VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN THỊ QUYÊN
ĐÁNH GIÁ CHÍNH SÁCH GIẢM NGHÈO
BỀN VỮNG TỪ THỰC TIỄN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG
HÀ NỘI - năm 2017
VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN THỊ QUYÊN
ĐÁNH GIÁ CHÍNH SÁCH GIẢM NGHÈO
BỀN VỮNG TỪ THỰC TIỄN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
Chuyên ngành: Chính sách công
Mã số: 60 34 04 02
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG
NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS. LÊ THANH SANG
HÀ NỘI - năm 2017
CT
: Chỉ thị
CT135
GD&ĐT
: Chương trình 135
: Giáo dục và Đào tạo
HĐND
LHQ
PGS.TS
KCBNN
: Hội đồng nhân dân
: Liên Hợp Quốc
: Phó giáo sư, tiến sĩ
: Khám chữa bệnh cho người nghèo
KCB
: Khám chữa bệnh
LĐ, TB&XH
NHCSXH
NNL
: Lao động, Thương binh và Xã hội
XĐGNBV
: Xóa đói giảm nghèo bền vững
TW
: Trung ương
WB
: Ngân hàng Thế giới
DANH MỤC CÁC BẢNG
Số hiệu
Tên bảng
bảng
2.1.
Kết quả thực hiện mục tiêu giảm nghèo ở Đà Nẵng 2013-2015
Trang
44
DANH MỤC CÁC HÌNH
sách phát triển kinh tế - xã hội, trong đó giảm nghèo là một mục tiêu hướng đến đầu
tiên. Cụ thể là sau khi tách khỏi Quảng Nam năm 1997, căn cứ theo chuẩn nghèo do
quy định của Trung ương1, trên địa bàn thành phố Đà Nẵng có 11.321 hộ đói nghèo
chiếm tỷ lệ 8,79%/tổng số hộ dân cư, trong đó có 850 hộ đói. Với sự quyết tâm của
toàn hệ thống chính trị, đến năm 2000, toàn thành phố đã xóa hết hộ đói, giảm được
8.904 hộ nghèo, vượt chỉ tiêu đề ra của Nghị quyết Đại hội Đảng bộ thành phố lần
thứ XVII là 2% 2. Năm 2000, HĐND thành phố ban hành Nghị quyết xây dựng
thành phố “5 không”, trên cơ sở đó UBND ban hành Quyết định số 129/2000/QĐUB ngày 05/12/2000 ban hành kế hoạch thực hiện chương trình “Thành phố 5
không”, trong đó có mục tiêu “không có hộ đói”. Với những kinh nghiệm trong quá
trình xóa đói, giảm nghèo từ năm 1997-2000, đến cuối năm 2004 đã có 9.769 hộ
thoát nghèo, giảm tỷ lệ hộ nghèo từ 5,1% năm 2001 giảm xuống còn 0,13% (còn
185 hộ theo chuẩn quốc gia)3. Sau khi trở thành thành phố Trung ương năm 20034,
lãnh đạo thành phố không ngừng quyết tâm xây dựng thành phố theo hướng hiện
đại, văn minh, đảm bảo cho mọi người dân được hưởng các chính sách an sinh xã
1
Theo quy định của Trung ương, chuẩn nghèo vào năm 1997 là: thu nhập bình quân nông thôn, miền
núi là dưới 80.000đ/người/tháng; khu vực nông thôn đồng bằng là dưới 100.000đ/người/tháng; khu vực đô
thị là 150.000đ/người/tháng;
2
Đề án giảm nghèo trên địa bàn thành phố Đà Nẵng giai đoạn 2013-2017, ban hành kèm theo Quyết
định số 10081/QĐ-UBND của UBND thành phố Đà Nẵng ngày 5 tháng 12 năm 2012;
3
Năm 2000 Thành phố áp dụng theo mức chuẩn nghèo của Trung ương tại Quyết định số
1143/2000/QĐ-LĐTBXH ngày 01 tháng 11 năm 2000 của Bộ LĐTBXH về việc điều chỉnh chuẩn hộ nghèo
giai đoạn 2001-2004, với mức chuẩn Miền núi 80.000 đồng/người/tháng; Nông thôn 100.000
đồng/người/tháng; Thành thị 150.000 đồng/người/tháng;
4
Theo Nghị quyết số 33-NQ/TW ngày 16 tháng 10 năm 2003 về việc xây dựng và phát triển thành
phố Đà Nẵng trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
5
Chương trình 5 không gồm: Không có hộ đói, không có người mù chữ, không có người lang thang
xin ăn, không có người nghiện ma túy trong cộng đồng, không có giết người cướp của; Chương trình 3 có
gồm: Có việc làm, có nhà ở, có văn hóa văn minh đô thị;
6
Năm 2005 thành phố ban hành Quyết định số 41/2005/QĐ-UB ngày 11/4/2005 phê duyệt đề án giảm
nghèo giai đoạn 2005 - 2010, với mức chuẩn nghèo Nông thôn: 200.000 đồng/người/tháng; Thành thị
300.000 đồng/người/tháng;
7
Báo cáo Kết quả thực hiện chương trình giảm nghèo 6 tháng đầu năm và nhiệm vụ trọng tâm 6 tháng
cuối năm 2011 của Ban chỉ đạo Chương trình mục tiêu giảm nghèo thành phố Đà Nẵng;
2
3
giảm 8.570 hộ. Đặc biệt, đã giúp đỡ xóa hết 2.000 hộ đặc biệt nghèo còn sức lao
động nhóm 1, 2 theo Chỉ thị 24/CT-TU của Thành ủy.
Đầu năm 2013, thành phố đã ban hành Đề án giảm nghèo giai đoạn 20132017, với mức chuẩn nghèo được nâng lên, ở khu vực thành thị có mức thu nhập
bình quân dưới 800.000 đồng/người/tháng; ở khu vực nông thôn dưới 600.000
đồng/người/tháng. Mục tiêu giai đoạn này là phấn đấu 3 năm đầu chương trình giảm
nghèo giảm từ 20% - 24% hộ nghèo/năm, đến hết năm 2017 cơ bản 22.045
hộ thoát nghèo theo chuẩn nói trên8. Kết quả cuối năm 2015, số hộ nghèo đã giảm
là 6.961 hộ, số hộ nghèo còn lại là 0 hộ, chiếm 0% tổng số dân cư. Hoàn thành kế
hoạch trước 02 năm so với mục tiêu của Đề án giảm nghèo 2013- 2017 đề ra.9
Như vậy, các chương trình giảm nghèo nhìn chung đã đạt được kết quả đáng
kể, đạt và vượt các kế hoạch đề ra, như chỉ tiêu về vốn, y tế, giáo dục, chính sách
chính sách đã được ban hành chưa tạo sự gắn kết chặt chẽ và lồng ghép với mục
tiêu giảm nghèo. Nguồn lực cho giảm nghèo chưa đáp ứng yêu cầu, phân tán, dàn
trải. Chưa gắn chặt việc thực hiện chính sách giảm nghèo với chính sách an sinh xã
hội. Những chính sách giảm nghèo của Nhà nước vô tình đã tạo nên một bộ phận hộ
nghèo có tư tưởng ỷ lại, chưa chủ động vươn lên. Đội ngũ làm công tác giảm nghèo
ở cơ sở không ổn định, năng lực tham mưu triển khai tổ chức thực hiện chưa đáp
ứng được yêu cầu. Những tồn tại này đã dẫn đến hiệu quả tác động của chính sách
chưa được như kỳ vọng.
Chính vì vậy, tôi đã chọn đề tài “Đánh giá chính sách giảm nghèo bền vững
từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng”. Đề tài này góp phần nghiên cứu và đánh giá lại
các chính sách giảm nghèo bền vững, góp phần nâng cao hiệu quả những chính sách
này giúp cho người nghèo thoát nghèo với sinh kế bền vững, nhằm xây dựng thành
phố Đà Nẵng trở thành thành phố 4 an, thành phố đáng sống và xây dựng đất nước
ngày càng phát triển phù hợp với mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ,
công bằng, văn minh”.
2. Tình hình nghiên cứu của đề tài
Trong những năm qua, vấn đề đói nghèo vẫn luôn thu hút sự quan tâm của
nhiều học giả với nhiều bài viết trên các báo, tạp chí, nhiều luận văn, các đề tài khoa
học và các công trình dưới dạng tài liệu tham khảo như:
Một trong những nghiên cứu đầu tiên liên quan đến chính sách XĐGN đó là
“nghèo đói và chính sách giảm nghèo đói ở Việt Nam, kinh nghiệm từ nền kinh tế
chuyển đổi” của Tuan Phong Don và Hosein Jalian [2].Trong nghiên cứu này, các
tác giả đã tập trung phân tích đánh giá một số chính sách giảm nghèo như chính
sách đất đai, chính sách tín dụng ưu đãi cho người nghèo và chính sách xây dựng
CSHT.Nghiên cứu đã chỉ ra được tầm quan trọng của các chính sách giảm nghèo
trong công cuộc XĐGN ở Việt Nam.
Cũng vào thời điểm này, một nghiên cứu khác của WB được thực hiện với
qui mô và phạm vi lớn hơn “Đánh giá nghèo đói và chiến lược” [21]. Bên cạnh
4
nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thị Hoa với đề tài “Tổng quan đói nghèo và một số
kiến nghị chính sách XĐGN ở nông thôn Việt Nam đến năm 2010” (2000) [8].
Nghiên cứu này đánh giá tác động của một số chính sách như đất đai, tín dụng,
CSHT, giáo dục và y tế đối với người nghèo. Dù là nghiên cứu của các tổ chức hay
5
6
cá nhân nhưng chúng đều có điểm chung như: (i) chính sách đã được triển khai
nhưng chưa đến được đúng đối tượng; (ii) nhiều người nghèo chưa biết đến chính
sách; (iii) việc tổ chức cũng như phối hợp thực hiện còn nhiều điểm bất cập đã ảnh
hưởng không nhỏ đến kết quả thực hiện chính sách.
Đến năm 2000, với những gì đã đạt được trong XĐGN đã khiến cho nhiều
nhà tài trợ quan tâm hơn đến Việt Nam. Sự quan tâm đó không dừng lại ở tập trung
nguồn lực nhiều hơn cho công cuộc tấn công nghèo đói mà các nhà tài trợ và tổ
chức phi chính phủ đã tiến hành một loạt các nghiên cứu. Đây cũng là những năm
đầu tiên trong thực hiện chiến lược XĐGN đến năm 2010 ở Việt Nam. Vì vậy, các
nghiên cứu được thực hiện nhằm đánh giá để tìm ra điểm không phù hợp trong hệ
thống chính sách, trên cơ sở đó, điều chỉnh và xây dựng chính sách cho giai đoạn
tiếp theo (2006-2010).
Điều đáng lưu ý ở đây là một số nghiên cứu độc lập về những lĩnh vực cụ thể
đã được thực hiện. Nghiên cứu “Cải thiện việc tiếp cận cơ sở hạ tầng thiết yếu” năm
2002 của Ngân hàng Hợp tác Quốc tế Nhật Bản tập trung vào một số CSHT thiết yếu
như điện, giao thông, thuỷ lợi và thông tin liên lạc. Trong đó, nghiên cứu đánh giá
tác động chính sách đầu tư xây dựng CSHT trên bốn khía cạnh là khả năng tiếp cận,
tính ổn định, tính bền vững tài chính và khả năng quản lý. Phát hiện chính mà nghiên
cứu có được là chính sách đã cải thiện đáng kể khả năng tiếp cận đến các CSHT.
Tuy nhiên, tính ổn định cũng như bền vững tài chính còn bộc lộ nhiều yếu kém nên
Nam với nghiên cứu “Góp phần khảo sát mấy khía cạnh phương pháp luận đánh
giá chính sách giảm nghèo” thực hiện năm 2003 đã giới thiệu quá trình hoạch định
chính sách giảm nghèo ở Việt Nam và đưa ra các cách tiếp cận đánh giá chính sách,
nêu lên kiến nghị kết hợp chặt chẽ giữa việc đánh giá chính sách với quá trình
hoạch định chính sách để các chính sách được đưa ra trong tất cả các lĩnh vực (kinh
tế, xã hội…) đều có thể đóng góp nhiều hơn cho XĐGN.
Trần Thị Vân Anh, với nghiên cứu được thực hiện vào năm 2003 “Về
phương pháp đánh giá tác động của chính sách XĐGN và xây dựng chiến lược
XĐGN đến năm 2010” chủ yếu thông qua phân tích văn bản để đánh giá quá trình
đánh giá chính sách và hoạch định chính sách giảm nghèo ở Việt Nam. Theo tác giả,
việc đánh giá kết quả thực hiện chính sách giảm nghèo đã được dựa trên các nguồn
dữ liệu phong phú, đa dạng do các nhà khoa học điều tra nghiên cứu được, kết hợp
với các nguồn thông tin thu thập trực tiếp từ người nghèo và cộng đồng nghèo. Bên
cạnh đó, tác giả cũng phát hiện có những trường hợp chính sách đã không được
7
8
đánh giá đầy đủ do những người thực hiện thường thiên về trình bày thành tích mà
thiếu sự phân tích các vấn đề tồn tại; quan tâm nhiều hơn đến các hoạt động cụ thể
mà thiếu chú ý đến các vấn đề có tính cơ chế, chính sách; quan tâm nhiều đến các
ngành, các lĩnh vực chuyên biệt mà ít coi trọng các vấn đề ở tầm vĩ mô chung. Cũng
trong nghiên cứu của mình, tác giả đã nêu được mối quan hệ giữa đánh giá chính
sách và hoạch định chính sách. Tác giả nhận định, việc đánh giá chính sách càng
khách quan, toàn diện bao nhiêu thì càng có căn cứ vững chắc để hoàn thiện các
chính sách cũng như đề xuất các chính sách mới có tính khả thi bấy nhiêu.
Trong giai đoạn 2011-2015, đã có nhiều nghiên cứu đáng chú ý với các công
trình như của PGS.TS. Lê Quốc Lý, “Chính sách xóa đói giảm nghèo - thực trạng
Ngoài các công trình nghiên cứu trên, thì còn có rất nhiều công trình nghiên
cứu là các luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ, có thể kể đến như luận văn của tác giả
Nguyễn Minh Định năm 2011, đề tài luận văn thạc sĩ kinh tế phát triển “Chính sách
xóa đói giảm nghèo trên địa bàn tỉnh Kon Tum”; hay tác giả Đỗ Thị Dung năm
2011, đề tài luận văn thạc sĩ kinh tế “giải pháp xóa đói giảm nghèo trên địa bàn
huyện Nông Sơn, tinh Quảng Nam”.
Qua tổng quan các công trình nghiên cứu cho thấy: hầu hết các nghiên cứu
đều tập trung phân tích các đặc điểm nghèo đói, phân tích kết quả thực hiện và đánh
giá chính sách giảm nghèo, xác định các nguyên nhân của sự nghèo đói, tìm ra
những tồn tại và nguyên nhân của từng chính sách; đề ra những giải pháp đề hoàn
thiện chính sách xóa đói giảm nghèo... Nhiều nghiên cứu cũng đã đánh giá các tác
động của các chính sách XĐGN chủ yếu qua các tiêu chí tính hiệu quả, tính hiệu
lực, phù hợp và bền vững của chính sách.
Tuy nhiên, các vấn đề giảm nghèo bền vững đối với thành phố Đà Nẵng
chưa được các nghiên cứu trước đây đề cập và đề cập ở phạm vi mang tính chất
vùng dự án hoặc tầm quốc gia. Vì vậy yêu cầu đặt ra là phải tiếp tục nghiên cứu,
cập nhật và làm rõ thêm một số nội dung liên quan đến giảm nghèo bền vững cho
thành phố Đà Nẵng, như:
- Khái niệm giảm nghèo bền vững và sự cần thiết phải thực hiện giảm
nghèo bền vững.
- Tiêu chí đánh giá giảm nghèo bền vững và các nhân tố ảnh hưởng đến
giảm nghèo bền vững.
- Thực tiễn giảm nghèo bền vững tại thành phố Đà Nẵng trong thời gian qua,
đặc biệt là những năm gần đây.
9
10
11
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
Đề tài lựa chọn ba phương pháp chủ yếu để sử dụng trong nghiên cứu đó là:
phương pháp phân tích tổng hợp, phương pháp phân tích định tính, phương pháp
phân tích định lượng.
Phương pháp phân tích tổng hợp được sử dụng xuyên suốt trong các nội
dung của luận văn và đây cũng là phương pháp nghiên cứu chủ yếu của luận văn.
Phương pháp nghiên cứu định tính được sử dụng nhằm thu thập các ý kiến
của một số hộ nghèo và nhà quản lý về các yếu tố ảnh hưởng đến tình trạng nghèo,
vấn đề chính sách giảm nghèo, và tác động chính sách. Đồng thời, kết hợp quan sát
ghi chép hiện trường, nghiên cứu chuyện kể... làm cơ sở để đánh giá chính sách
giảm nghèo bền vững.
Phương pháp nghiên cứu định lượng được sử dụng trong luận văn để đo
lường các kết quả theo từng tiêu chí đồng thời kiểm tra tính phù hợp của các thang
đo từng tiêu chí.
Đối với số liệu khảo sát thực tế, tác giả đã thiết kế bảng khảo sát xã hội học
đối với hộ nghèo đang thụ hưởng chính sách và nhà quản lý, cán bộ chuyên trách.
Cuộc khảo sát được tiến hành vào khoảng tháng 5 năm 2017 tại các quận: Sơn Trà,
Ngũ Hành Sơn, Liên Chiểu, Cẩm Lệ và huyện Hòa Vang - là những khu vực nông
thôn hoặc vùng ven của thành phố có tỷ lệ hộ nghèo cao. Trong đó, đối với khảo sát
những hộ nghèo, tác giả sử dụng bảng hỏi khảo sát xã hội học là 210 phiếu phát ra.
Qua quá trình khảo sát, tác giả đã thu về 205 phiếu, đạt tỷ lệ 97,6%. Đối với khảo
sát nhà quản lý, cán bộ chuyên trách, tác giả sử dụng bảng hỏi khảo sát để tìm hiểu
ý kiến của các cán bộ chuyên trách, cán bộ quản lý với số phiếu phát ra là 120
phiếu, trong đó mỗi quận/huyện là 25 phiếu (bao gồm cán bộ ở quận/huyện,
phường/xã), 20 phiếu còn lại được phát cho các cán bộ ở Sở Lao động, Thương
binh và Xã hội (5 phiếu), các Trung tâm dạy nghề (15 phiếu) trên địa bàn thành phố
7. Kế cấu của đề tài
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, Luận văn được bố cục
gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn;
Chương 2: Thực trạng chính sách giảm nghèo của thành phố Đà Nẵng;
Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách giảm nghèo
bền vững.
12
13
CHƢƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1.1. Những vấn đề lý luận về chính sách và đánh giá chính sách
1.1.1. Các khái niệm về chính sách
Chính sách là một thuật ngữ được quan tâm và sử dụng nhiều. Chính sách
chủ yếu do nhà nước ban hành nhằm thực hiện những mục đích của nhà nước
hướng tới. Cũng có nhiều quan niệm cho rằng chính sách do nhà nước đưa ra nhằm
xác định rõ cái gì nhà nước làm và tại sao nhà nước lại làm những việc đó mà
không làm những việc khác cũng như cái giá phải trả cho việc làm đó.
Cũng có thể hiểu chính sách công như là một sự phân bổ giá trị mang tính
quyền lực của nhà nước cho toàn xã hội và cái mà Chính phủ làm (hay không làm)
đều gắn liền với phân bố giá trị xã hội đó và chỉ có nhà nước mới làm được sự phân
bổ đó.
Cùng với các nghiên cứu của France Ellis, Tsaint Geouss, các nhà kinh tế học
Việt Nam đã tiếp cận với định nghĩa về khái niệm chính sách “Như là kiểu phương
pháp can thiệp của Nhà nước vào lĩnh vực nào đó theo những mục tiêu và sự can thiệp
cần thiết cũng như mức độ can thiệp thích hợp” [10].
nhằm cải thiện việc hoạch định, xây dựng và thực hiện chính sách giải quyết thành
công các vấn đề chính sách công trong tương lai” hoặc“Đánh giá chính sách công
là các quy định, luật, nguyên tắc, thông lệ mà một nhóm hoặc tổ chức sử dụng để
thực hiện các quyết định và hành động liên quan đến đánh giá chính sách” [13].
14
15
Khi Việt Nam chuyển sang phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội
chủ nghĩa và hội nhập quốc tế, đòi hỏi ban hành các chính sách để tạo ra những
nhân tố, môi trường cho sự chuyển đổi trở thành cấp bách. Vì vậy, trong một thời
gian khá dài, Nhà nước tập trung cao vào việc xây dựng và ban hành các thể chế,
nhằm tạo các hành lang pháp lý cho mọi lĩnh vực kinh tế, xã hội tuy nhiên việc đánh
giá chính sách thì dường như bị bỏ qua hoặc rất ít được quan tâm mặc dù khâu đánh
giá chính sách là một khâu quan trọng không thể thiếu của quy trình chính sách.
Vai trò cốt lõi của của đánh giá chính sách công chính là:
- Qua đánh giá rút ra những bài học về thiết lập chương trình xây dựng chính
sách hoặc các công cụ chính sách.
- Biết được chất lượng và hiệu quả của chính sách.
- Nhận biết được đầy đủ tầm quan trọng của chính sách công trong quản lý.
- Biết được sự hài lòng và ý thức chấp hành, thực hiện chính sách của các đối
tượng chính sách và người dân.
Xác định vấn
đề chính sách
Hoạch định
chính sách
động đánh giá tạo ra để làm cơ sở quản lý điều hành của các nhà lãnh đạo, mà còn
giúp các chủ thể tham gia học được những gì qua đánh giá. Các nhà hoạch định
chính sách công chắc chắn học được nhiều điều từ hoạt động đánh giá chính thức và
phi chính thức. Những bài học rút ra từ kết quả đánh giá sẽ giúp họ nhìn nhận lại
một cách đầy đủ, toàn diện hơn cả về mục tiêu và giải pháp trong mỗi chính sách
công. Đồng thời, những lợi ích đáng kể mang lại cho các nhà hoạch định chính sách
công là có cơ hội thẩm định những kết luận đánh giá thông qua hoạt động thảo luận,
tranh luận, lập luận và thuyết phục liên tục giữa các nhà hoạch định chính sách
công. Bởi xét cho cùng, mục đích tiềm ẩn của đánh giá chính sách công là để thay
đổi một chính sách theo hướng hoàn thiện hơn. Từ phương diện học tập, đánh giá
chính sách công được quan niệm như một quá trình học tập tích cực lặp đi lặp lại
đối với phần lớn các nhà hoạch định chính sách công về bản chất các vấn đề chính
sách công và các giải pháp giải quyết. Thông qua đánh giá chính sách công, các nhà
hoạch định chính sách công có thể rút ra những bài học về thiết lập chương trình
hoạch định chính sách công hoặc các công cụ chính sách công. Ngoài ra, nhà hoạch
định chính sách công còn có khả năng giải thích vấn đề hoặc mục đích thiết kế của
chính sách công để giải quyết vấn đề.
Trên cơ sở chính trị, các nhà phân tích chính sách công cho rằng, đánh giá
chính sách công vừa phải đối đầu liên tục với các nguồn lực khan hiếm hoặc các hệ
tư tưởng xuất hiện trong lĩnh vực chính trị, vừa là bộ phận của quá trình nghiên cứu
mà nhờ đó các chính sách được thay đổi và phát triển phần lớn trên cơ sở sự công
nhận có ý thức từ những thành công và thất bại của quá khứ. Nhận thức này không
chỉ tạo dựng ý nghĩa của đánh giá chính sách công và đưa nó ra khỏi tính kỹ trị hạn
hẹp liên quan đến đặc trưng của đánh giá hành chính, mà còn giúp làm sáng tỏ vai
16
17
18
- Đánh giá hiệu quả
- Xem xét các chi phí của một chương trình, dự án cụ thể để đạt được mục
tiêu của chính sách.
- Phân tích đánh giá đầu vào và phân tích đánh giá đầu ra dưới hình thức giá
trị, sau đó so sánh kết quả giữa chúng.
- Đánh giá quá trình
- Xem xét các phương pháp tổ chức, bao gồm các quy trình và thủ tục hoạt
động được sử dụng để hiện chương trình, dự án thuộc chính sách công.
- Mục tiêu của đánh giá này nhằm xác định xem quá trình duy trì chính sách
có được tổ chức hợp lý và có hiệu quả không? [13].
1.1.5. Các phương pháp đánh giá
- Đánh giá “trước” các chính sách (tiên nghiệm) là việc đánh giá tác động
tiềm tàng của một chính sách trước khi triển khai nhằm mục đích so sánh các giải
pháp chính sách, gói chính sách công: Cách tiếp cận mang tính chuẩn tắc, tiềm năng
của chính sách sẽ triển khai; áp dụng cho các chính sách kinh tế vĩ mô. Dựa vào mô
hình kinh tế vĩ mô.
- Đánh giá “sau” chính sách (hậu nghiệm) là đánh giá tác động của chính
sách: Cách tiếp cận mang tính thực chứng - dựa trên số liệu vi mô và kỹ thuật kinh
tế lượng.
Việt Nam đã đưa việc đánh giá “Trước” bắt buộc đối với chính sách pháp
luật (RIA) theo luật ban hành văn bản Quy phạm pháp luật (2008).
1.2. Những vấn đề lý luận về nghèo và chính sách giảm nghèo bền vững
1.2.1. Khái niệm, quan niệm về nghèo
1.2.1.1. Quan niệm về đói nghèo ở Việt Nam
Công cuộc xoá đói, giảm nghèo ở nước ta bắt đầu từ những năm đầu thập
kỷ 90 của thế kỷ trước và có nhiều quan niệm về đói nghèo khác nhau, có
cụm từ "xóa đói giảm nghèo" vẫn được sử dụng, chỉ một nội dung hẹp hơn là đấu
tranh để giảm nghèo, tiến tới xoá nghèo.
1.2.2. Các cách đo lường nghèo trên thế giới và ở Việt Nam
1.2.2.1. Các cách đo lường nghèo trên thế giới
- Phương pháp tiếp cận: Chuẩn nghèo là thước đo mức sống của dân cư để
phân biệt trong xã hội ai thuộc diện nghèo và ai không thuộc diện nghèo. Trải qua
19