Áp dụng các biện pháp ngăn chặn trong giai đoạn điều tra vụ án xâm phạm sở hữu có tính chiếm đoạt theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam từ thực tiễn tỉnh Quảng Nam (tt) - Pdf 45

MỞ ĐẦU
1.Tính cấp thiết của đề tài
Các biện pháp ngăn chặn (BPNC) là một chế định quan trọng
của pháp luật tố tụng hình sự (TTHS), là phương tiện cưỡng chế của
Nhà nước có hiệu quả nhất để phòng ngừa, ngăn chặn tội phạm và
bảo đảm cho việc giải quyết vụ án hình sự đúng người, đúng tội,
đúng pháp luật. Mặt khác, nó còn là phương tiện pháp lý bảo vệ
quyền, lợi ích hợp pháp của công dân đối với người bị hại, nguyên
đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và cả người liên
quan đến tội phạm chưa bị khởi tố, bị can, bị cáo, cũng như bản thân
của họ.
Việc áp dụng các BPNC đối với người có hành vi phạm tội
được xem là một yếu tố quan trọng, thiết yếu của quá trình điều tra,
bởi lẽ nó ảnh hưởng trực tiếp đến sinh mệnh chính trị và các quyền
cơ bản của công dân, liên quan đến đường lối, chủ trương, chính sách
của Đảng, pháp luật của Nhà nước.
Thực tiễn điều tra vụ án hình sự trên địa bàn tỉnh Quảng Nam
nói chung, điều vụ án hình sự xâm phạm sở hữu có tính chiếm đoạt
nói riêng cho thấy, việc áp dụng các BPNC trong giai đoạn điều tra
vụ án hình sự hết sức phức tạp, nhạy cảm và còn nhiều khó khăn,
vướng mắc. Trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự, việc áp dụng các
BPNC không chỉ là áp dụng pháp luật đơn thuần mà còn phải cân
nhắc đến nhiều yếu tố như pháp luật, chính trị, nghiệp vụ, vấn đề
quyền con người để cân nhắc tính toán, hạn chế đến mức thấp nhất
những sơ hở, thiếu sót.
Tuy nhiên, trong khoa học luật TTHS, chế định các BPNC vẫn
chưa được quan tâm, nghiên cứu một cách thỏa đáng đối với tầm
quan trọng của nó theo định hướng của Đảng về việc xây dựng, hoàn
thiện hệ thống pháp luật phòng ngừa và đấu tranh, phòng ngừa tội

1


2


định của pháp luật Việt Nam cho phù hợp, hội nhập được với thế
giới.
Bên cạnh các công trình nghiên cứu dưới góc độ pháp luật
TTHS, cũng có các công trình nghiên cứu về áp dụng các BPNC
trong điều tra hình sự. Bỡi lẽ, việc nghiên cứu, tổng kết thực tiễn điều
tra tội phạm để hình thành lý luận về phương pháp, chiến thuật điều
tra là một đòi hỏi bức thiết đối với mọi quốc gia. Tuy nhiên, đến nay
trên thế giới chưa có công trình khoa học nào tập trung nghiên cứu về
áp dụng các BPNC trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự xâm phạm
sở hữu.
Ở trong nước, trên các góc độ, khía cạnh nghiên cứu khác nhau
đã có một số đề tài, công trình khoa học có liên quan đến đề tài.
Các giáo trình và sách tham khảo nói trên đã tập trung nghiên
cứu về các BPNC dưới góc độ luật TTHS. Vì vậy, nó có ý nghĩa đối
với việc nghiên cứu đề tài ở khía cạnh lý luận cơ sở pháp lý.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Làm rõ những vấn đề lý luận về các BPNC và thực tiễn áp
dụng các BPNC trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự xâm phạm sở
hữu có tính chiếm đoạt trên địa bàn một tỉnh, từ đó đề xuất hệ thống
giải pháp có tính khả thi, góp phần nâng cao hiệu quả áp dụng các
BPNC trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự nói chung, vụ án xâm
phạm sở hữu có tính chiếm đoạt nói riệng.
3.2. Nhiệm vụ nghiện cứu
- Làm rõ những nhận thức cơ bản về các BPNC trong giai đoạn
điều tra vụ án hình sự xâm phạm sở hữu có tính chiếm đoạt (khái

Nhà nước về chính sách hình sự và đấu tranh phòng chống tội phạm.
5.2. Phương pháp nghiên cứu: Luận văn sử dụng một số
phương pháp nghiên cứu cụ thể như: Phương pháp khảo sát điển

4


hình, phương pháp thống kê, phương pháp so sánh, phương pháp
phân tích, phương pháp tổng hợp, phương pháp chuyên gia…
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1. Ý nghĩa lý luận
Luận văn góp phần bổ sung, hoàn thiện hệ thống lý luận về
khoa học Luật TTHS, điều tra hình sự nói chung và vấn đề áp dụng
các BPNC trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự xâm phạm sở hữu
có tính chiếm đoạt nói riêng.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
- Trên cơ sở nghiên cứu thực trạng về BPNC trong giai đoạn
điều tra vụ án hình sự xâm phạm sở hữu có tính chiếm đoạt, xác lập
cơ sở pháp lý, đề xuất giải pháp, kiến nghị nâng cao hiệu quả áp dụng
các BPNC trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự xâm phạm sở hữu
có tính chiếm đoạt trong thời gian tới.
- Luận văn có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo trong
nghiên cứu, giảng dạy chuyên ngành luật hình sự, Luật TTHS và điều
tra hình sự.
7. Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo,
nội dung luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận và pháp luật về áp dụng các
biện pháp ngăn chặn trong giai đoạn điều tra các vụ án xâm phạm sở
hữu có tính chiếm đoạt

định thực hiện biện pháp ngăn chặn được quy định trong Bộ luật
TTHS đối với bị can, bị cáo, người có dấu hiệu của tội phạm chưa bị
khởi tố, khi có căn cứ áp dụng, nhằm ngăn chặn tội phạm, bảo đảm
cho hoạt động điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự được
đúng đắn và kịp thời.
1.1.1.2. Khái niệm giai đoạn điều tra vụ án hình sự
Theo chúng tôi: Giai đoạn điều tra vụ án hình sự là quá trình
áp dụng pháp luật nhằm làm rõ sự thật khách quan toàn diện về vụ án
hình sự. Trong giai đoạn điều tra, cơ quan điều tra tiến hành các hoạt

6


động theo quy định của Bộ luật TTHS để thu thập chứng cứ, bao gồm
chứng cứ xác định có tội, chứng cứ xác định vô tội, chứng cứ xác
định tình tiết tăng nặng, chứng cứ xác định tình tiết giảm nhẹ trách
nhiệm hình sự của bị can cũng như chứng cứ xác định các tình tiết
khác của vụ án.
1.1.1.3.Khái niệm các tội xâm phạm sở hữu có tính chiếm đoạt
Các tội xâm phạm sở hữu tài sản có tính chất chiếm đoạt tài
sản quy định trong chương XIV Bộ luật hình sự năm 1999 là các tội
được sát nhập từ các tội xâm phạm sở hữu xã hội chủ nghĩa quy định
tại chương IV và các tội xâm phạm sở hữu của công dân quy định tại
chương VI Bộ luật hình sự năm 1985. Về tội phạm, chương XIV chỉ
còn quy định 13 tội danh phản ảnh đúng bản chất của tên chương là
các tội xâm phạm sở hữu, trong đó có 8 tội danh xâm phạm sở hữu có
tính chiếm đoạt, 5 tội danh xâm phạm sở hữu nhưng không có tính
chiếm đoạt.
1.1.2. Đặc điểm của các biện pháp ngăn chặn trong giai
đoạn điều tra các vụ án xâm phạm sở hữu có tính chiếm đoạt

hiệu quả tích cực nhất để giải quyết tình hình tội phạm xảy ra trong
toàn quốc, trên địa bàn quản lý theo lãnh thổ.
Hiệu quả của chúng còn thể hiện ở việc: bảo đảm bí mật của
vụ án, các đối tượng không thể thông cung với nhau, xóa dấu vết, cất
dấu công cụ, phương tiện phạm tội hoặc đe dọa, trả thù, cưỡng ép
hoặc mua chuộc người bị hại, người làm chứng; tạo điều kiện thuận
lợi cho thu thập chứng cứ mà không bị cản trở từ phía bị can, bị cáo;
bảo đảm tiến độ giải quyết vụ án trong thời hạn điều tra, truy tố, xét
xử theo quy định của BLTTHS.
1.2. Cơ sở pháp lý của việc áp dụng các biện pháp ngăn
chặn trong giai đoạn điều tra các vụ án xâm phạm sở hữu có tính
chiếm đoạt
1.2.1. Quy định của pháp luật về biện pháp ngăn chặn trong
giai đoạn điều tra
Các BPNC được quy định tại Chương VI, từ Điều 79 đến Điều

8


94 BLTTHS năm 2003
1.2.1.1. Căn cứ chung áp dụng biện pháp ngăn chặn
Theo Điều 79 BLTTHS, căn cứ áp dụng các BPNC bao gồm:
kịp thời ngăn chặn tội phạm, khi có căn cứ chứng tỏ bị can, bị cáo sẽ
gây khó khăn cho việc điều tra, truy tố, xét xử hoặc sẽ tiếp tục phạm
tội, cũng như khi cần bảo đảm thi hành án. Theo nội dung này, có
bốn căn cứ chung để áp dụng BPNC đó là:
Thứ nhất, khi cần thiết để kịp thời ngăn chặn tội phạm.
Thứ hai, khi có căn cứ chứng tỏ bị can, bị cáo sẽ gây khó khăn
cho hoạt động điều tra, truy tố, xét xử
Thứ ba, khi có căn cứ chứng tỏ bị can, bị cáo sẽ tiếp tục phạm

Thứ ba, trong thời hạn 12 giờ, kể từ khi ra quyết định tạm giữ,
quyết định tạm giữ phải được gửi cho cho VKS cùng cấp. Nếu xét
thấy việc tạm giữ không có căn cứ hoặc không cần thiết, thì VKS ra
quyết định hủy bỏ quyết định tạm giữ và người ra quyết định tạm giữ
phải trả tự do ngay cho người bị tạm giữ.
Thứ tư, thời hạn tạm giữ không được quá ba ngày, kể từ khi
CQĐT nhận người bị bắt.
Thứ năm, trong trường hợp cần thiết, người ra quyết định tạm
giữ có thể gia hạn tạm giữ, nhưng không quá ba ngày. Trong trường
hợp đặc biệt, người ra quyết định tạm giữ có thể gia hạn tạm giữ lần
hai, nhưng không quá ba ngày. Mọi trường hợp gia hạn tạm giữ đều
phải được VKS cùng cấp phê chuẩn; trong thời hạn 12 giờ kể từ khi
nhận được đề nghị gia hạn và tài liệu liên quan đến việc gia hạn tạm
giữ, VKS phải ra quyết định phê chuẩn hay quyết định không phê
chuẩn.
Thứ sáu, trong khi tạm giữ, nếu không đủ căn cứ khởi tố bị
can, thì phải trả tự do ngay cho người bị tạm giữ.
Thứ bảy, thời hạn tạm giữ được trừ vào thời hạn tạm giam.
Một ngày tạm giữ được tính bằng một ngày tạm giam.
Về biện pháp tạm giam, Điều 88 BLTTHS quy định như sau:

10


Thứ nhất, tạm giam có thể được áp dụng đối với bị can, bị cáo
trong những trường hợp sau đây: a) Bị can, bị cáo phạm tội đặc biệt
nghiêm trọng, phạm tội rất nghiêm trọng; b) Bị can, bị cáo phạm tội
nghiêm trọng; phạm tội ít nghiêm trọng mà BLHS quy định hình phạt
tù trên hai năm và có căn cứ cho rằng người đó có thể trốn hoặc cản
trở việc điều tra, truy tố, xét xử hoặc có thể tiếp tục phạm tội.

* Điều 92 BLTTHS quy định biện pháp bảo lĩnh như sau:
* Điều 93 BLTTHS quy định biện pháp đặt tiền hoặc tài sản có
giá trị để bảo đảm.
1.3. Các yếu tố tác động đến việc áp dụng các biện pháp
ngăn chặn trong giai đoạn điều tra các vụ án xâm phạm sở hữu
có tính chiếm đoạt
1.3.1. Vấn đề bảo vệ quyền con người trong việc áp dụng các
biện pháp ngăn chặn trong giai đoạn điều tra các vụ án xâm phạm
sở hữu có tính chiếm đoạt
1.3.1.1. Quyền con người được quy định trong Hiến pháp và
các văn bản pháp lý khác
Nhằm bảo đảm quyền con người, Hiến pháp (sửa đổi, bổ sung
năm 2013) của nước ta đã dành riêng một phần của Chương 2 quy
định về quyền con người, quyền và nghĩa vụ của công dân. Trong đó
quy định về quyền con người, quyền công dân có 29 điều (từ Điều 14
đến Điều 43). Ngoài ra, trong các văn bản quy phạm pháp luật khác
cũng đã chú trọng về quyền con người. Hệ thống văn bản luật đã
từng bước thể chế hóa các chính sách của Đảng về quyền con người,
tạo cơ sở pháp lý cho việc đảm bảo quyền con người trên tất cả các
lĩnh vực của đời sống xã hội.
1.3.1.2. Bảo vệ quyền con người thông qua quy định của luật
tố tụng hình sự về áp dụng các biện pháp ngăn chặn
Quyền con người trong TTHS là những giá trị thiêng liêng chỉ
dành cho con người khi họ tham gia quan hệ pháp luật TTHS mà nhà

12


nước phải có nghĩa vụ ghi nhận trong Hiến pháp, pháp luật và đảm
bảo thực hiện trên thực tế.

Trong 5 năm qua (từ 2012 đến 2016), trên toàn địa bàn tỉnh
Quảng Nam đã xảy ra 4.401 vụ phạm pháp hình sự, trong đó có trên
50% số vụ phạm pháp hình sự xâm phạm sở hữu có tính chiếm đoạt.
Các cơ quan THTT trên địa bàn tỉnh Quảng Nam đã tiến hành bắt,
giữ 2.290 người; tổng số người bị bắt trên tổng số người bị truy tố
chiếm tỷ lệ tương đối thấp, trung bình mỗi năm bắt 458 người, chiếm
35,26 % tổng số người bị Viện Kiểm sát nhân dân ở tỉnh Quảng Nam
truy tố. Trong số người bị bắt thì phần lớn là phạm tội xâm phạm sở
hữu có tính chiếm đoạt. Tỷ lệ người bị tạm giam trên tổng số người
bị truy tố chiếm tỷ lệ thấp, trung bình mỗi năm tạm giam 295 người,
chiếm 22,68 % tổng số người bị Viện Kiểm sát nhân dân ở tỉnh
Quảng Nam truy tố. Qua đó cho thấy rằng, việc áp dụng biện pháp
bắt người, tạm giữ, tạm giam đã được tiến hành một cách thận trọng,
tỷ lệ bắt, tạm giữ, tạm giam thấp so với số người bị Viện Kiểm sát ở
Quảng Nam truy tố, không phải người phạm tội bị truy tố, xét xử đều
bị áp dụng BPNC bắt, tạm giữ, tạm giam. Điều đó cho thấy rằng, các
cơ quan THTT ở Quảng Nam đã thực hiện tốt các quy định của pháp
luật tố tụng hình sự và Hiến pháp (sửa đổi, bổ sung năm 2013) trong
việc áp dụng BPNC nhằm đảm bảo quyền con người, quyền công
dân. Thực tiễn thi hành BLTTHS năm 2003 tại địa phương cho thấy,
biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú được áp dụng thuận lợi, dễ dàng;

14


biện pháp đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm không áp dụng
được, nguyên nhân là do chưa có văn bản hướng dẫn của cơ quan có
thẩm quyền, nên nhận thức về BPNC này giữa các cơ quan THTT
còn chưa thống nhất.
2.2. Đánh giá thực trạng áp dụng các biện pháp ngăn chặn

- Ngoài ra, trên thực tế có một số khó khăn, vướng mắc trong
qúa trình thực hiện lệnh bắt. Cụ thể là:
+ Việc xác định một người nào đó đang phạm tội quả tang hay
đang có hành vi vi phạm hành chính
- Ở thành phố, thị xã rất ít trường hợp người dân bắt người
phạm tội quả tang và giải đến UBND nơi gần nhất mà thường giải
đến cơ quan Công an nơi gần nhất.
2.3.2. Nguyên nhân của những khó khăn, vướng mắc
2.3.2.1. Nguyên nhân khách quan
- Quy định về bắt, tạm giữ, tạm giam chưa chặt chẽ nên dễ bị
lạm dụng
- Biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, bảo lĩnh, đặt tiền hoặc tài
sản có giá trị để bảo đảm chưa cụ thể nên chưa phát huy hiệu quả
trong thực tiễn.
- Điều 79 BLTTHS quy định căn cứ áp dụng nhưng không
được cơ quan có thẩm quyền giải thích.
- Các Điều 86, 87 BLTTHS quy định về biện pháp tạm giữ,
nhưng không đề cập đến căn cứ áp dụng làm cho việc áp dụng tùy
tiện, tràn lan “hễ bắt là giữ” nên không phát huy được hiệu quả.
- Quan trọng hơn cả là trong BLTTHS năm 2003 thiếu quy
phạm về “căn cứ không khởi tố bị can” nên dễ dẫn đến sai lầm khi ra
quyết định khởi tố bị can do không có căn cứ “làm phép đếm loại
trừ” dễ dẫn đến oan, sai.
- Trong các Điều 80, 81, 82 BLTTHS quy định về bắt người,
nhưng không có quy định nào đề cập đến thời điểm kết thúc của việc
bắt nên có thể hạn chế quyền và tự do của con người do thời hạn
không xác định.

16


17


Sự giám sát của Hội đồng nhân dân, Quốc hội đối với việc áp
dụng các BPNC còn hình thức.
Do số lượng cán bộ Tòa án còn thiếu và việc bố trí tòa án cấp
huyện như hiện nay là chưa hợp lý.
Hầu hết các trại tạm giam đều quá tải, cán bộ quản lý trại giam
không thể quán xuyến được hết tất cả công việc để kịp thời thông báo
các trường hợp gần hết thời hạn tạm giam.

18


CHƢƠNG 3
YÊU CẦU VÀ CÁC GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ
ÁP DỤNG CÁC BIỆN PHÁP NGĂN CHẶN TRONG GIAI
ĐOẠN ĐIỀU TRA CÁC VỤ ÁN XÂM PHẠM SỞ HỮU CÓ
TÍNH CHIẾM ĐOẠT
3.1. Yêu cầu nâng cao hiệu quả áp dụng các biện pháp
ngăn chặn trong giai đoạn điều tra các vụ án xâm phạm sở hữu
có tính chiếm đoạt
Cơ sở nâng cao hiệu quả áp dụng BPNC trong giai đoạn điều
tra các vụ án xâm phạm sở hữu có tính chiếm đoạt được thể hiện
trong ba phương diện dưới đây:
- Về phương diện thực tiễn áp dụng pháp luật
- Về phương diện lý luận
- Về phương diện lập pháp
3.2. Các giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng các biện
pháp ngăn chặn trong giai đoạn điều tra các vụ án xâm phạm sở

định áp dụng BPNC.
- Tập trung chỉ đạo áp dụng tất cả các biện pháp nghiệp vụ để
nâng cao hiệu quả áp dụng BPNC.
- Cơ quan điều tra các cấp cần làm tốt công tác phòng ngừa,
nâng cao chất lượng cũng như kết quả điều tra khám phá án, hạn chế
đối tượng bỏ trốn.
- Cần nâng cao tinh thần trách nhiệm, tăng cường các biện
pháp phòng ngừa, quản lý tạm giam, tạm giữ, cải tạo phạm nhân
nhằm hạn chế đến mức thấp nhất đối tượng tạm giam, tạm giữ, phạm
nhân bỏ trốn.
- Tổ chức tốt công tác điều tra tại hiện trường, bắt giữ kịp thời
tội phạm, không để chúng có điều kiện chạy trốn.
3.2.3. Xử lý nghiêm minh, kịp thời các trường hợp vi phạm
trong quá trình áp dụng biện pháp ngăn chặn

20


Việc hoàn thiện chế độ trách nhiệm của người tiến hành tố
tụng cũng là giải pháp cần thiết để bảo đảm quyền tự do dân chủ của
công dân trong xét xử vụ án hình sự nói chung, trong áp dụng BPNC
nói riêng.
- Nâng cao trách nhiệm của người tiến hành tố tụng nếu họ có
những hành vi vi phạm pháp luật trong quá trình thực thi nhiệm vụ
với các hình thức như trách nhiệm dân sự, trách nhiệm hành chính và
trách nhiệm hình sự.
Bên cạnh đó Nhà nước cần có chính sách khen thưởng kịp
thời, thỏa đáng cho những cán bộ có thành tích cao trong công tác, có
sự ưu đãi về chế độ, chính sách để họ an tâm công tác, hạn chế những
cám dỗ về vật chất liên quan đến môi trường công tác của họ.

- Củng cố, kiện toàn tổ chức các cơ quan áp dụng các biện
pháp ngăn chặn trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự
- Nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ chức năng trong quá trình
tiến hành tố tụng, nhất là trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự.
-Xây dựng cơ chế ưu đãi về chế độ, chính sách đối với đội ngũ
tiến hành tố tụng.
- Tăng cường trang bị cơ sở vật chất cho cơ quan tiến hành tố
tụng
- Phát động phong trào toàn dân tham gia phòng chống tội
phạm

22


KẾT LUẬN
Các BPNC là một trong những biện pháp cưỡng chế của Nhà
nước, mang tính phòng ngừa do người có quyền hạn được quy định
trong BLTTHS áp dụng đối với người có dấu hiệu tội phạm chưa bị
khởi tố, bị can, bị cáo để ngăn chặn tội phạm và bảo đảm cho điều
tra, truy tố, xét xử, thi hành án. BPNC được coi là phương tiện pháp
lý sắc bén, có hiệu quả để giải quyết tình hình tội phạm. Do đó, các
BPNC có vị trí, vai trò hết sức quan trọng trong giai đoạn điều tra vụ
án hình sự nói chung, các vụ án xâm phạm sở hữu có tính chiếm đoạt
nói riêng. Việc áp dụng các BPNC thể hiện tính chuyên chính của
Nhà nước ta trong phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm bằng sức
mạnh cưỡng chế, tạo điều kiện thuận lợi cho cả quá trình xử lý vụ án,
đồng thời tôn trọng và bảo vệ quyền cá nhân được Hiến pháp và pháp
luật ghi nhận.
Qua nghiên cứu thực tiễn áp dụng các BPNC trong giai đoạn
điều tra tại tỉnh Quảng Nam cho thấy, bên cạnh những thành tựu đã

chặn trong giai đoạn điều tra các vụ án xâm phạm sở hữu có tính
chiếm đoạt từ thực tiễn tỉnh Quảng Nam”, học viên hy vọng rằng
luận văn sẽ góp phần vào việc giải quyết những vấn đề lý luận và
thực tiễn đối với việc áp dụng các BPNC trong giai đoạn điều tra vụ
án hình sự, nâng cao hiệu lực và hiệu quả của chúng trong phòng
ngừa và đấu tranh chống tội phạm, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp
của công dân. Tuy nhiên, do điều kiện và khả năng nghiên cứu khoa
học còn có hạn của học viên nên luận văn khó tránh khỏi những
khiếm khuyết. Học viên mong nhận được sự chỉ bảo của các thầy, ý
kiến đóng góp của các đồng nghiệp để tiếp tục bổ sung hoàn thiện
luận văn và để có thể tiếp tục nghiên cứu vấn đề này một cách sâu
sắc, toàn diện hơn.

24




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status