ứng là có ít nhất hai tình tiết giảm nhẹ này thì Tòa án mới có thể QĐHP dưới
mức tối thiểu của chế tài.
Theo quy định tại khoản 1 Điều 46 BLHS thì có các tình tiết giảm nhẹ sau:
a. Người phạm tội đã ngăn chặn, làm giảm bớt tác hại của tội phạm
Là trường hợp trong quá trình thực hiện tội phạm hoặc sau khi thực hiện tội
phạm đã có hành vi ngăn chặn không cho tác hại của tội phạm xảy ra hoặc làm giảm
bớt tác hại của tội phạm, hành vi ngăn chặn hoặc làm giảm bớt tác hại của tội phạm
được xem là tình tiết giảm nhẹ đối với mọi hình thức lỗi không phân biệt là lỗi cố ý
hay vô ý. Sự kết hợp giữa thái độ tích cực của người phạm tội là mong muốn ngăn
chặn hoặc làm giảm bớt tác hại của tội phạm với mức độ tác hại thực tế xảy là cơ sở

đ. Phạm tội trong trường hợp bị kích động về tinh thần do hành vi trái pháp
luật của người bị hại hoặc người khác gây ra
Đây là trường hợp phạm tội do người phạm tội không hoàn toàn làm chủ được
tinh thần, tình cảm của mình do tác động của một hành vi trái pháp luật của người bị
hại hoặc do người khác gây ra. Trong tình trạng trên, người phạm tội phần nào bị hạn
chế khả năng điều kiển hành vi, vì vậy họ lựa chọn cách xử sự không phù hợp với qui
định của pháp luật dẫn đến hành vi phạm tội. Đây chính là cơ sở giảm nhẹ TNHS,
mức độ giảm nhẹ phụ thuộc vào tính chất nghiêm trọng của hành vi trái pháp luật,
mức độ bị kích động về tinh thần và mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội.
e. Phạm tội vì hoàn cảnh đặc biệt khó khăn mà không do mình gây ra
Là trường hợp phạm tội dưới sự tác động của một hoàn cảnh khách quan đặc
biệt mà không do người phạm tội gây ra, là những hoàn cảnh mà tự mình người đó
không thể vượt quanhư: Thiên tai, địch họa, tai nạn, bệnh tật, thất nghiệp lâu ngày
túng quẫn về kinh tế nên dẫn đến hành vi phạm tội nhằm đáp ứng nhu cầu tối thiểu
có tính cấp bách. Khi người phạm tội rơi vào hoàn cảnh trên họ bị hạn chế về khả
năng lựa chọn hành vi, hoàn cảnh chi phối phần nào đến hành vi phạm tội của họ và
đây cũng chính là cơ sở để giảm nhẹ TNHS.
g. Phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại hoặc gây thiệt hại không lớn
Là trường hợp phạm tội nhưng thiệt hại trên thực tế chưa xảy ra hoặc đã xảy ra
nhưng không lớn, trong thực tiễn thì tình tiết này thường được áp dụng cho những
trường hợp hành vi phạm tội bị phát hiện kịp thời nên không phát sinh thiệt hại do
có sự ngăn chặn kịp thời của người khác, tài sản bị chiếm đoạt được trả lại ngay cho


15
người bị hại hoặc đã gây thiệt hại nhưng chỉ là những thiệt hại nhỏ về tài sản. Sự
hạn chế ở mức độ thiệt hại là cơ sở để giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhưng mức độ
giảm nhẹ của tình tiết này thấp hơn so với tình tiết “Người phạm tội đã ngăn chặn,
làm giảm bớt tác hại của tội phạm”, vì mức độ thiệt hại trong trường hợp này mang
tính khách quan nằm ngoài sự mong muốn chủ quan của người phạm tội.

của người đang mang thai có ảnh hưởng đến khả năng tự kiểm soát hành vi nên
phần nào ảnh hưởng đến mức độ lỗi của người phạm tội. Thể hiện chính sách nhân
đạo của Nhà nước ta đối với người phạm tội là phụ nữ có thai nhằm khoan hồng cho
hành vi phạm tội, tạo cơ hội để họ sửa chữa sai lầm và chăm sóc con khi nó được
sinh ra.
m. Người phạm tội là người già
Là tình tiết giảm nhẹ TNHS là xuất phát từ việc cho rằng người già bị giảm sút
về trí lực và thể lực nên phần nào hạn chế sự kiểm soát hành vi, bên cạnh đó thì tình
tiết giảm nhẹ này cũng thể hiện chính sách nhân đạo của Nhà nước đối với người
phạm tội là người già.
n. Người phạm tội là người có bệnh bị hạn chế khả năng nhận thức hoặc khả
năng điều khiển hành vi của mình
Đây là trường hợp phạm tội mà tại thời điểm phạm tội người phạm tội đang
trong tình trạng bị hạn chế khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi do
bị mắc bệnh. Như vậy, tình trạng bệnh tật đã ảnh hưởng đến khả năng nhận thức,
khả năng điều khiển hành vi nên mức độ lỗi trong trường hợp phạm tội này hạn chế
hơn so với trường hợp thông thường.
o. Người phạm tội tự thú
Là trường hợp tội phạm chưa được phát giác mà người phạm tội tự nguyện
khai báo hành vi phạm tội của mình với cơ quan có thẩm quyền. Về bản chất thì tự
thú khác với đầu thú, nếu tự thú là hành vi khai báo trước khi tội phạm bị phát giác
còn đầu thú thì ngược lại sau khi tội phạm đã được phát hiện thì người phạm tối mới
đến khai báo về hành vi phạm tội của mình. Người phạm tội tự thú là tình tiết giảm
nhẹ đặc biệt so với các tình tiết giảm nhẹ khác thể hiện sự hối hận về hành vi phạm
tội của mình và chấp nhận sự trừng phạt của pháp luật, điều đó phản ánh khả năng
cải tạo tốt của người phạm tội.
p. Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải
Là trường hợp tội phạm đã bị phát hiện, nhưng khi điều tra, truy tố hoặc xét xử



có hành động giúp cơ quan có thẩm quyền phát hiện tội phạm, đây được coi là sự


18
tiến bộ của người phạm tội nên tình tiết này được xem là tình tiết giảm nhẹ TNHS.
s. Người phạm tội là người có thành tích xuất sắc trong sản xuất, chiến đấu,
học tập hoặc công tác
Đây là tình tiết phản ánh quá trình phấn đấu tốt của người phạm tội trước khi
thực tội phạm, sự phấn đấu tốt đó thể hiện ở những thành tích xuất sắc trong sản
xuất, chiến đấu, học tập hoặc công tác được Nhà nước ghi nhận và phong tặng các
danh hiệu ở các cấp độ khác nhau. Cơ sở giảm nhẹ TNHS của tình tiết này xuất phát
từ đòi hỏi công bằng thông qua việc cân nhắc giữa công và tội, đồng thời cũng tính
đến khả năng cải hóa người phạm tội.
Các tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 46 BLHS là những tình tiết
giảm nhẹ có giá trị giảm nhẹ cao hơn so với các tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản
2 Điều 46 BLHS, bởi lẽ nó là những tình tiết giảm nhẹ luật định liên quan đến tính
chất mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, động cơ, mục đích phạm tội,
nhân thân người phạm tội các tình tiết giảm nhẹ này có ý nghĩa làm giảm mức độ
nguy hiểm của tội phạm, phản ánh khả năng cải tạo giáo dục hoặc hoàn cảnh đặc biệt
của người phạm tội đáng được khoan hồng. Các tình tiết giảm nhẹ theo khoản 2 Điều
46 BLHS cũng phản ánh ý nghĩa giảm nhẹ TNHS nhưng chúng là những tình tiết
giảm nhẹ do Tòa án xác định trong quá trình xét xử vụ án đối với trường hợp phạm
tội cụ thể, không phải là tình tiết giảm nhẹ luật định nên có giá trị giảm nhẹ thấp hơn
so với các tình tiết giảm nhẹ theo khoản 1 Điều 46 BLHS.
Nhà làm luật qui định điều kiện để Tòa án có thể QĐHP nhẹ hơn khi người
phạm tội đáp ứng điều kiện là phải có hai tình tiết giảm nhẹ qui định tại khoản 1
Điều 46 chứ không phải có nhiều tình tiết giảm nhẹ, trong đó có tình tiết giảm nhẹ
qui định tại khoản 2 Điều 46 hoặc có nhiều tình tiết giảm nhẹ qui định tại khoản 2
Điều 46 BLHS. Do vậy, Khi hướng dẫn áp dụng QĐHP nhẹ hơn quy định của Bộ
luật thì Tòa án ND tối cao có hướng dẫn “Cần phải hạn chế và hết sức chặt chẽ khi

hành vi phạm tội đối với người bị hại nói riêng và cho xã hội nói chung, đáng giá
mức độ ảnh hưởng của các tình tiết giảm nhẹ đối với hành vi thực hiện tội phạm của
người phạm tội. Trên cơ sở đánh giá đó Tòa án kết luận cần áp dụng mức hình phạt
nào sao cho tương xứng với hành vi phạm tội của người phạm tội nhằm bảo đảm
tính hiệu quả của hình phạt. Trong phần quyết định Tòa án viện dẫn những căn cứ
áp dụng khi QĐHP dưới mức tối thiểu của chế tài và quyết định loại, mức hình phạt
cụ thể đối với họ. Yêu cầu này nhằm đảm bảo cho Tòa án áp dụng quy định về



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status