VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
TRẦN THỊ HỒNG HẠNH
VẤN ĐỀ CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN VĂN HOÁ
TỪ THỰC TIỄN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG
HÀ NỘI, năm 2017
VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
TRẦN THỊ HỒNG HẠNH
VẤN ĐỀ CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN VĂN HOÁ
TỪ THỰC TIỄN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
Chuyên ngành : Chính sách công
Mã số
: 60 34 04 02
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG
NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS.TS TRẦN THỊ AN
HIỆN VÀ ĐỀ XUẤT CÁC VẤN ĐỀ CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN VĂN
HOÁ TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG ..................................... 63
3.1. Mục tiêu về chính sách phát triển văn hoá của thành phố Đà Nẵng đến
năm 2020, tầm nhìn 2030 ................................................................................ 63
3.2. Một số giải pháp nâng cao năng lực phát hiện và đề xuất các vấn đề chính
sách phát triển văn hoá trên địa bàn thành phố Đà Nẵng trong thời gian sắp tới
......................................................................................................................... 64
KẾT LUẬN .................................................................................................... 72
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BCHTƢ
: Ban Chấp hành Trung ƣơng
CNH, HĐH
: Công nghiệp hoá, hiện đại hoá
CSVH
: Chính sách văn hoá
ĐTH
: Đô thị hoá
KDC
2.2.
tích nằm trong danh mục kiểm kê của thành phố
Đà Nẵng năm 2015
33
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội, Việt Nam cũng nhƣ nhiều
quốc gia khác trên thế giới ngày càng nhận thức sâu sắc về tầm quan trọng
của văn hoá, cũng nhƣ CSVH đối với sự phát triển bền vững đất nƣớc.
Ở Việt Nam, từ những nhận thức đó, Đảng và Nhà nƣớc đã luôn quan
tâm và đề ra nhiều chủ trƣơng, chính sách xây dựng và phát triển sự nghiệp
văn hoá. NQTƢ5 KVIII “về xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên
tiến, đậm đà bản sắc dân tộc” đã ghi nhận một bƣớc tiến mới về việc nhận
thức vai trò của văn hóa, chính sách phát triển văn hóa đối với sự nghiệp phát
triển đất nƣớc. Trong suốt hơn 15 năm sau khi NQTƢ5 KVIII đƣợc ban hành,
nhiều CSVH đã ra đời góp phần phát triển văn hóa nƣớc nhà và những CSVH
đó không những tạo điều kiện để ngƣời dân có cơ hội sáng tạo văn hóa, mà
còn mở rộng mức hƣởng thụ văn hoá cho ngƣời dân, góp phần phát triển con
ngƣời Việt Nam một cách toàn diện.
Quán triệt quan điểm, đƣờng lối của Đảng, chính sách, pháp luật của
Nhà nƣớc về văn hoá, Đảng bộ và chính quyền thành phố Đà Nẵng hết sức
quan tâm lĩnh vực quan trọng này và những thành tựu nổi bật về phát triển
kinh tế - xã hội của thành phố thời gian qua có một phần đóng góp không nhỏ
từ các CSVH hiệu quả mang lại. Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu thì
việc hoạch định và triển khai thực hiện những CSVH của thành phố thời gian
qua vẫn tồn tại không ít những bất cập, hạn chế tác động xấu đến các lĩnh vực
chính sách công ở khía cạnh lịch sử, khái niệm, bản chất...
- Công trình Những vấn đề cơ bản về chính sách và quy trình chính sách
(NXB Đại học quốc gia thành phố Hồ Chí Minh, 2001) của Lê Chi Mai đã
đƣa ra những quan niệm về khái niệm, bản chất, vai trò... chính sách công
2
đƣợc chấp nhận rộng rãi. Công trình này cũng đã chỉ ra các bƣớc của quy
trình chính sách công, từ xây dựng đến triển khai chính sách.
- Trong bài Đánh giá chính sách công ở Việt Nam: Vấn đề và giải pháp
(trên Tạp chí Cộng sản online, ngày 17-12-2012), Nguyễn Đăng Thành đã
phân tích một khâu quan trọng của quy trình chính sách, đó là đánh giá chính
sách. Trên cơ sở đó, tác giả nhận diện vấn đề chính sách và đề xuất giải pháp.
- Trong Chƣơng trình giảng dạy kinh tế Fulbright, niên khoá 2011-2013,
tài liệu Phân tích chính sách công: Nhập môn, Chương 3: Cấu trúc các vấn
đề chính sách của William N. Dunn đã giới thiệu bản chất, đặc điểm, cấu trúc
vấn đề chính sách. Đây là một trong những nguồn tài liệu mà tác giả luận văn
tham khảo để xây dựng phần cơ sở lý luận.
2.2. Nghiên cứu về chính sách phát triển văn hóa
Thực tế có khá nhiều công trình nghiên cứu về văn hoá, nhƣng nghiên
cứu ở khía cạnh CSVH thì không nhiều, còn nghiên cứu về vấn đề chính sách
phát triển văn hoá thì hầu nhƣ không có:
- Trong công trình Phát triển văn hoá Việt Nam giai đoạn 2011-2020:
Những vấn đề phương pháp luận (NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2009),
Phạm Duy Đức đã bàn đến các vấn đề phƣơng pháp luận nghiên cứu, thực
trạng và giải pháp để phát triển văn hóa, con ngƣời Việt Nam trong giai đoạn
2011-2020 căn cứ từ Chiến lƣợc phát triển văn hoá đến năm 2020 của nƣớc ta
với những định hƣớng và nhiệm vụ đƣợc xác định cụ thể.
- Cuốn Chính sách văn hoá (Giáo trình dành cho sinh viên Đại học và
Cao đẳng các trƣờng văn hoá - nghệ thuật, Hà Nội, 2012) đã giới thiệu các
phát triển kinh tế ở thành phố Đà Nẵng hiện nay vào năm 2011 đã chỉ ra những
nét khác biệt trong lối sống của cƣ dân Đà Nẵng so với các vùng miền khác,
chịu tác động của quá trình ĐTH nhƣng lối tƣ duy tiểu nông (tính tuỳ tiện, tính
vô tổ chức...) của ngƣời dân Đà Nẵng, cũng nhƣ của những ngƣời nhập cƣ
4
trong nƣớc khó có thể nhanh chóng thay đổi để phù hợp với lối sống đô thị văn
minh, hiện đại; đồng thời đề xuất biện pháp khắc phục những tồn tại trên.
- Năm 2012, Viện Phát triển kinh tế - xã hội Đà Nẵng đã tiến hành khảo
sát lấy ý kiến của ngƣời dân về thực trạng và nhu cầu sử dụng đối với hệ
thống thiết chế văn hoá thể thao trên địa bàn thành phố Đà Nẵng (2002-2012)
tại 3 phƣờng thuộc quận Hải Châu (Hoà Cƣờng Bắc, Bình Hiên và Thuận
Phƣớc) và 2 xã thuộc huyện Hoà Vang (Hoà Tiến và Hoà Châu) và trên cơ sở
này Huỳnh Năm và Đàm Thị Vân Dung đã căn cứ để nhận định vấn đề trên
với bài viết Hệ thống thiết chế văn hoá cơ sở tại thành phố Đà Nẵng, thực
trạng và nhu cầu qua ý kiến của người dân và đề xuất một số giải pháp, kiến
nghị góp phần xây dựng và sử dụng có hiệu quả hệ thống thiết chế văn hóa cơ
sở xã, phƣờng trên địa bàn thành phố Đà Nẵng.
- Năm 2014, Đỗ Thanh Tân trong bài viết Xu hướng vận động văn hoá
trong bối cảnh đô thị hoá ở Đà Nẵng hiện nay đã có những đóng góp khi chỉ
ra: Đà Nẵng trong bối cảnh ĐTH diễn ra trên diện rộng, văn hoá thành phố
đang ở vào giai đoạn đặc biệt, không ngừng tiếp biến, văn hoá phát triển trong
thời cơ và thánh thức mới (văn hoá và lối sống đô thị, sự biến đổi của văn hoá
gia đình…).
Trên đây là những công trình, bài viết đề cập đến văn hoá Đà Nẵng trên
các khía cạnh liên quan đến vấn đề nghiên cứu của luận văn, tuy không trực
tiếp nhƣng cũng góp phần giúp tác giả tìm hiểu văn hoá Đà Nẵng ở những nét
nổi bật.
Nhìn chung, nội dung của những công trình, tài liệu nghiên cứu trên đề
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tƣợng nghiên cứu của đề tài là những vấn đề chính sách phát triển
văn hóa từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng.
6
4.2. Phạm vi nghiên cứu
- Về không gian: địa bàn thành phố Đà Nẵng
- Về thời gian: từ năm 1997 đến năm 2015
5. Phƣơng pháp luận và phƣơng pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp luận
- Khoa học chính sách công: Phân tích chu trình chính sách từ phát hiện
vấn đề, xây dựng chính sách, ban hành, triển khai thực hiện, kiểm tra, đánh
giá tính hiệu quả, phát hiện vấn đề và tiếp tục hoàn thiện chính sách.
- Văn hóa học phát triển: Với nguyên lý về sự phát triển cho thấy trong
hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn của bất kỳ lĩnh vực nào, trong đó
có lĩnh vực văn hoá, con ngƣời đều tôn trọng quan điểm phát triển. Các nhà
nghiên cứu văn hoá hiện nay quan niệm rất biện chứng khi cho rằng: văn hoá
không chỉ thúc đẩy mà có khi còn cản trở sự phát triển. Vì vậy, văn hoá về cơ
bản vừa có vai trò động lực, mục tiêu, nguồn lực nội sinh đối với phát triển
kinh tế - xã hội nhƣng văn hoá cũng có thể trở thành lực cản đối với phát triển
nếu nó lạc hậu, lệch lạc, thiếu đồng bộ trong chính bản thân nó hay đối với
quá trình phát triển kinh tế - xã hội nói chung.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp thu thập thông tin thứ cấp: Thu thập thông tin, số liệu từ
các văn bản triển khai thực hiện, tổng kết, đánh giá, thẩm tra... của Thành uỷ,
Hội đồng Nhân dân, Uỷ ban Nhân dân thành phố Đà Nẵng, Sở VH,TT&DL
và các đơn vị liên quan về lĩnh vực văn hoá.
- Phương pháp thu thập thông tin sơ cấp: Thu thập thông tin, số liệu
bằng trao đổi, phỏng vấn sâu. Phƣơng pháp này khắc phục những hạn chế mà
Luận văn đƣợc chia làm 03 chƣơng, không kể phần mở đầu, kết luận,
danh mục tài liệu tham khảo.
Chƣơng 1. Lý luận về vấn đề chính sách phát triển văn hoá
8
Chƣơng 2. Thực trạng xây dựng, ban hành, thực hiện chính sách phát
triển văn hoá từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng giai đoạn 1997-2015
Chƣơng 3. Một số giải pháp nâng cao năng lực phát hiện và đề xuất các
vấn đề chính sách phát triển văn hoá trên địa bàn thành phố Đà Nẵng
9
CHƢƠNG 1
LÝ LUẬN VỀ VẤN ĐỀ CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN VĂN HOÁ
1.1. Khái niệm công cụ
1.1.1. Chính sách công, vấn đề chính sách công và vấn đề chính sách
phát triển văn hoá
- Chính sách công
Khoa học chính sách công đƣợc nghiên cứu ở phƣơng Tây từ những năm
1940 của thế kỷ XX nhƣng phải đến những năm 1980, chính sách công mới
phát triển và đƣợc coi nhƣ một lĩnh vực nghiên cứu độc lập và định nghĩa
chính sách công của William Jenkin (1978) đƣợc chấp nhận rộng rãi nhất:
“Chính sách công là một tập hợp các quyết định có liên quan lẫn nhau của
một nhà chính trị hay một nhóm nhà chính trị gắn liền với việc lựa chọn các
mục tiêu và các giải pháp để đạt đƣợc các mục tiêu đó”1. Ngành nghiên cứu
này ở Việt Nam cũng chỉ mới đƣợc bắt đầu chú ý vào đầu thế kỷ XXI. Tác giả
Đỗ Phú Hải đã đƣa ra một định nghĩa về chính sách công nhƣ sau: “Chính
thúc đẩy và vấn đề này tồn đọng, kéo dài gây kìm hãm cũng nhƣ tác động xấu
đến sự phát triển kinh tế - xã hội và cả sự phát triển trong chính lĩnh vực văn
hoá, cần đƣợc điều chỉnh, sửa đổi.
Nhu cầu và vấn đề chính sách phát triển văn hóa: cơ sở của CSVH còn
dựa trên những nhu cầu văn hóa của nhân dân (nhu cầu hƣởng thụ và sáng tạo
văn hoá) và mục tiêu của CSVH là nhằm thỏa mãn nhu cầu đó. Nếu CSVH
chỉ xuất phát từ ý chí và thoả mãn quyền lợi của một nhóm ngƣời trong xã
hội, thì CSVH đó sẽ nhanh chóng bị xơ cứng, không mang lại hiệu quả nhƣ
mong muốn và một khi nhu cầu hƣởng thụ và sáng tạo văn hoá của ngƣời dân
không đƣợc thoả mãn thì sẽ không tạo nên đƣợc thế hệ những con ngƣời đáp
ứng đƣợc yêu cầu phát triển của xã hội, văn hoá không thực hiện đƣợc chức
năng, nhiệm vụ của mình là động lực, mục tiêu, là hệ điều chỉnh… cho sự
11
phát triển bền vững, nhân văn. Nhƣ vậy, cả điểm xuất phát và đích đến của
CSVH đều vì con ngƣời.
1.1.2. Chính sách văn hóa và chính sách phát triển văn hoá
- Chính sách văn hoá
CSVH là một bộ phận của chính sách công, đã đƣợc thế giới quan tâm
trong những thập kỷ gần đây với định nghĩa của các chuyên gia văn hoá tại
Monaco năm 1967 và của UNESCO cuối thế kỷ XX. Trên đại thể, các nhà
nghiên cứu đều thống nhất cho rằng: “Chính sách văn hoá là một hệ thống các
nguyên tắc, các thực hành của nhà nƣớc trong lĩnh vực văn hoá nhằm phát
triển và quản lý thực tiễn đời sống văn hoá theo những quan điểm phát triển
và cách thức quản lý riêng, đáp ứng nhu cầu phát triển đời sống văn hoá tinh
thần của nhân dân trên cơ sở vận dụng các điều kiện vật chất và tinh thần sẵn
có của xã hội” [28, tr.21].
- Chính sách phát triển văn hóa
Phát triển văn hóa là một khái niệm chƣa đƣợc thống nhất trong các nhà
về chính sách phát triển văn hóa nhƣ sau: “Chính sách phát triển văn hoá là
một hệ thống các quyết định thực hành của nhà nƣớc trên lĩnh vực văn hoá, có
những quan điểm và có cách thức quản lý riêng, đáp ứng nhu cầu đời sống
văn hoá tinh thần, vật chất của ngƣời dân trên cơ sở vận dụng các điều kiện
vật chất, tinh thần sẵn có của xã hội và cả sáng tạo ra những giá trị văn hoá
mới tiên tiến đáp ứng nhu cầu ngày càng cao về hƣởng thụ và sáng tạo văn
hoá của ngƣời dân”.
1.2. Chu trình chính sách phát triển văn hóa và việc xác định vấn đề
chính sách phát triển văn hoá
1.2.1. Chu trình chính sách phát triển văn hoá
Quy trình hay chu trình chính sách công nói chung, chính sách phát triển
văn hóa nói riêng là khái niệm để chỉ một hoạt động mang tính khép kín từ
13
khâu đầu cho đến khâu cuối và đó cũng là điểm bắt đầu cho một hoạt động
chính sách ở tầm cao hơn, diễn ra theo một lôgic, có trật tự và đặc biệt có tính
kế thừa rất cao. Nhƣ vậy, chu trình chính sách phát triển văn hoá lần lƣợt trải
qua các bƣớc sau: Xác định vấn đề chính sách; Xây dựng chính sách; Ban
hành chính sách; Đánh giá chính sách.
a) Xác định vấn đề chính sách văn hoá
Xác định vấn đề chính sách văn hoá là giai đoạn khởi đầu nằm trong chu
trình chính sách phát triển văn hoá, bao gồm từ bƣớc khởi đầu phát hiện ra
những mâu thuẫn nảy sinh trong quá trình phát triển văn hoá hay những nhu
cầu về văn hoá mà ngƣời dân cần đƣợc giải quyết, đáp ứng bằng chính sách;
đƣa vào chƣơng trình để thảo luận – tức là xác lập nghị trình. Mọi vấn đề
chính sách nói chung, vấn đề chính sách văn hoá nói riêng có thể thấy đều nảy
sinh từ dữ kiện thực tế, thông qua ba nguồn quan trọng nhất: số liệu thống kê,
các sự kiện và các nhận định.
Nhƣ vậy, xác định vấn đề chính sách phát triển văn hoá là bƣớc quan
Đánh giá chính sách công nói chung, CSVH nói riêng là khâu rất quan
trọng nhƣng thƣờng ít đƣợc quan tâm thích đáng từ thực tiễn Việt Nam. Sau
khi chính sách phát triển văn hoá đƣợc thực hiện, Chính phủ tổ chức điều tra
khách quan đối với những đối tƣợng hƣởng lợi, các đối tƣợng chịu tác động
trực tiếp từ CSVH và đánh giá kết quả thực hiện chính sách.
Sau khi tiến hành đánh giá, vấn đề CSVH ban đầu đƣợc xem xét lại là đã
giải quyết tận gốc chƣa, nếu chƣa thì phải điều chỉnh lại từ khâu xác định vấn
đề và giải pháp chính sách. Chu trình CSVH cũng nhƣ chính sách công nói
chung có tính xoay vòng cho đến khi vấn đề chính sách đƣợc giải quyết.
1.2.2. Xác định vấn đề chính sách phát triển văn hoá
Xác định vấn đề chính sách phát triển văn hóa là khâu mấu chốt trong
15
toàn bộ chu trình chính sách phát triển văn hoá. Yêu cầu cao nhất của khâu này
là khả năng nhìn ra vấn đề phụ thuộc ở năng lực nhận thức, biểu đạt nó cũng
nhƣ cơ chế nêu vấn đề để vấn đề văn hoá trở thành chính sách. Từ dữ kiện thực
tế, thông qua 3 nguồn cơ bản: số liệu thống kê, các sự kiện, các nhận định của
những nhà lãnh đạo Đảng, Nhà nƣớc mà vấn đề CSVH nảy sinh.
Xác định vấn đề và đề xuất chính sách phát triển văn hoá được thực hiện
theo các bước sau:
- Tổng quan vấn đề: Tổng quan rõ ràng về các tồn tại, hạn chế, trở ngại,
khó khăn, vƣớng mắc trong đời sống kinh tế - xã hội dƣới tác động của đƣờng
lối, pháp luật, CSVH cần đƣợc giải quyết bằng chính sách hoặc các bất hợp lý
gây mâu thuẫn, mất cân bằng, mất ổn định về văn hoá, ngăn cản tăng trƣởng
hoặc những nhu cầu trong tƣơng lai cho phát triển xã hội hay trong chính lĩnh
vực văn hoá cần đạt đƣợc bằng chính sách. Nhƣ vậy, theo quy luật vận động,
vấn đề chính sách trong xã hội mang cả tính hiện thực và tƣơng lai, vì các
hiện tƣợng đang tồn tại thực tế sẽ làm nảy sinh những vấn đề trong tƣơng lai.
- Xác định quy mô, mức độ nghiêm trọng của vấn đề: Từ tổng quan các
danh mục các vấn đề cần giải quyết và vấn đề có thể giải quyết.
- Đề xuất chính sách: Và giai đoạn cuối cùng của khâu xác định vấn đề
chính sách phát triển văn hoá là hoàn thiện phƣơng án tối ƣu và đề xuất việc
ban hành chính sách phát triển văn hoá để giải quyết các vấn đề chính sách
phát triển văn hoá đó.
1.3. Đặc điểm và những nhân tố tác động đến chính sách phát triển
văn hoá
1.3.1. Đặc điểm của chính sách phát triển văn hoá
Để nhận diện chính sách công nói chung, chính sách phát triển văn hoá
nói riêng phải thấy đƣợc một số tính chất nổi bật để phân biệt nó với các thực
thể khác:
17
Tính chất cơ bản: Tính cƣỡng chế (của quyền lực công - tức nhà nƣớc),
tính thứ bậc (do tính thứ bậc của tổ chức nhà nƣớc), tính mục tiêu (do tính
mục tiêu của quyền lực chính trị), tính hệ thống (do sự liên quan giữa các biện
pháp trong mối quan hệ với mục tiêu cuối cùng, cũng nhƣ tính khoa học cần
có của các chính sách phát triển văn hoá).
Ngoài những tính chất cơ bản trên, để có một chính sách phát triển văn
hoá hiệu quả cần đảm bảo một số tính chất: Tính giai cấp (chính sách đó phù
hợp với lợi ích của giai cấp cầm quyền), tính dân tộc (phù hợp với đặc điểm
lịch sử, văn hoá, tâm lý… dân tộc), tính nhân loại (phù hợp với xu hƣớng phát
triển văn hoá tiến bộ của nhân loại), tính khả thi kỹ thuật (đủ trình độ, kiến
thức chuyên ngành văn hoá để thực hiện); tính khả thi về tài chính (có đủ
nguồn tài chính), tính đồng bộ (phù hợp với các chính sách khác)…
Để một chính sách phát triển văn hoá mang trong mình hay thoả mãn các
đặc điểm vốn phải có, đáp ứng những đặc điểm phụ trợ nhƣng không kém
phần quan trọng thì ngƣời làm chính sách phải có thái độ tôn trọng tính khoa
học trong quá trình hoạch định chính sách. Nhƣ vậy, bản thân nhà hoạch định
- Với lối tƣ duy tiểu nông (tự do, tuỳ tiện, ý thức kém), sự tụt hậu về cơ
sở vật chất, khoa học và công nghệ, kỹ năng quản lý hạn chế đang là những
vật cản không nhỏ trong tiến trình hội nhập quốc tế trên lĩnh vực văn hoá của
nƣớc ta.
* Tác động của kinh tế thị trường
Phát triển văn hoá Việt Nam theo cơ chế kinh tế thị trƣờng định hƣớng
xã hội chủ nghĩa đối mặt với cơ hội và thách thức sau:
Cơ hội:
- Cơ chế kinh tế thị trƣờng với quy luật cung - cầu, cạnh tranh, giá cả tạo
nên một thị trƣờng trao đổi sản phẩm, dịch vụ văn hoá vô cùng sôi động,
thông thoáng, cá nhân tham gia năng động hơn, trình độ hƣởng thụ văn hoá
19