VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
ĐẶNG VĂN NỞ
CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN TRUYỀN THÔNG
TỪ THỰC TIỄN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG
HA NỘI, năm 2017
VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
ĐẶNG VĂN NỞ
CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN TRUYỀN THÔNG
TỪ THỰC TIỄN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
Chuyên ngành: Chính sách công
Mã số: 60 34 04 02
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG
NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS. MAI HÀ
Tôi xin chịu trách nhiệm về lời cam đoan của mình.
Tác giả luận văn
ĐẶNG VĂN NỞ
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 1
CHƢƠNG 1. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHÍNH SÁCH TRUYỀN
THÔNG ............................................................................................................ 8
1.1. Khái niệm chính sách truyền thông............................................................ 8
1.2. Vấn đề chính sách truyền thông ............................................................... 11
1.3. Giải pháp và công cụ của chính sách truyền thông.................................. 17
1.4. Chủ thể chính sách truyền thông .............................................................. 20
1.5. Thể chế chính sách truyền thông.............................................................. 21
1.6. Những nhân tố tác động đến chính sách truyền thông ............................. 23
CHƢƠNG 2. THỰC TRẠNG CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN TRUYỀN
THÔNG TỪ THỰC TIỄN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG .............................. 39
2.1. Các vấn đề, mục tiêu, chủ thể và thể chế phát triển truyền thông từ thực
tiễn thành phố Đà Nẵng................................................................................... 39
2.2. Thực trạng tổ chức thực hiện chính sách truyền thông thành phố Đà Nẵng . 45
2.3. Thực trạng triển khai thực hiện các giải pháp và công cụ chính sách
truyền thông thành phố Đà Nẵng .................................................................... 55
CHƢƠNG 3. GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN
TRUYỀN THÔNG Ở THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG HIỆN NAY .................. 62
3.1. Nhu cầu, mục tiêu, định hướng hoàn thiện chính sách truyền thông....... 62
3.2. Các giải pháp hoàn thiện chính sách truyền thông ở thành phố Đà Nẵng... 67
3.3. Kiến nghị .................................................................................................. 76
KẾT LUẬN .................................................................................................... 80
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
TMĐT
: Thương mại điện tử
UBND
: Ủy ban nhân dân
XHCN
: Xã hội chủ nghĩa
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Truyền thông có ảnh hưởng rất lớn đến mọi vấn đề của xã hội. Truyền
thông tác động đến nhận thức của công chúng, từ nhận thức sẽ tác động đến
hành động và ứng xử của công chúng. Khi mà một ứng xử của công chúng
được lặp đi lặp lại sẽ thành nề nếp, tập quán cuối cùng trở thành những chuẩn
mực của xã hội. Nhờ đến truyền thông mà những vấn đề này được xã hội chấp
nhận và lan truyền nhanh trong công chúng.
Truyền thông có tác động đến các nhóm đối tượng như sau:
Đối với chính quyền nhà nước:
Giúp các cơ quan nhà nước đưa thông tin đến người dân về các chính
sách kinh tế, văn hóa xã hội, luật pháp đến với dân chúng, thuyết phục công
chúng thay đổi về nhận thức và hành xử đúng pháp luật. Ngoài ra chính phủ
cũng nhờ truyền thông để thăm dò lấy ý kiến của dư luận trước khi ban hành
các văn bản pháp lý. Nhờ truyền thông mà nhà nước điều chính các chính
sách quản lý của mình và tạo ra sự đồng thuận cao trong dân chúng.
thì dễ bị lôi kéo và có những tác động tiêu cực cho bản thân và cho cộng đồng
xã hội.
Trong kinh tế, truyền thông tác động đến tiêu dùng của người dân giúp
người dân tiêu dùng nhiều hơn, giúp kinh tế phát triển. Tuy nhiên, truyền
thông cũng tác động đến việc con người ngày càng tiêu dùng nhiều hơn so với
nhu cầu cần thiết. Con người ngày càng làm việc nhiều hơn để phục vụ cho
các nhu cầu tiêu dùng. Các giá trị vật chất ngày càng được xã hội đánh giá
cao hơn các giá trị tinh thần. Sản xuất và tiêu dùng nhiều sẽ hủy diệt môi
trường và tác động xấu đến đời sống của người dân.
2
Sau 20 chia tách từ tỉnh Quảng Nam và trở thành thành phố trực thuộc
Trung ương (1997), Đà Nẵng hiện nay là một trong những trung tâm báo chí
lớn của cả nước (sau Thủ đô Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh). Hiện Đà
Nẵng có 08 cơ quan báo chí địa phương với 07 ấn phẩm, 04 kênh truyền hình,
01 kênh phát thanh, 01 báo điện tử hoạt động thường xuyên; 01 ấn phẩm đặc
san (04 kỳ/năm); 05 Đài Truyền thanh cấp quận, huyện và 17 bản tin với 118
kỳ/năm.
Về cơ quan báo chí Trung ương và các địa phương khác hoạt động trên
địa bàn thành phố Đà Nẵng, có: 07 cơ quan báo chí Trung ương đóng tòa
soạn; 71 cơ quan báo chí Trung ương đặt văn phòng đại diện; 23 cơ quan báo
chí Trung ương và địa phương cử phóng viên thường trú (trong đó có 06 cơ
quan báo chí cử phóng viên thường trú nhưng chưa đáp ứng đủ các điều kiện
theo quy định của pháp luật về báo chí).
Về truyền hình trả tiền: Đà Nẵng hiện có 08 doanh nghiệp hoạt động truyền
hình trả tiền với 183.622 thuê bao, trong đó Truyền hình cáp Sông thu chiếm tỷ lệ
lớn (65%) với 120.059 thuê bao (số liệu cập nhật đến tháng 6 năm 2015).
Trong khuôn khổ luận văn này, tôi chỉ tập trung nghiên cứu, đánh giá
Ngành truyền thông Việt Nam và Đà Nẵng nói riêng vẫn còn một
khoảng cách khá xa so với các nước trên thế giới. Truyền thông chưa thật sự
trở thành một ngành công nghiệp đem về nhiều lợi nhuận như nhiều nước trên
thế giới. Về lâu dài, Đà Nẵng cần hướng đến xây dựng một ngành công
nghiệp truyền thông chuyên nghiệp.
Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Đã có nhiều tác phẩm, khóa luận tốt nghiệp, luận văn thạc sỹ, tiến sỹ,
các đề tài nghiên cứu khoa học liên quan đến vấn đề truyền thông trên nhiều
lĩnh vực…, như: Luận án Phát triển nhân lực nhà báo của các Đài Phát thanh Truyền hình của các Thành phố lớn Việt Nam - Nghiên cứu điển hình tại Đài
Phát thanh - Truyền hình Hà Nội của tác giả Nguyễn Tiến Dũng.
4
Tác giả đã hệ thống hóa những vấn đề có tính chất lý thuyết về phát
triển nhân lực nhà báo trong Đài Phát thanh - Truyền hình thông qua các khái
niệm nhân lực, nhân nhà báo, đặc điểm và vai trò của nhà báo. Xây dựng các
khái niệm liên quan đến nhà báo, nhân lực nhà báo nói chung và làm trong
Đài Phát thanh - Truyền hình nói riêng. Tác giả đã tập trung trình bày các
hoạt động chủ yếu của phát triển nhân lực nhà báo gồm: Kế hoạch hóa nhân
lực nhà báo; thực hiện công tác phát triển nhân lực nhà báo như đào tạo mới,
bồi dưỡng nghiệp vụ; phát triển cá nhân của nhà báo, công tác tuyển dụng
nhân lực nhà báo; sử dụng nhân lực nhà báo. Ngoài ra, tác giả đưa ra các nhân
tố ảnh hưởng đến phát triển nhân lực nhà báo trong các Đài Phát thanhTruyền hình.
Những đóng góp mới của luận án góp phần làm sáng tỏ các vấn đề về
lý luận cũng như ứng dụng thực tiễn trong công tác phát triển nhân lực nhà
báo của các Đài Phát thanh - Truyền hình trong bối cảnh hội nhập với truyền
thông quốc tế. Tuy nhiên, hiện nay nhưng chưa có một công trình nghiên cứu
chuyên sâu về chính sách phát triển truyền thông từ thực tiễn thành phố Đà
Nẵng. Xuất phát từ lý do trên, tôi chọn đề tài này làm luận văn thạc sỹ của
trong khoản thời gian từ 2015- 2016 để phân tích thực trạng truyền thông trên
địa bàn thành phố.
5. Phƣơng pháp luận và phƣơng pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp luận
Luận văn vận dụng cách tiếp cận đa ngành, liên ngành xã hội học và
phương pháp nghiên cứu chính sách công. Đó là cách tiếp cận quy phạm
chính sách công về chu trình chính sách từ hoạch định đến xây dựng, thực
hiện và đánh giá chính sách công có sự tham gia của các chủ thể chính sách.
Lý thuyết của chính sách công được soi sáng qua thực tiễn của chính sách
công giúp hình thành lý luận về chính sách chuyên ngành.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn vận dụng phương pháp nghiên cứu dựa trên cơ sở thu thập số
liệu thứ cấp; các phương pháp nghiên cứu, như: phương pháp thống kê, phân
6
tích, so sánh và suy luận logic để tổng hợp các số liệu, dữ liệu nhằm đánh giá
thực tiễn tình hình phát triển truyền thông trên địa bàn thành phố Đà Nẵng và
xác định mục tiêu, để có thể phân tích đúng thực trạng làm cơ sở cho việc đề
xuất các giải pháp phù hợp.
Tham khảo và sử dụng tài liệu từ sách, báo, tạp chí về truyền thông, các
website Thành ủy, website Ủy ban Nhân dân; các báo cáo, nghị quyết và đề
án quy hoạch phát triển truyền thông của thành phố Đà Nẵng.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1. Ý nghĩa lý luận
Đề tài này này cung cấp cơ sở lý luận chính sách công để nghiên cứu
vấn đề truyền thông.
Hệ thống hóa một số cơ sở lý luận và nghiên cứu thực tiễn từ đó đề xuất
giải pháp tăng cường chính sách truyền thông trên địa bàn thành phố Đà Nẵng.
một tổ chức xã hội nào.
Hiểu một cách đơn giản, truyền thông (Communication) là quá trình
truyền đạt, chia sẻ thông tin; là một kiểu tương tác xã hội với sự tham gia của
ít nhất 02 tác nhân.
Thông thường người ta chia truyền thông thành 3 loại:
- Truyền thông liên cá nhân (giữa người này với người khác);
- Truyền thông tập thể (truyền thông trong nội bộ một tổ chức);
- Truyền thông đại chúng.
Ngày nay, xã hội loài người không ngừng phát triển, đời sống của người
dân không ngừng được nâng cao. Đòi hỏi vai trò ngày một lớn hơn nữa của
truyền thông trong việc cung cấp thông tin. Có thể nói, truyền thông có vai trò
ngày càng lớn trong xã hội, ảnh hưởng nhiều mặt đến đời sống con người. Từ
đó, khái niệm truyền thông được hiểu ở nhiều phạm vi, lĩnh vực khác nhau.
8
Theo Bách khoa toàn thư mở (Wikipedia): Truyền thông là hoạt động
truyền đạt thông tin qua trao đổi ý tưởng, cảm xúc, ý định, thái độ, mong đợi,
nhận thức hoặc các lệnh, như: ngôn ngữ, cử chỉ phi ngôn ngữ, chữ viết, hành
vi và có thể bằng các phương tiện khác như thông qua điện từ, hóa chất, hiện
tượng vật lý và mùi vị. Đó là sự trao đổi có ý nghĩa của thông tin giữa hai
hoặc nhiều thành viên (máy móc, sinh vật hoặc các bộ phận của chúng).
Trong cuốn “Truyền thông lý thuyết và kĩ năng cơ bản” do Phó giáo sư,
tiến sĩ Nguyễn Văn Dững (Học viện Báo chí và Tuyên truyền) làm chủ biên,
đã nêu khái niệm: Truyền thông là quá trình liên tục trao đổi thông tin, tư
tưởng, tình cảm… chia sẻ kỹ năng và kinh nghiệm giữa hai hoặc nhiều người
nhằm tăng cường sự hiểu biết lẫn nhau, thay đổi nhận thức, tiến đến điều
chỉnh hành vi và thái độ phù hợp với nhu cầu phát triển của cá nhân, của
nhóm, của cộng đồng và xã hội.
lịch một cách trực tiếp hay gián tiếp về sản phẩm, dịch vụ và thương hiệu mà
họ cung cấp. Truyền thông đại diện cho tiếng nói chung của thương hiệu, là
phương cách để thiết lập sự đối thoại và xây dựng các quan hệ với người tiêu
dùng. Truyền thông thực hiện nhiều chức năng đối với người tiêu dùng, nó có
thể đóng góp vào giá trị thương hiệu nhờ thiết lập thương hiệu trong tâm trí
và khắc họa nên hình ảnh thương hiệu.
Quá trình truyền thông là quá trình truyền tải thông tin của địa phương,
doanh nghiệp đến người tiêu dùng, để họ biết đến tính năng sản phẩm, dịch
vụ, các chương trình của địa phương, doanh nghiệp, lợi ích mà địa phương,
doanh nghiệp đó có thể mang đến cho khách hàng thông qua sản phẩm hoặc
dịch vụ.
Từ những nghiên cứu trên, rút ra khái niệm về truyền thông như sau:
Truyền thông là quá trình chia sẻ thông tin thông qua các phương tiện nhằm
tuyên truyền, tạo được sự cân bằng về nhận thức và lan tỏa thông tin trong xã
hội để đạt được một mục đích nào đó của chủ thể truyền thông.
10
1.1.2. Khái niệm chính sách công
Chính sách công là tập hợp các quyết định mang tính chính trị của Đảng
cầm quyền nhằm vạch ra những đường hướng hành động ứng xử cơ bản của
chủ thể quản lý với các vấn đề, hiện tượng tồn tại trong đời sống để thúc đẩy
và quản lý sự phát triển nhằm đạt tới những mục tiêu nhất định cho trước.
Khái niệm chính sách công được diễn đạt khái quát như sau: “Chính sách
công là tập hợp các quyết định chính trị có liên quan của nhà nước nhằm lựa
chọn các mục tiêu cụ thể với giải pháp và công cụ thực hiện giải quyết các
vấn đề của xã hội theo mục tiêu xác định của đảng chính trị cầm quyền”.
Chủ thể ban hành chính sách là Nhà nước thông qua các cơ quan quyền
lực (Quốc hội, Chính phủ), các bộ, ngành thực hiện chức năng quản lý nhà
Vấn đề của chính sách truyền thông nảy sinh khi mâu thuẫn giữa tiềm
năng thực thế và vai trò quan trọng của truyền thông đối với việc thực hiện
nhiệm vụ phát triển của địa phương cần phải giải quyết, dẫn tới các cơ quan
truyền thông phát triển chưa tương xứng với tiềm năng và lợi thế vốn có; có
thể khâu tuyển dụng công chức, viên chức phụ trách lĩnh vực truyền thông
chưa được quan tâm đầy đủ; việc lựa chọn các kênh truyền thông; việc bố trí
nguồn vốn ngân sách đầu tư cho truyền thông còn nhiều hạn chế; cách tiếp
cận phương pháp để tiếp xúc tiến truyền thông chưa phù hợp, nội dung
truyền thông chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu tăng cường năng lực. Việc xác
định đúng vấn đề chính sách đóng vai trò quan trọng trong quá trình xây
dựng, ban hành, thực hiện chính sách và quyết định đến sự thành công hay
thất bại của chính sách.
1.2.1. Nhân lực cho truyền thông
Tuyển dụng là quy trình sàng lọc và tuyển chọn những người có đủ
năng lực đáp ứng yêu cầu công việc, là khâu đầu tiên trong quá trình quản lý
nhân sự. Tuyển dụng đóng vai trò quan trọng trong việc xây dựng đội ngũ
viên chức có đủ phảm chất chính trị và năng lực chuyên môn tại các cơ quan
12
đáp ứng đủ nhu cầu giải quyết công việc. Việc tuyển dụng viên chức phải căn
cứ vào nhu cầu công việc, vị trí việc làm, tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp
và quỹ tiền lương của đơn vị sự nghiệp công lập. Theo Điều 21, Luật Viên
chức, việc tuyển dụng viên chức phải theo các nguyên tắc: Bảo đảm công
khai, minh bạch, công bằng, khách quan và đúng pháp luật; bảo đảm tính
cạnh tranh; tuyển chọn đúng người đáp ứng nhu cầu của vị trí việc làm; đề
cao trách nhiệm của người đứng đầu của người đứng đầu sự nghiệp công lập;
ưu tiên người có tài năng, người có công với cách mạng, người dân tộc thiểu
số. Việc tuyển dụng viên chức đã được chuyển đổi phân phối theo kế hoạch
truyền thông trực tiếp có thể chia thành các kênh giới thiệu, kênh chuyên viên
hoặc kênh xã hội. Kênh giới thiệu gồm các nhân viên thực hiện truyền thông
của địa phương tiếp xúc trực tiếp với người mua trên thị trường mục tiêu.
Kênh chuyên viên gồm những kênh chuyên viên độc lập phát biểu ý kiến của
mình với khách hàng mục tiêu. Kênh xã hội gồm những người láng giềng, bạn
bè các thành viên trong gia đình và những người đồng sự nói chuyện với
khách hàng mục tiêu. Ảnh hưởng của vai trò các nhân đối với công chúng
mục tiêu đặc biệt quan trọng trong các trường hợp họ cần mua những sản
phẩm đắt tiền, có nhiều rủi ro hay không mua thường xuyên, những sản phẩm
nói lên địa vị hoặc thị hiếu của người sử dụng.
- Kênh truyền thông phi cá nhân (gián tiếp)
Những kênh truyền thông gián tiếp chuyển các thông điệp đi không cần
có sự tiếp xúc hay giao tiếp trực tiếp, chúng bao gồm các các phương tiện
truyền thông đại chúng, bầu không khí và các sự kiện. Các phương tiện truyền
thông đại chúng bao gồm những phương tiện truyền thông dưới dạng ấn phẩm
(thư trực tiếp, báo cáo và tập chí), ngững phương tiện truyền thông marketing
(truyền thanh, truyền hình), những phương tiện truyền thông điện tử (Internet,
đĩa ghi hình, băng ghi âm) và những phương tiện trưng bày (pano, bảng hiệu,
áp phích). Bầu không khí là những khung cảnh có chủ tâm nhằm tạo ra hay
14
củng cố xu hướng mua và tiêu dùng của sản phẩm. Các sự kiện là công việc
có chủ tâm nhằm chuyển tải các thông điệp đến đặc biệt đến công chúng mục
tiêu như tổ chức các buổi họp báo, lễ khai trương và bảo trợ hoạt động thể
thao… Mặc dù ít hiệu quả hơn truyền thông trực tiếp nhưng các phương tiện
truyền thông đại chúng có thể là công cụ chủ yếu để kích thích truyền thông
du lịch hiệu quả.
- Tích hợp các kênh truyền thông
dẫn đến chỗ xác định ngân sách căn cứ vào khả năng dự đoán thu ngân sách
trong tương lai chứ không phải theo nguồn vốn ngân sách hiện có của địa
phương hoặc những cơ hội của thị trường. Sự phụ thuộc của nguồn vốn ngân
sách truyền thông sẽ gây trở ngại cho việc lập kế hoạch dài hạn cho phát triển
truyền thông.
Phương pháp tính theo cân bằng cạnh tranh
Ở một số địa phương, việc xác định ngân sách còn được thực hiện theo
nguyên tắc bảo đảm ngang bằng với chi phí của các địa phương trong khu
vực, vùng miền hoặc mức độ xếp loại đô thị. Phương pháp này cho rằng, mức
chi phí ở các địa phương khác là cơ sở để xem xét duy trì cân bằng khả năng
cạnh tranh, giúp ngăn chặn sự xung đột thái quá trong công tác truyền thông
tại các địa phương với nhau. Tuy nhiên, bởi vì khả năng của các địa phương
là rất khác nhau về danh tiếng, nguồn cơ hội và mục tiêu truyền thông.
- Phương pháp mục tiên và công việc thực hiện
Phương pháp này đòi hỏi những người làm công tác truyền thông phải
xây dựng kế hoạch ngân sách truyền thông của mình trên cơ sở xác định mục
tiêu cụ thể và các nhiệm vụ cần phải hoàn thành để đạt được mục tiêu rồi ước
tính chi phí để thực hiện những nhiệm vụ đó. Tổng các cho phí này dự toán
ngân sách truyền thông.
- Phương pháp tùy theo khả năng
Định ngân sách truyền thông dựa vào khả năng mà địa phương có thể
16
chi ra được. Phương pháp xác định ngân sách này hoàn toàn bỏ qua vai trò của
truyền thông như một khoản đầu tư và ảnh hưởng tức thời của truyền thông đến
khối lượng tiêu thụ. Nó dẫn đến một ngân sách truyền thông hằng năm không
xác định, gây khó khăn cho việc lập kế hoạch truyền thông dài hạn.
1.3. Giải pháp và công cụ của chính sách truyền thông
để đông đảo ứng viên quan tâm được biết. Bên cạnh đó, cần đổi mới hình
thức và nội dung tuyển dụng đảm bảo tuyển được người thật sự đáp ứng được
yêu cầu công việc trọng tâm là làm công tác truyền thông. Mặt khác, không
tuyển dụng cho đủ chỉ tiêu số lượng mà cần chú trọng tuyển những người thật
sự phù hợp cho lĩnh vực truyền thông.
Về phía các đơn vị quản lý công chức, viên chức, tạo điều kiện cho
công chức, viên chức tham gia các hoạt động truyền thông khác theo khả năng
của mình để thêm thu nhập mà vẫn đảm bảo hoàn thành nhiệm vụ được giao.
Do vậy, cần quy định rõ quyền và nghĩa vụ của công chức, viên chức tại đơn
vị thông qua hợp đồng làm việc, hợp đồng khoán việc.
1.3.2. Giải pháp nâng cao chất lượng các kênh truyền thông
Lịch sử báo chí truyền thông Việt Nam tính từ năm 1865 khi tờ “Gia
Định báo” ra đời đến nay đã được 143 năm. So với lịch sử báo chí thế giới
tương đối muộn nhưng với điều kiện Việt Nam chừng ấy năm cũng là một
dấu mốc lớn. Trong dòng chảy chung ấy có nhiều khuynh hướng báo chí khác
nhau: báo chí của thực dân đế quốc xâm lược; báo chí của những người Việt
Nam yêu nước, báo chí cách mạng và nổi bật lên là dòng báo chỉ Cách mạng.
đã có 83 năm phải triển kể từ ngày báo Thanh niên ra đời (21/6/1925) tại
Quảng Châu - Trung Quốc do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập. Báo chí cách
mạng Việt Nam là một bộ phận không thể tách rời của cách mạng và dân tộc,
và đồng hành, phục vụ cách mạng và dân tộc để giành chính quyền năm 1945,
giải phóng Miền Bắc năm l945, giải phóng Miền Nam, thống nhất đất nước
18
năm 1975, tiến hành sự nghiệp Đổi mới đất nước năm 1986 và hội nhập sâu
rộng vào đời sống quốc tế hiện nay.
Trong tiến trình phát triển do điều kiện khách quan và chủ quan nên
báo chí truyền thông cũng có sự phát triển ở các mức độ khác nhau. Tuy