VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
TRẦN ĐÌNH THANH
THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN VĂN HÓA TỪ
THỰC TIỄN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
Chuyên ngành: Chính sách công
Mã số
: 60340402
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG
Người hướng dẫn khoa học: PGS. TS. Trần Thị An
HÀ NỘI, 2016
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu
và kết quả trong luận văn là trung thực. Những ý kiến khoa học trong luận văn
chưa được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác.
Hải Phòng, ngày
tháng 7 năm 2016
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
TÀI LIỆU THAM KHẢO .................................................................................... 70
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong phần đánh giá 15 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 5
khóa VIII của Nghị quyết Trung ương 9 khóa XI, Trung ương đã khẳng định:
sự nghiệp xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đã có những
chuyển biến tích cực và đạt được nhiều kết quả quan trọng song chưa tương
xứng với các thành tựu trên lĩnh vực chính trị, kinh tế, đối ngoại và quốc phòng
an ninh; chưa đủ để tác động có hiệu quả xây dựng con người và môi trường văn
hóa lành mạnh. Tình trạng suy thoái về tư tưởng, đạo đức lối sống trong Đảng
và trong xã hội có chiều hướng gia tăng. Đời sống văn hóa tinh thần ở nhiều nơi
còn nghèo nàn, đơn điệu...Chính từ những tồn tại, hạn chế như trên, nền văn hóa
Việt Nam đang gặp nhiều vấn đề trong việc thực hiện vai trò, sứ mệnh của nó
như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói: “Văn hóa soi đường cho quốc dân đi”.
Để thực hiện có hiệu quả các chính sách văn hóa của Đảng và Nhà nước
trên địa bàn thành phố Hải Phòng, Đảng bộ và chính quyền thành phố đã chủ
động, sáng tạo thực hiện các Nghị quyết, chính sách của Đảng và Nhà nước,
trong đó có các chính sách về văn hóa được xác định sẽ góp phần quan trọng
thực hiện mục tiêu xây dựng con người Hải Phòng đáp ứng yêu cầu phát triển
nhanh, bền vững của thành phố. Nghị quyết Đại hội XIII Đảng bộ thành phố Hải
Phòng đã xác định: “Đổi mới mạnh mẽ, phát triển toàn diện văn hóa, giáo dục,
nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân”.
Thực trạng công tác văn hóa trong bối cảnh chung của đất nước và đặc
thù địa phương hiện nay đang rất cần có một cái nhìn, một hướng nghiên cứu
mới về thực hiện chính sách cụ thể. Từ các tiếp cận chính sách công về quá trình
thực hiện chính sách phát triển văn hóa từ thực tiễn thành phố Hải Phòng, tác giả
chọn: “Thực hiện chính sách phát triển văn hóa từ thực tiễn thành phố Hải
Phòng” làm đề tài Luận văn thạc sĩ chuyên ngành Chính sách công nhằm
xuất và thị trường văn hóa lành mạnh…Có thể nói, một chính sách văn hóa tốt
2
và có hiệu lực xã hội rộng lớn phải làm sao cho sự phát triển văn hóa đi từ bên
ngoài vào bên trong, đi vào cấp tâm lý của con người và cơ chế tinh thần của vô
thức cộng đồng. Chính sách văn hóa phải làm sao cho mỗi cá nhân riêng lẻ thân
thiện hơn nữa với văn hóa. Chính sách đó phải làm cho văn hóa thấm sâu vào
tâm hồn và đánh thức tiềm năng của con người như chúng ta thường nói. Muốn
đạt được mục tiêu cao cả đó, chúng ta cần đổi mới tư duy văn hóa sao cho ngang
tầm với đổi mới tư duy kinh tế như chúng ta đã và đang thực hiện. Đổi mới tư
duy văn hóa ở đây có nghĩa phải biết đặt phát triển văn hóa ngang tầm với phát
triển kinh tế. Biến văn hóa thành nguồn lực nội sinh của quá trình phát triển kinh
tế và xã hội”.
Về việc thực hiện chính sách văn hóa trên địa bàn thành phố Hải Phòng,
tác giả Hoàng Đình Thi, trong Luận văn tốt nghiệp Đại học Chính trị, Học viện
Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh (năm 2004) với đề tài Báo chí Hải Phòng với
nhiệm vụ xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc
dân tộc đã đề cập đến vai trò của báo chí trong việc thực hiện nhiệm vụ xây
dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam. Tác giả Nguyễn Quang Linh đã có
Luận văn thạc sĩ văn hóa học, Học viện Chính trị - Hành chính Quốc gia Hồ
Chí Minh (năm 2006) với đề tài Văn hóa giải trí ở thành phố Hải Phòng trong
thời kỳ đổi mới hiện nay. Tác giả Trịnh Minh Hiên đã có chuyên khảo bàn về Lễ
hội truyền thống văn hóa tiêu biểu Hải Phòng (Nxb Hải Phòng, 2006).
Trong các công trình trên, vấn đề trong thực hiện chính sách phát triển
văn hóa từ thực tiễn thành phố Hải Phòng để hình thành môi trường văn hóa
lành mạnh đáp ứng yêu cầu sự phát triển hình thành một nền văn hóa tiên tiến,
mang đậm bản sắc dân tộc của thành phố như nghị quyết Đảng bộ thành phố đã
đề ra thì vẫn chưa được bàn đến một cách có hệ thống. Trong luận văn này,
tác giả mong muốn được tiếp tục nghiên cứu, phân tích và đưa ra những giải
quy trình: từ xác định vấn đề chính sách đến thực hiện và đánh giá chính sách
công có sự tham gia của chủ thể chính sách
4
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp thu thập thông tin: thu thập thông tin, số liệu từ các báo
cáo tổng kết của Thành ủy, UBND thành phố, ngành văn hóa và các đơn vị
liên quan.
Phương pháp phỏng vấn sâu: phỏng vấn chủ thể tham gia vào quá trình
ban hành chương trình, kế hoạch và tổ chức triển khai thực hiện chính sách.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1. Ý nghĩa lý luận
Bằng việc sử dụng cách tiếp cận chính là tiếp cận chính sách công, kết
quả nghiên cứu làm sáng tỏ cho các lý thuyết liên quan đến chính sách công, từ
đó hình thành các tiến trình đề xuất các giải pháp chính sách nhằm nâng cao
hiệu quả các chính sách đã ban hành.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
Các kết quả nghiên cứu của đề tài luận văn góp phần bổ sung, hoàn thiện
những vấn đề lý luận về thực hiện chính sách công nói chung và thực hiện chính
sách phát triển văn hóa nói riêng. cung cấp cho các cấp ủy Đảng, chính quyền có
thêm một nguồn tư liệu tham khảo phục vụ cho công tác sơ tổng kết và thực
hiện Nghị quyết Trung ương 9 khóa XI và các chính sách văn hóa của Nhà nước
trong thời gian gần đây.
7. Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn
được chia làm 3 chương:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về thực hiện chính sách văn hóa
Chương 2: Thực trạng thực hiện chính sách phát triển văn hóa trên địa
một hệ thống xã hội”. Theo tác giả thì khái niệm “hệ thống xã hội” được hiểu
theo mốt ý nghĩa khái quát. Đó có thể là một quốc gia, một khu vực hành chính,
một doanh nghiệp, một nhà trường…
6
Chính sách là chủ trương, định hướng cơ bản được cơ quan có thẩm
quyền xây dựng trên cơ sở đường lối, chiến lược của nhà nước trong tưng lĩnh
vực cụ thể hoặc trong quy hoạch phát triển tổng thể nhằm đạt được những mục
tiêu nhất định.
Những quan điểm trên đề cập đến phạm trù chính sách theo những khía
cạnh khác nhau và theo những mục đích khác nhau. Tuy nhiên, khi đề cập đến
phạm trù chính sách cần phải làm rõ: Chính sách là gì? Ai là người tạo ra nó?
Nó tác động đến ai, đến cái gì? Từ yêu cầu trên có thể hiểu rằng, chính sách là
công cụ, là biện pháp can thiệp của Nhà nước vào một ngành, một lĩnh vực hay
toàn bộ nền kinh tế theo những mục tiêu nhất định, với những điều kiện thực
hiện nhất định và trong một thời gian xác định.
- Khái niệm Chính sách công
Khoa học về chính sách công được nghiên cứu ở phương Tây từ những
năm 1940 của thế kỷ XX. Nhưng phải đến những năm 1980, chính sách công
mới phát triển nhanh chóng và được coi như một lĩnh vực nghiên cứu riêng biệt
với các lý thuyết và các cách tiếp cận của mình. Ở Việt Nam, chính sách công
mới được nghiên cứu vào những năm cuối của thập niên 1990 và những năm
đầu của thế kỷ XXI.
Là một vấn đề mang bản chất xã hội - nhà nước, chính sách công được
nghiên cứu, nhìn nhận từ các góc độ sau:
(1) Chính sách công là sản phẩm của một quá trình thực thi quyền lực
chính trị.
(2) Quá trình hoạch định chính sách chủ yếu được diễn ra trong bộ máy
thực tiễn (thực hiện chính sách); chính sách công tập trung giải quyết những vấn
đề đang đặt ra trong đời sống kinh tế - xã hội theo mục tiêu xác định; chính sách
công gồm nhiều quyết định chính sách có liên quan lẫn nhau. Trong bài viết của
mình PGS.TS. Lê Chi Mai còn đưa ra khái niệm “chính sách tư” là chính sách
do các cơ quan, tổ chức ban hành nhằm giải quyết những vấn đề thuộc về nội bộ
8
cơ quan, tổ chức, không có hiệu lực thi hành bên ngoài phạm vi cơ quan, tổ
chức. Như vậy, so với các quan niệm đã nêu ta thấy có những điểm tương đồng
trong quan niệm về chính sách công như: tính nhà nước, tính công cộng, tính
hành động thực tiễn (coi quá trình thực hiện là một phần của chính sách công).
Chính sách công là một tập hợp các quyết định chính trị có liên quan
nhằm lựa chọn các mục tiêu cụ thể với giải pháp và công cụ thực hiện giải quyết
các vấn đề của xã hội theo mục tiêu đã xác định của đảng chính trị cầm quyền.
(Đỗ Phú Hải, Học viện Khoa học xã hội).
Bên cạnh việc nhìn nhận một cách toàn diện các khía cạnh của khái niệm
chính sách công từ nhiều góc độ, khái niệm “chính sách công” được định nghĩa
một cách ngắn gọn như sau: “Chính sách công là những đường hướng ứng xử cơ
bản của nhà nước với những vấn đề chính sách phát sinh trong đời sống cộng
đồng bằng nhiều hình thức khác nhau nhằm thúc đẩy phát triển xã hội và quản lý
xã hội” (Võ Khánh Vinh, chương trình đào tạo thạc sĩ chính sách công năm
2013 HVKHXH); hay chính sách công là một tập hợp các quyết định chính trị
có liên quan của nhà nước nhằm lưạ chọn các mục tiêu cụ thể với các giải pháp
công cụ thực hiện giải quyết các vấn đề của xã hội theo mục tiêu tổng thể đã xác
định" (Đỗ Phú Hải, chương trình đào tạo thạc sĩ chính sách công năm 2014
HVKHXH).
Từ điển Giải thích thuật ngữ hành chính cũng đã có định nghĩa về chính sách
công như sau: “Chính sách công là chiến lược sử dụng các nguồn lực để làm dịu
bớt những vấn đề của quốc gia hay những mối quan tâm của Nhà nước. Chính sách
tiêu, nội dung, nhiệm vụ, các nguồn lực (nhân lực và vật lực), thời gian và các
giải pháp tổ chức thực hiện.
Trên cơ sở kế hoạch tổng thể thực hiện chính sách phát triển văn hóa, cần
phải xây dựng các kế hoạch cụ thể để bảo đảm cho việc triển khai như: kế hoạch
tổ chức, điều hành (bao gồm các dự kiến về hệ thống các chủ thể, cơ quan chủ
trì, phối hợp triển khai thực hiện); kế hoạch dự kiến các nguồn lực (bao gồm dự
kiến về các cơ sở vật chất, máy móc, xe cộ, phương tiện, điều kiện trang thiết bị
10
kỹ thuật, các nguồn lực tài chính, vật tư…); kế hoạch thời gian triển khai thực
hiện và kế hoạch kiểm tra, đôn đốc thực thi chính sách. Đây là một khâu quan
trọng trong quá trình thực hiện chính sách bởi nó quyết định đến khả năng thực
hiện chính sách, dự tính trước được các tình huống xảy ra và phương án xử lý,
đảm bảo cho chính sách được thực hiện trong thực tiễn một cách có hiệu quả.
1.2.2. Phổ biến, tuyên truyền thực hiện chính sách phát triển văn hóa
Việc phổ biến, tuyên truyền thực hiện chính sách ngày càng được coi
trọng; thông qua việc phổ biến, tuyên truyền thực hiện chính sách phát triển văn
hóa giúp cho viên chức hiểu rõ về mục đích, yêu cầu, nghĩa vụ và quyền hạn của
viên chức để viên chức tích cực tìm kiếm các giải pháp thực hiện.
Để phổ biến, tuyên truyền chính sách đạt hiệu quả cao đòi hỏi cán bộ,
công chức làm công tác tuyên truyền phải am hiểu chính sách, phải nắm chính
xác, đầy đủ mục tiêu, nội dung, nhiệm vụ, yêu cầu, phạm vi, đối tượng của chính
sách. Đồng thời, phải nhận thức được đầy đủ mục đích, yêu cầu, nội dung,
nhiệm vụ của việc tuyên truyền, phổ biến chính sách phát triển văn hóa. Trên cơ
sở đó, xác định lựa chọn các kỹ năng, các giải pháp phổ biến, tuyên truyền
chính sách phù hợp cho từng đối tượng viên chức tại địa bàn như: mở các lớp
tập huấn tập trung để quán triệt nghiên cứu các nội dung chính sách, bàn các giải
pháp và phân công thực hiện chính sách; tổ chức các lớp tuyên truyền chính
sách cho các cơ quan thông tấn, báo chí để họ tuyên truyền; xây dựng văn bản
phát huy tác dụng trong môi trường thực tế. Khi thực hiện chính sách gặp những
khó khăn do môi trường thực tế biến động đòi hỏi đội ngũ cán bộ, công chức
thực thi chính sách phải có năng lực hay kiến thức sử dụng hệ thống công cụ
quản lý tác động nhằm tạo lập môi trường thuận lợi cho việc thực thi chính sách
này trên thực tế. Đồng thời, cần chủ động tham mưu, đề xuất với chủ thể ban
hành chính sách và áp dụng các giải pháp, biện pháp thực hiện chính sách phù
hợp với hoàn cảnh mới.
Việc duy trì chính sách phát triển viên chức có ý nghĩa vô cùng quan
trọng bảo đảm cho chính sách này tồn tại và phát huy tác dụng bền vững. Nếu
12
không duy trì chính sách sẽ dẫn đến hiệu quả chính sách thấp, gây lãng phí,
không đáp ứng được yêu cầu của chính sách. Việc duy trì và bảo đảm sự tồn tại
và phát huy tác dụng bền vững của chính sách đòi hỏi đội ngũ cán bộ, công chức
thực hiện chính sách phải am hiểu sâu sắc về chính sách, phải nắm chắc mục
tiêu, nội dung, nhiệm vụ, yêu cầu, đối tượng, công cụ thực hiện chính sách này.
Đồng thời, phải sử dụng các công cụ quản lý khác tác động đến việc thực hiện
chính sách, đề xuất các giải pháp hỗ trợ duy trì chính sách.
Để thực hiện tốt việc duy trì chính sách phát triển viên chức cần bảo đảm tốt
các nội dung. Thứ nhất, Cụ thể hóa nội dung triển khai thực hiện chính sách bằng
các văn bản mang tính pháp lý - quy định rành mạch, hợp lý trách nhiệm, quyền
hạn của các chủ thể thực hiện chính sách này; tránh tình trạng lẫn lộn quyền hạn,
trách nhiệm của các chủ thể có trách nhiệm thực hiện chính sách. Thứ hai, tổ chức
phối hợp, thống nhất, đồng bộ giữa các cơ quan tổ chức thực thi chính sách và đội
ngũ cán bộ, công chức. Thứ ba: Bảo đảm các điều kiện về vật lực, nhân lực, tài lực
và các phương tiện kỹ thuật hỗ trợ duy trì chính sách. Thứ tư: Bảo đảm kế hoạch
hóa về thời gian và quy trình thủ tục thực hiện. Thứ năm: Bảo đảm thông suốt về
thông tin trong quá trình thực hiện và duy trì chính sách.
1.2.5. Điều chỉnh chính sách phát triển văn hóa
Đây là một khâu quan trọng trong thực hiện chính sách vì theo dõi, kiểm
tra, đôn đốc việc thực hiện chính sách phát triển viên chức giúp kịp thời bổ sung
hoàn thiện chính sách đồng thời chấn chỉnh công tác tổ chức thực hiện chính
sách, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả thực hiện mục tiêu chính sách. Để
theo dõi, kiểm tra, đốn đốc việc thực hiện chính sách phát triển văn hóa cần phải
am hiểu sâu sắc mục tiêu của chính sách này, đối tượng thụ hưởng của chính
sách và các quy định, công cụ, giải pháp thực hiện chính sách.
Đồng thời, nắm chắc và chính xác các quy định trong kế hoạch thực hiện
chính sách, quy chế và nội quy thực hiện chính sách. Muốn theo dõi, kiểm tra,
đôn đốc thực hiện chính sách phát triển văn hóa cần thu thập, cập nhật đầy đủ
các nguồn thông tin, các cơ sở dữ liệu thông tin phản ánh về quá trình triển khai
14
và kết quả thực hiện chính sách từ các cơ quan, tổ chức hữu quan trong và ngoài
ngành. Trên cơ sở đó, xử lý phân tích thông tin, đối chiếu so sánh với các quy
định trong chính sách, các quy định trong kế hoạch, trong quy chế, nội quy thực
hiện chính sách để có cơ sở phát hiện phòng ngừa và xử lý vi phạm (nếu có),
phát hiện sơ hở trong quản lý, trong tổ chức thực hiện, đề xuất các giải pháp
chấn chỉnh việc thực hiện, điều chỉnh các biện pháp, cơ chế chính sách góp phần
hoàn thiện chính sách và nâng cao hiệu quả chính sách.
1.2.7. Đánh giá, tổng kết rút kinh nghiệm việc thực hiện chính sách
phát triển văn hóa
Đánh giá, tổng kết, rút kinh nghiệm việc thực hiện chính sách phát triển
văn hóa là việc làm cần thiết và là một khâu, một nhiệm vụ rất quan trọng không
thể thiếu được trong quá trình thực hiện chính sách này. Đánh giá, tổng kết thực
hiện chính sách là quá trình xem xét kết luận về sự chỉ đạo, điều hành tổ chức
thực hiện chính sách của chủ thể thực hiện chính sách (các cơ quan, tổ chức và
đội ngũ cán bộ, công chức viên chức có chức năng thực hiện chính sách) và việc
chấp hành, thực hiện của người dân là đối tượng thụ hưởng chính sách. Để đánh
của công nghệ thông tin và truyền thông. Đẩy nhanh việc thể chế hóa, cụ thể hóa
các quan điểm, đường lối của Đảng về văn hóa. Hoàn thiện hệ thống văn bản
quy phạm pháp luật, cơ chế, chính sách về văn hóa, về các quyền liên quan, phù
hợp với chuẩn mực quốc tế và thực tiễn Việt Nam.
Tại Hội nghị lần thứ 9, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI Ngày
9/6/2014 đã thông qua Nghị quyết số 33 - NQ/TW về xây dựng và phát triển văn
hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước. Một
trong giải pháp quan trọng để thực hiện hiệu quả Nghị quyết trên là Ban Chấp
hành Trung ương Đảng đã định hướng “Nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà
nước về văn hóa”. Đây là vấn đề hệ trọng cần được sự quan tâm của toàn ngành
Văn hóa, Thể thao và Du lịch, các ngành liên quan, chính quyền các cấp trong
việc nhận thức, quán triệt, triển khai. Trong những chia sẻ bước đầu từ những
định hướng của Nghị quyết đề ra về vấn đề cốt yếu của ngành Văn hóa, Thể thao
16
và Du lịch. Nghị quyết chỉ rõ: “Tập trung đổi mới, nâng cao hiệu lực, hiệu quả
quản lý nhà nước về văn hóa trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường, hội
nhập quốc tế và sự bùng nổ của công nghệ thông tin và truyền thông. Đẩy nhanh
việc thể chế hóa, cụ thể hóa các quan điểm, đường lối của Đảng về văn hóa.
Hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, cơ chế, chính sách về văn hóa,
về quyền tác giả và các quyền liên quan, phù hợp với chuẩn mực quốc tế và thực
tiễn Việt Nam”.
Như vậy, có thể nhận thấy hoạt động quản lý nhà nước về văn hóa cần
tiếp tục nhận thức về bối cảnh và tác động của nền kinh tế thị trường hiện nay,
sự vận động của kinh tế thị trường (trong nước và quốc tế) thường xuyên, liên
tục tác động đến bộ máy, cơ chế chính sách với những dạng thức phong phú với
những nhân tố tích cực và tiêu cực đến hoạt động quản lý nhà nước về văn hóa.
Trên tầm vĩ mô và những hoạt động cụ thể việc ý thức, nhận thức được những
tác động đó của kinh tế thị trường liên quan đến đánh giá hiệu quả và giá trị của
bản về chất lượng và quy mô đào tạo. Hình thành một số cơ sở đào tạo đại học,
trên đại học trọng điểm, đạt chuẩn khu vực và quốc tế.
Đổi mới đào tạo, bồi dưỡng cán bộ văn hóa theo hướng hiện đại và hội
nhập quốc tế. Tiếp tục gửi sinh viên, cán bộ đi đào tạo chuyên ngành văn hóa,
nghệ thuật, thể thao ở các nước phát triển. Xây dựng đội ngũ trí thức, văn nghệ
sĩ trong các dân tộc thiểu số, có chính sách khuyến khích họ trở về công tác tại
địa phương. Chú trọng đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ giáo viên giảng dạy các
chuyên ngành văn hóa.
Có chính sách phát hiện, bồi dưỡng, sử dụng, đãi ngộ, tôn vinh cán bộ
trong lĩnh vực văn hóa, nghệ thuật; trọng dụng người có tài, có đức. Điều chỉnh
chế độ tiền lương, trợ cấp đối với những người hoạt động trong các bộ môn nghệ
thuật đặc thù.
Mức đầu tư của Nhà nước cho văn hóa phải tương ứng với mức tăng
trưởng kinh tế. Sử dụng hiệu quả, công khai, minh bạch nguồn đầu tư của Nhà
18
nước, có trọng tâm, trọng điểm, ưu tiên các vùng miền núi, biên giới, hải đảo,
vùng đồng bào dân tộc thiểu số và một số loại hình nghệ thuật truyền thống cần
bảo tồn, phát huy.
Đẩy mạnh xã hội hóa nhằm huy động các nguồn đầu tư, tài trợ, hiến tặng
cho phát triển văn hóa, xây dựng con người.
Xây dựng cơ chế, chính sách ưu đãi về đất, tín dụng, thuế và phí đối với
các cơ sở đào tạo và thiết chế văn hóa do khu vực tư nhân đầu tư, đặc biệt là ở
vùng còn khó khăn. Khuyến khích hình thành các quỹ đào tạo, khuyến học, phát
triển nhân tài, quảng bá văn học nghệ thuật, phát triển điện ảnh, hỗ trợ xuất
bản... Xây dựng một số công trình văn hóa trọng điểm. Các địa phương, các cơ
quan, công sở, trường học, khu công nghiệp, doanh nghiệp, khu dân cư... có
thiết chế văn hóa phù hợp (thư viện, nhà văn hóa, công trình thể thao...).
Tăng cường đầu tư để đẩy mạnh nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn để
xét việc sử dụng kinh phí, đánh giá hiệu quả sử dụng kinh phí được giao.
Bối cảnh chính trị: những biến động trong bối cảnh chính trị có tác động
tới quá trình thực hiện chính sách văn hóa. Một đất nước mà tình hình chính trị
rối ren không ổn định (nhiều phe phái, đảo chính, nội chiến, chiến tranh) thì tất
yếu sẽ gặp khó khăn trong quá trình thực hiện chính sách nói chung và chính
sách văn hóa nói riêng. Mặt khác, khi nền chính trị ổn định, đảng cầm quyền
luôn xem việc phát triển nguồn nhân lực là nhân tố hàng đầu để xây dựng đất
nước thì sẽ tạo ra sự thuận lợi nhất định trong việc thực hiện chính sách văn hóa.
Bối cảnh quốc tế: cùng với xu hướng hội nhập và toàn cầu hoá, các biến
động kinh tế, chính trị, xã hội trong khu vực cũng như trên thế giới ngày càng có
tác động đáng kể đến việc thực hiện một chính sách văn hóa chính trị của mỗi
quốc gia. Đối với Việt Nam, kể từ khi hội nhập với quốc tế, các chính sách văn
hóa đã có những thay đổi căn bản. việc du nhập văn hóa tiến bộ từ các nền văn
hóa tiên tiến và việc tiếp cận các luồng văn hóa của người dân được thuận tiện
thông qua du nhập trực tiếp hay công nghệ thông tin là Cơ hội để việc gia thoa
20
và hội nhập văn hóa phát triển. Đây là những nhân tố hết sức thuận lợi trong
việc thực hiện chính sách văn hóa ở nước ta hiện nay.
1.4.2. Yếu tố chủ quan
Các định hướng và hoạch định được chính sách văn hóa phải cụ thể, phù
hợp và khoa học Đây là điều kiện tiên quyết để việc thực hiện chính sách văn
hóa hiệu quả, điều kiện này được xác định ngay từ quá trình hoạch định chính
sách. Làm tốt công tác hoạch định chính sách văn hóa sẽ tạo ra sự thuận lợi
trong quá trình thực hiện. Ngược lại, nếu chính sách bất hợp lý thì cho dù công
tác tổ chức thực hiện chính sách đó sẽ gặp rất nhiều khó khăn, thậm chí là thất
bại trong thực tế.
Bộ máy và đội ngũ cán bộ tổ chức thực hiện chính sách văn hóa Chính
động như thế nào đến lợi ích của nhân dân, sự tương quan giữa những người
được hưởng lợi và nhưng người không được thụ hưởng do việc thực hiện chính
sách này. Nếu chính sách đáp ứng được những nhu cầu của nhân dân thì nó sẽ
được ủng hộ, duy trì và phát triển.
Sự quyết tâm của các nhà lãnh đạo, các nhà quản lý cũng như các chính
sách khác của Đảng và Nhà nước, chính sách văn hóa bao giờ cũng thể hiện
quan điểm chính trị, lợi ích giai cấp. Vì vậy, rất có thể một chính sách đưa ra sẽ
vấp phải sự phá hoại, sự chống đối của các lực lượng thù địch trong và ngoài
nước; sự kìm hãm của những yếu tố bảo thủ, lạc hậu... Đây là những khó khăn,
phức tạp có ảnh hưởng trực tiếp đến việc hình thành chính sách và quá trình
thực hiện. Điều đó đòi hỏi các nhà lãnh đạo đất nước - những người có quyền
quyết định chính sách cũng như quyết định tổ chức thực hiện chính sách phải
cương quyết, có đủ quyết tâm và bản lĩnh để thực hiện và đưa chính sách đi đến
thắng lợi cuối cùng nếu thấy rằng đó là một chính sách đúng đắn và hợp lòng
dân. Mặt khác, đội ngũ các nhà quản lý là những người có trách nhiệm cao trong
việc tổ chức thực hiện chính sách, có quyết tâm khắc phục khó khăn, vượt qua
thách thức thì quá trình thực hiện chính sách văn hóa cũng sẽ diễn ra thuận lợi
và đạt được kết quả.
22