VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
CHÂU VĂN HIẾU
THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH
GIẢM NGHÈO BỀN VỮNG TỪ THỰC TIỄN
HUYỆN AN LÃO, TỈNH BÌNH ĐỊNH
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG
HÀ NỘI, năm 2016
VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
CHÂU VĂN HIẾU
THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH
GIẢM NGHÈO BỀN VỮNG TỪ THỰC TIỄN
HUYỆN AN LÃO, TỈNH BÌNH ĐỊNH
Chuyên ngành: Chính sách công
Mã số:
60.34.04.02
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG
trong cùng lĩnh vực.
Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về lời cam đoan này.
Tác giả luận văn
Châu Văn Hiếu
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ....................................................................................................................1
CHƯƠNG 1. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH
GIẢM NGHÈO BỀN VỮNG Ở VIỆT NAM ..........................................................8
1.1. Một số khái niệm ..................................................................................................8
1.2. Các bước tổ chức thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững ..........................11
1.3. Cách tiếp cận và phương pháp thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững .....14
1.4. Những nhân tố ảnh hưởng đến thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững .....15
1.5. Chính sách giảm nghèo bền vững của Việt Nam ...............................................18
1.6. Chủ thể và các bên liên quan trong thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững
...................................................................................................................................28
1.7. Kinh nghiệm thực hiện giảm nghèo ở một số địa phương .................................30
CHƯƠNG 2. THỰC TRẠNG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH GIẢM NGHÈO
BỀN VỮNG Ở HUYỆN AN LÃO, TỈNH BÌNH ĐỊNH ......................................37
2.1. Quan điểm, mục tiêu, chính sách giảm nghèo bền vững tỉnh Bình Định ..........37
2.2. Tổ chức thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững tại huyện An Lão, tỉnh
Bình Định thời gian qua ............................................................................................42
CHƯƠNG 3. GIẢI PHÁP THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH GIẢM NGHÈO BỀN
VỮNG THỜI GIAN TỚI TỪ THỰC TIỄN HUYỆN AN LÃO, TỈNH BÌNH
ĐỊNH ......................................................................................................................651
3.1. Quan điểm và mục tiêu giảm nghèo bền vững của huyện An Lão, tỉnh Bình
Định ...........................................................................................................................61
3.2. Các giải pháp tăng cường thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững .............66
CSXH
: Chính sách xã hội
DTTS
: Dân tộc thiểu số
ESCAP
: Ủy ban kinh tế xã hội Châu Á Thái Bình
Dương Liên Hiệp quốc.
KHHGĐ
: Kế hoạch hóa gia đình
KT-XH
: Kinh tế - Xã hội
HĐND
: Hội đồng nhân dân
LHPN
: Liên hiệp Phụ nữ
LĐTB& XH
QĐ-UBND
: Quyết định - Ủy ban nhân dân
TC- KH
: Tài chính- Kế hoạch
TW
: Trung ương
UBND
: Ủy ban nhân dân
UBMTTQVN
: Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
UNICEF
: Quỹ nhi đồng Liên Hợp quốc
DANH MỤC CÁC BẢNG
Số hiệu
Tên bảng
những nước nghèo, có thu nhập thấp và các nước đang phát triển mà ngay cả ở
những nước phát triển cũng phải đối mặt với tình trạng này. Đói nghèo là một trong
những rào cản lớn làm giảm khả năng phát triển con người, cộng đồng cũng như
mỗi quốc gia. Do đó, xóa đói giảm nghèo luôn được xác định là một nhiệm vụ lâu
dài và thường xuyên của mọi quốc gia. Đối với Việt Nam, xóa đói giảm nghèo toàn
diện, bền vững luôn được Đảng và Nhà nước xác định là mục tiêu xuyên suốt trong
quá trình phát triển kinh tế- xã hội, đặc biệt trong giai đoạn hiện nay khi nước ta
chuyển sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và mở rộng hội
nhập quốc tế thì cùng với sự phát triển của đất nước, tình trạng phân hóa giàu nghèo
trong xã hội có xu hướng ngày càng gia tăng; đây là một trong những nguy cơ tạo ra
sự bất đồng thuận xã hội; chính vì vậy, công tác giảm nghèo bền vững cần phải
được đặc biệt quan tâm trong giai đoạn hiện nay.
Trong những năm qua, Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm đến chính sách
xóa đói giảm nghèo, từ năm 1998 đến nay, xóa đói giảm nghèo đã trở thành
Chương trình mục tiêu Quốc gia và được đưa vào kế hoạch định kỳ 05 năm của
Chính phủ và các địa phương; đến nay đã thực hiện qua 04 giai đoạn (1998-2000,
2001-2006, 2006-2010, 2011- 2015) và hiện đang thực hiện giai đoạn 2016-2020.
Thành tích của Việt Nam về giảm nghèo là rất lớn, tỷ lệ hộ nghèo năm 1998 là
trên 37%; năm 2000 tỷ lệ hộ nghèo đói còn khoảng 11%; tỷ lệ hộ nghèo cả nước
giảm nhanh từ 22% năm 2005 xuống còn 9,45% năm 2010; Giai đoạn 2011-2015,
tỷ lệ hộ nghèo của cả nước qua tổng điều tra cuối năm 2010 theo chuẩn nghèo mới
là 14,2 % giảm xuống còn 5,97% vào năm 2014, năm 2015 ước còn khoảng 4,5 %
(chuẩn nghèo giai đoạn 2011- 2015). Riêng đối với các huyện nghèo tỉ lệ hộ
nghèo còn dưới 30 %. Tính bình quân trong giai đoạn 5 năm từ 2011- 2015, tỉ lệ
hộ nghèo cả nước giảm hàng năm 2%
1
Theo chủ trương chung của Đảng và Nhà nước về thực hiện Chương trình
mục tiêu Quốc gia về giảm nghèo bền vững giai đoạn 2011-2015, cùng với cả
Xuất phát từ những vấn đề chính sách giảm nghèo đang được quan tâm như
nêu trên, tôi chọn nghiên cứu đề tài “Thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững từ
thực tiễn huyện An Lão, tỉnh Bình Định” để làm Luận văn Thạc sĩ Chính sách công.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Trong những năm qua, vấn đề đói nghèo vẫn luôn thu hút sự quan tâm của
nhiều học giả với nhiều bài viết trên các báo, tạp chí, nhiều luận văn, các báo cáo,
đề tài khoa học và các công trình dưới dạng tài liệu tham khảo như:
- Đề tài luận văn Thạc sĩ chuyên ngành kinh tế phát triển “Chính sách xóa đói
giảm nghèo trên địa bàn tỉnh Kon Tum” của Nguyễn Minh Định (2011): Đề tài đã
nghiên cứu cơ sở lý luận về chính sách xóa đói giảm nghèo; phân tích kết quả thực
hiện và đánh giá các chính sách xóa đói giảm nghèo trên địa bàn tỉnh Kon Tum, tìm
ra được những tồn tại và nguyên nhân của từng chính sách; đề ra được một số giải
pháp để hoàn thiện chính sách xóa đói giảm nghèo của tỉnh Kon Tum đến năm 2015.
- Đề tài luận án Tiến sĩ kinh tế “Giải pháp xóa đói giảm nghèo nhằm phát
triển kinh tế xã hội ở các tỉnh Tây Bắc Việt Nam” của Nguyễn Thị Nhung (2012)
đã phân tích thực tiễn về xóa đói giảm nghèo ở nước ta trong quá trình phát triển
kinh tế xã hội ở Việt Nam và các tỉnh Tây Bắc, đánh giá những thành tựu, hạn chế
về xóa đói giảm nghèo ở Việt Nam và Tây Bắc; đưa ra quan điểm, phương hướng
và một số giải pháp cơ bản để thực hiện xóa đói giảm nghèo nhằm phát triển kinh tế
xã hội ở các tỉnh Tây Bắc.
- Đề tài luận văn Thạc sĩ kinh tế “Giải pháp xóa đói giảm nghèo trên địa bàn
huyện Nông Sơn, tỉnh Quảng Nam” của Đỗ Thị Dung (2011): Đã nghiên cứu một số
vấn đề lý luận về xóa đói giảm nghèo; thực trạng xóa đói giảm nghèo trên địa bàn
huyện Nông Sơn, tỉnh Quảng Nam; nghiên cứu kết quả đạt được của từng chính
sách, đánh giá những tồn tại, hạn chế, nguyên nhân; đưa ra phương hướng và giải
pháp xóa đói giảm nghèo trên địa bàn huyện Nông Sơn.
- Đề tài luận văn Thạc sĩ Chính sách công “Chính sách giảm nghèo bền vững
từ thực tiễn Quận Liên Chiểu, Thành phố Đà Nẵng” của Mai Tấn Tuân (2015): Đã
nghiên cứu một số vấn đề lý luận về chính sách giảm nghèo bền vững; thực trạng
3
do nhóm chuyên gia Viện Nghiên cứu và Tư vấn phát triển (RCD) do Bộ LĐTB& XH
4
chủ trì (2015) đã nghiên cứu tổng quan khoảng 70 nghiên cứu khác nhau về giảm
nghèo, đánh giá những thành tựu đạt được cũng những như những hạn chế, bất cập kể
từ khi xây dựng chính sách cho đến khi tổ chức thực hiện; trên cơ sở đó nêu ra 12
khuyến nghị mang tầm vĩ mô phục vụ cho hoạt động giám sát của Quốc hội, từ đó có
biện pháp điều chỉnh chính sách giảm nghèo cho phù hợp với điều kiện thực tiễn.
Tuy nhiên, những công trình nghiên cứu trên, về phần lý luận chỉ đề cập đến
lý luận về xóa đói, giảm nghèo, quan niệm về nghèo, đói ở Việt Nam, chưa đề cập
đến lý luận về chính sách giảm nghèo bền vững ở Việt Nam. Kết quả thực hiện các
chính sách và đánh giá chính sách giảm nghèo mới chỉ nghiên cứu kết quả của từng
chính sách giảm nghèo ở thời điểm năm 2012 về trước; các công trình nghiên cứu
giảm nghèo theo mức thu nhập, chưa nghiên cứu theo hướng tiếp cận đa chiều.
Đối với huyện An Lão, tỉnh Bình Định, từ khi thực hiện Nghị quyết số
80/NQ-CP của Chính phủ về định hướng giảm nghèo bền vững thời kỳ từ năm
2011 đến năm 2020 và Chương trình hỗ trợ giảm nghèo nhanh và bền vững theo
Nghị quyết 30a/NQ- CP của Chính phủ cho đến nay chưa có công trình nghiên
cứu nào đánh giá một cách đầy đủ, toàn diện các chính sách giảm nghèo được
thực thi trên địa bàn huyện An Lão và tỉnh Bình Định.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Vận dụng lý luận chính sách giảm nghèo bền vững để xem xét thực tiễn thực
hiện chính sách giảm nghèo bền vững ở huyện An Lão, tỉnh Bình Định, tìm ra
những bất cập trong thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững thời gian qua ở đây
và từ đó đề xuất giải pháp nhằm tăng cường thực hiện chính sách giảm nghèo bền
vững hướng đến mục tiêu giảm nghèo bền vững trong những năm tiếp theo.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Thứ nhất, nghiên cứu cơ sở lý luận về chính sách giảm nghèo bền vững và
Bình Định nói riêng. Đồng thời, thu thập các tài liệu của các tổ chức và học giả
trong và ngoài nước liên quan đến đề tài trong thời gian qua.
Kết hợp cùng các phương pháp thống kê, khái quát thực tiễn, phân tích định
tính, suy luận logic, diễn giải trong quá trình phân tích, đánh giá chính sách.
6
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1. Ý nghĩa lý luận
Đề tài này có ý nghĩa về mặt lý luận, người học nghiên cứu, bổ sung kiến
thức lý thuyết về chính sách giảm nghèo bền vững ở Việt Nam; đồng thời biết vận
dụng các lý thuyết về chính sách công để đánh giá thực tiễn thực hiện chính sách
giảm nghèo bền vững ở địa phương.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả nghiên cứu đề tài minh chứng cho việc vận dụng các lý thuyết chính
sách công vào nghiên cứu thực tiễn thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững ở
huyện An Lão, tỉnh Bình Định, từ đó đề xuất các giải pháp góp phần nâng cao chất
lượng, hiệu quả thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững ở địa phương.
7. Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần mục lục, mở đầu, kết luận và kiến nghị, nội dung chính của luận
văn được trình bày theo 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về thực hiện chính sách giảm nghèo bền
vững ở Việt Nam.
Chương 2: Thực trạng thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững ở huyện
An Lão, tỉnh Bình Định.
Chương 3: Giải pháp thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững thời gian
tới từ thực tiễn huyện An Lão, tỉnh Bình Định.
7
8
1.1.3. Khái niệm về giảm nghèo bền vững
Khái niệm giảm nghèo: Giảm nghèo là làm cho bộ phận dân cư nghèo nâng
cao mức sống, từng bước thoát khỏi tình trạng nghèo. Điều này được thể hiện ở tỷ
lệ phần trăm và số lượng người nghèo giảm xuống. Hay giảm nghèo là quá trình
chuyển bộ phận dân cư nghèo lên mức sống cao hơn.
Khái niệm giảm nghèo bền vững:
“Giảm nghèo bền vững” đã được một số nghiên cứu đề cập từ trước năm
2000; đến năm 2008 cụm từ "giảm nghèo bền vững” mới được sử dụng chính thức
trong văn bản hành chính ở Việt Nam tại Nghị quyết số 30a/2008/NQ-CP của
Chính phủ “Về Chương trình hỗ trợ giảm nghèo nhanh và bền vững đối với 61
huyện nghèo”; tiếp đó là Nghị quyết 80/NQ-CP của Chính phủ “Về Định hướng
giảm nghèo bền vững giai đoạn 2011-2020”; Nghị quyết 15-NQ/TW ngày
01/6/2012 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI về một số vấn đề về
chính sách xã hội giai đoạn 2012-2020 và Quyết định 1489/QĐ-TTg ngày
8/10/2012 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt chương trình giảm nghèo bền vững
giai đoạn 2012- 2015. Tính đến thời điểm này vẫn chưa có một định nghĩa hay khái
niệm chính thức về “giảm nghèo bền vững”.
Theo quan điểm của PGS.TS Trần Đình Thiên-Viện trưởng viện Kinh tế Việt
Nam về giảm nghèo bền vững: “Không thể giúp người nghèo bằng cách tặng nhà,
tặng phương tiện sống... Đây là cách giảm nghèo, xóa nghèo nhanh nhưng chỉ tức
thời, không bền vững. Muốn giảm nghèo, xóa nghèo bền vững thì Nhà nước, cơ
quan chức năng cần phải cấp cho người nghèo một phương thức phát triển mới mà
tự họ không thể tiếp cận và duy trì. Bên cạnh đó là sự hỗ trợ, ngăn ngừa, loại trừ các
yếu tố gây rủi ro chứ không chỉ là sự nỗ lực khắc phục hậu quả sau rủi ro. Đặc biệt,
sự hỗ trợ giảm nghèo này phải được xác lập trên nguyên tắc ưu tiên cho các vùng có
khả năng, điều kiện thoát nghèo nhanh và có thể lan tỏa sang các vùng lân cận”.
Đề tài luận văn Thạc sĩ quản lý kinh tế “Giảm nghèo bền vững trên địa bàn
Tổ chức thực hiện chính sách có vị trí rất quan trọng, nó là một khâu
hợp thành trong chu trình chính sách, là trung tâm kết nối các bước trong chu
trình chính sách công thành một hệ thống hoàn chỉnh. Đây là bước quan trọng
không thể thiếu vì nó là khâu hiện thực hóa chính sách vào đời sống xã hội.
10
Khái niệm thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững: Là quá trình tổ chức
triển khai thực hiện, nhằm cụ thể hóa các chính sách của Nhà nước về giảm nghèo
bền vững vào thực tiễn đời sống xã hội, nhằm đạt được mục tiêu đã xác định.
1.1.6. Chuẩn nghèo và đo lường nghèo
Chuẩn nghèo (hay ngưỡng nghèo, đường nghèo) là một mức thu nhập tối
thiểu cần thiết để đảm bảo những nhu cầu vật chất cơ bản cho con người để có thể
tiếp tục tồn tại.
Chuẩn nghèo là công cụ có ý nghĩa quan trọng trong việc phân định đối
tượng nghèo và không nghèo. Những người được coi là nghèo khi mức sống của họ
đo qua thu nhập (hoặc chi tiêu) thấp hơn chuẩn nghèo.
Tại một thời điểm nhất định có thể tồn tại nhiều đường nghèo khác nhau, ví
dụ: Đường nghèo thu nhập, đường nghèo lương thực thực phẩm, đường nghèo
chung, đường nghèo về y tế, đường nghèo về giáo dục, đường nghèo quốc tế, đường
nghèo quốc gia, đường nghèo địa phương…
Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định 1614/QĐ-TTg, ngày 15/9/2015
Phê duyệt Đề án tổng thể “Chuyển đổi phương pháp tiếp cận đo lường nghèo từ
đơn chiều sang đa chiều áp dụng cho giai đoạn 2016-2020”. Chuẩn nghèo giai
đoạn 2016 - 2020 theo hướng: Sử dụng kết hợp chuẩn nghèo về thu nhập và mức độ
thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản; xây dựng mức sống tối thiểu để từng
bước bảo đảm ASXH cho mọi người dân, trước mắt áp dụng chuẩn nghèo chính
sách để phân loại đối tượng hộ nghèo, phù hợp với khả năng cân đối ngân sách.
1.2. Các bước tổ chức thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững
1.2.1. Xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện
để chủ động tích cực tìm kiếm các giải pháp thích hợp cho việc thực hiện mục
tiêu chính sách và triển khai thực thi có hiệu quả kế hoạch tổ chức thực hiện
chính sách được giao.
1.2.3. Phân công phối hợp thực hiện chính sách
Chính sách giảm nghèo được thực hiện trên phạm vi không gian rộng lớn, vì
thế số lượng các đối tượng cá nhân và tổ chức tham gia thực thi chính sách là rất
lớn. Bên cạnh đó, các hoạt động nhằm thực hiện mục tiêu của chính sách diễn ra
cũng hết sức phong phú, phức tạp theo không gian và thời gian.
12
Vì vậy, để tổ chức thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững có hiệu quả, cần
có sự phân công, phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan, các ngành, các cấp từ Trung
ương đến địa phương. Hoạt động phân công, phối hợp diễn ra theo tiến trình thực
hiện chính sách một cách chủ động, sáng tạo để luôn duy trì chính sách ổn định, góp
phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả chính sách. Tránh nhiêu khê, phiền hà dễ dẫn đến
chính sách đúng, hợp lý nhưng tổ chức thực hiện kém hiệu quả, thực hiện sai.
1.2.4. Duy trì chính sách
Là hoạt động bảo đảm cho chính sách giảm nghèo bền vững của Chính
phủ tồn tại và phát huy được tác dụng trong môi trường thực tế; cần phải có đội
ngũ cán bộ, công chức, nguồn lực và công cụ quản lý đủ mạnh để thực hiện và
duy trì chính sách một cách ổn định lâu dài, tránh trường hợp “đánh trống bỏ
dùi”, “đầu voi, đuôi chuột”.
Nếu gặp phải khó khăn do môi trường biến động các cơ quan Nhà nước cần
sử dụng các công cụ quản lý tác động tích cực, tạo môi trường thuận lợi cho việc
thực thi chính sách.
1.2.5. Điều chỉnh chính sách
Điều chỉnh để cho chính sách giảm nghèo bền vững phù hợp với yêu cầu
quản lý và tình hình thực tiễn của các địa phương.
Cơ quan nào ban hành chính sách, thì cơ quan đó có thẩm quyền điều chỉnh,
gia công tác giảm nghèo bền vững.
1.3.2. Phương pháp thực hiện
- Phương pháp kinh tế: Tạo điều kiện về vốn tài chính thông qua cung cấp
vốn với các điều kiện ưu đãi (lãi suất vay, thời gian vay…) gắn với hỗ trợ xây dựng
phương án sử dụng hiệu quả vốn vay, đảm bảo hoàn trả được vốn vay và có lãi để
có thể tiếp tục duy trì sinh kế.
- Phương pháp tuyên truyền, giáo dục- đào tạo/huấn luyện: Tạo lập, củng cố
nhận thức, ý thức, ý chí vươn lên thoát nghèo thông qua cung cấp kiến thức, kinh
nghiệm về sinh kế, giúp người nghèo lựa chọn hoạt động tạo thu nhập phù hợp với
hoàn cảnh và năng lực của mình cũng như biết cách chi tiêu, sử dụng thu nhập có
được của mình một cách hợp lý, phù hợp.
- Phương pháp hành chính- tổ chức: Xây dựng mạng lưới xã hội cùng các
14
cơ quan Nhà nước hỗ trợ, giúp đỡ người nghèo vươn lên thoát nghèo. Trong đó
các tổ chức chính trị - xã hội (Hội Nông dân, Hội Liên hiệp Phụ nữ, Đoàn thanh
niên…) có vai trò quan trọng trong việc vận động trong tổ chức các hoạt động về
giảm nghèo ở địa phương.
Trong thực tiễn các phương pháp trên thường được kết hợp với nhau nhằm
tạo nên các hiệu ứng cộng hưởng.
1.4. Những nhân tố ảnh hưởng đến thực hiện chính sách giảm nghèo
bền vững
1.4.1. Nhân tố khách quan
- Trình độ phát triển của nền kinh tế nước ta còn thấp
Việt Nam là một nước nông nghiệp lạc hậu, lại phải trải qua chiến tranh, bị
tàn phá nặng nề, cơ sở vật chất, hạ tầng kỹ thuật và nguồn lực của Nhà nước chưa
đáp ứng được nhu cầu phát triển KT- XH của các địa phương cũng như việc đảm
bảo đầy đủ các nguồn lực để hỗ trợ các vùng (miền núi, vùng sâu, vùng xa, biên
giới, hải đảo…) và người nghèo; dẫn đến một số vùng, tỉnh, huyện nghèo, xã nghèo
không ổn định…) và xã hội (sức khỏe, tệ nạn xã hội …).
- Biến đổi khí hậu với tác động ngày càng rõ rệt và gia tăng đang tạo ra
thêm các nguy cơ cho giải quyết vấn đề nghèo đói
Việt Nam là quốc gia chịu tác động ảnh hưởng nhiều nhất từ biến đổi khí
hậu, tác động này có xu hướng ngày càng rõ rệt và gia tăng mạnh. Dưới tác động
của biến đổi khí hậu không chỉ môi trường tự nhiên thay đổi lớn (gia tăng mức độ,
cường độ hạn hán, xâm nhập mặn …) mà thiên tai cũng xảy ra với tần suất và
cường độ gia tăng, như bão, lũ, lốc, hạn hán … Thiên tai thường xảy ra và tập trung
ở khu vực nông thôn, miền núi, ven biển nơi tập trung đa phần người nghèo. Thực
tế này càng làm cho việc giảm nghèo càng trở nên khó khăn phức tạp hơn.
1.4.2. Nhân tố chủ quan
- Sự hạn chế, bất cập trong chính sách phát triển và năng lực tổ chức thực
hiện chính sách giảm nghèo là một tác nhân quan trọng, có tác động ảnh hưởng
trực tiếp đến đói nghèo
Trong thực tế quản lý phát triển người ta lưu ý tới những hạn chế, bất cập,
thậm chí cả những sai lầm trong hoạch định và tổ chức thực hiện chính sách phát
16
triển (bỏ qua, bỏ rơi, không/ít quan tâm chú ý đầu tư cho khu vực, địa bàn hay
nhóm người nào đó hay trong phân phối, phân phối lại các kết quả phát triển lại bỏ
qua hoặc không/ít quan tâm chú ý tới họ) trong thời gian dài dẫn đến một bộ phận
dân cư, địa bàn, khu vực bị tụt hậu không theo kịp đà phát triển chung và rơi vào
tình trạng đói nghèo. Thêm vào đó, tệ nạn tham nhũng trong thực hiện chính sách,
càng làm trầm trọng và phức tạp thêm cuộc chiến chống đói nghèo.
- Sự hạn chế về năng lực của bản thân người nghèo, nhóm nghèo cũng là
một tác nhân quan trọng khác của nghèo đói và giảm nghèo.
Như đã biết, tình trạng nghèo đói và việc giảm nghèo phụ thuộc trước hết
vào bản thân mỗi người. Những người nghèo thường là những người không, hay ít
có khả năng lao động (già yếu, bệnh tật, thương tật, neo người …), năng lực lao
1.5.1. Quan điểm, mục tiêu giảm nghèo bền vững ở Việt Nam
- Quan điểm về giảm nghèo bền vững ở Việt Nam
Trong những năm qua, Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm đến xóa đói
giảm nghèo và nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho nhân dân. Quan điểm, định
hướng của Đảng và Nhà nước về xóa đói, giảm nghèo luôn được thể hiện trong các
kỳ đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng; luôn coi trọng và ưu tiên giải quyết vấn đề
giảm nghèo bền vững với định hướng “Thực hiện có hiệu quả hơn chính sách giảm
nghèo phù hợp với từng thời kỳ; đa dạng hóa các nguồn lực và phương thức để bảo
đảm giảm nghèo bền vững, nhất là tại các huyện nghèo và các vùng đặc biệt khó
khăn. Khuyến khích làm giàu, tăng nhanh số hộ có thu nhập trung bình khá trở lên.
Có chính sách và các giải pháp phù hợp nhằm hạn chế phân hoá giàu nghèo, giảm
chênh lệch mức sống giữa nông thôn và thành thị” [6].
Trong phương hướng nhiệm vụ phát triển đất nước 5 năm (2011-2015), Đảng
ta cũng đã đưa ra quan điểm về bảo đảm ASXH với nội dung: “Tập trung triển khai
có hiệu quả các chương trình xoá đói, giảm nghèo ở vùng sâu, vùng xa, vùng đặc
biệt khó khăn. Đa dạng hoá các nguồn lực và phương thức xoá đói, giảm nghèo gắn
với phát triển nông nghiệp, nông thôn, phát triển giáo dục, dạy nghề và giải quyết
việc làm để xoá đói, giảm nghèo bền vững; tạo điều kiện và khuyến khích người đã
thoát nghèo vươn lên làm giàu và giúp đỡ người khác thoát nghèo” [6].
Đại hội toàn quốc lần thứ XII của Đảng tiếp tục khẳng định nhất quán
18