Cải cách hành chính trong Thi hành án dân sự từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng - Pdf 45

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN THỊ THANH HẢI

CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH TRONG
THI HÀNH ÁN DÂN SỰ TỪ THỰC TIỄN
THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI, năm 2017


VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN THỊ THANH HẢI

CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH TRONG
THI HÀNH ÁN DÂN SỰ TỪ THỰC TIỄN
THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

Chuyên ngành

: Luật Hiến pháp - Luật Hành chính

Mã số


2.2. Nội dung cải cách hành chính trong thi hành án dân sự trên địa bàn thành phố
Đà Nẵng thời gian qua ..............................................................................................41
2.3. Đánh giá chung ..................................................................................................59
CHƢƠNG 3. NHU CẦU VÀ GIẢI PHÁP TIẾP TỤC ĐẨY MẠNH CẢI CÁCH
HÀNH CHÍNH TRONG THI HÀNH ÁN DÂN SỰ TỪ THỰC TIỄN THÀNH
PHỐ ĐÀ NẴNG.......................................................................................................70
3.1. Nhu cầu đòi hỏi việc tiếp tục đẩy mạnh cải cách hành chính trong thi hành án
dân sự ........................................................................................................................70
3.2. Một số giải pháp nhằm tiếp tục cải cách hành chính trong thi hành án dân sự .73
KẾT LUẬN ..............................................................................................................78
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
CCHC

: Cải cách hành chính

CBCCVC : Cán bộ công chức viên chức
CHV

: Chấp hành viên

CMND

: Chứng minh nhân dân

CNTT

: Công nghệ thông tin


49

bảng
2.1.

của cục THADS Đà Nẵng

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Số hiệu

Tên biểu đồ

Trang

Kết quả giải quyết TTHC trong lĩnh vực THADS từ năm

40

biểu đồ
2.1.

2011-2016
2.2.

Công tác đơn giản hóa TTHC của Cục THADS giai đoạn

44

2013 – 2016

Tuy nhiên, thi hành án trước đây cũng như hiện nay là vấn đề hết sức phức tạp. Vì
vậy, bên cạnh những kết quả đạt được, công tác cải cách hành chính trong THADS
vẫn còn những hạn chế nhất định: thủ tục hành chính còn rườm rà, chất
lượng nguồn nhân lực chưa đáp ứng yêu cầu; trong cải cách hành chính chưa có
bước đột phá, một số lĩnh vực người dân, tổ chức chưa hài lòng; giải quyết công
việc ở bộ phận một cửa còn chậm thời gian; năng lực, trình độ chuyên môn nghiệp
vụ, kỹ năng công tác, kiến thức hành chính còn hạn chế; chưa chủ động và tích cực
trong công việc, tinh thần trách nhiệm chưa cao, thái độ chưa đúng mực, thậm chí
có biểu hiện sách nhi u, gây phiền hà, tiêu cực, việc kiểm tra, phát hiện, xử lý chưa
kịp thời; kỷ luật, kỷ cương hành chính ở một số cơ quan, đơn vị chưa nghiêm; thực
hành tiết kiệm, chống lãng phí trong sử dụng ngân sách có nơi chưa được quan tâm
đúng mức, hiệu quả còn hạn chế…
Sự nghiệp xây dựng và đổi mới đất nước hiện nay đã và đang đặt ra những
nhiệm vụ mới nặng nề đối với công tác thi hành án dân sự nói riêng và công tác thi

1


hành án nói chung. Do vậy, việc tiếp tục CCHC trong công tác THADS là yêu cầu
cấp thiết.
Nghị quyết hội nghị lần thứ tám Ban chấp hành trung ương Đảng khoá VII đã
chỉ rõ: “Sớm xây dựng và hoàn thiện pháp luật thi hành án theo hướng tập trung
nhiệm vụ quản lý nhà nước về công tác thi hành án vào Bộ tư pháp. Xây dựng đội
ngũ cán bộ làm công tác thi hành án để bảo đảm tốt công tác xét xử.”
Nghị quyết 48-NQ/TW ngày 24/5/2005 về chiến lược xây dựng và hoàn
thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020 đã
khẳng định “Xác định Bộ Tư pháp là cơ quan giúp Chính phủ quản lý nhà nước
thống nhất về công tác thi hành án”. Tiếp theo Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày
02/6/2015 về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 đã tiếp tục khẳng định
“Chuẩn bị điều kiện về cán bộ, cơ sở vật chất để giao cho Bộ Tư pháp giúp Chính

- Đề tài cấp Nhà nước "Luận cứ khoa học của việc đổi mới tổ chức và hoạt
động thi hành án ở Việt Nam trong giai đoạn mới", Bộ Tư pháp, 2000;
- Luận văn thạc sỹ luật học của tác giả Hoàng Kim Chiếm "Quản lý nhà
nước về thi hành án dân sự", Viện nghiên cứu Nhà nước và Pháp luật, 1997;
- Luận văn thạc sỹ luật học của tác giả Nguy n Công Long về "Các biện
pháp cưỡng chế thi hành án dân sự, thực tiễn áp dụng và hướng hoàn thiện",
Trường Đại học Luật Hà Nội, năm 2000;
- Luận văn thạc sỹ luật học của tác giả Lê Xuân Hồng về "Xã hội hóa thi
hành án dân sự ở Việt Nam", Trường Đại học Luật Hà Nội, 2002;
- Luận văn thạc sỹ luật học của tác giả Nguy n Quang Thái về "Đổi mới tổ
chức và hoạt động thi hành án dân sự ở Việt Nam", Trường Đại học Luật Hà Nội,
2003;
- Luận văn Thạc sỹ luật học của tác giả Lê Anh Tuấn về “Đổi mới thủ tục
THADS ở Việt Nam”, Trường Đại học Luật Hà Nội, 2004;
- Luận văn Tiến sỹ luật học của tác giả Nguy n Thanh Thủy về “Hoàn thiện
THADS ở Việt Nam hiện nay”, Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí
Minh, 2008;
- Luận văn Thạc sỹ luật học của tác giả Đậu Thị Thủy “Quản lý nhà nước về
THADS qua thực tế ở Thanh Hóa”, Viện Nhà nước và Pháp luật, 2008;

3


- Luận văn Thạc sỹ luật học của tác giả Nguy n Thế Ánh về “Thực hiện pháp
luật về THADS qua thực tiễn tỉnh Hưng Yên”, Học viện khoa học Xã hội, 2011;
- Luận văn Thạc sỹ Luật học của tác giả Hoàng Thế Anh “Giám sát THADS
ở Việt Nam hiện nay”, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, 2005;
Những công trình khoa học nói trên đã nghiên cứu những khía cạnh, phạm vi
khác nhau của THADS như nghiên cứu về tổ chức và hoạt động THADS, nghiên
cứu về vấn đề thực hiện pháp luật, nghiên cứu về cơ chế giám sát trong THADS, về

trung vào thời kỳ 2012-2016.
5. Phƣơng pháp luận và phƣơng pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp luận
Luận văn được nghiên cứu trên cơ sở vận dụng phương pháp luận của chủ
nghĩa duy vật biện chứng, chủ nghĩa duy vật lịch sử, phương pháp luận của chủ
nghĩa Mác-Lênnin và tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước pháp quyền.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng những phương pháp nghiên cứu sau để thực hiện đề tài:
- Phương pháp phân tích, tổng hợp: thông qua phương pháp này, các khái
niệm, đặc điểm, quan điểm liên quan đến tổ chức hoạt động, vị trí vai trò, thẩm
quyền của cơ quan thi hành án dân sự trong bộ máy hành chính được phân tích cụ
thể, chỉ ra các mối liên hệ từ đó đưa ra những kết luận về các vấn đề cần giải quyết
trong luận văn.
- Phương pháp so sánh được sử dụng để tìm ra các đặc điểm chung, điểm
khác biệt của cơ quan thi hành án dân sự. Phương pháp này còn được sử dụng để so
sánh mô hình cơ quan thi hành án dân sự từ khi được hình thành cho đến nay, và so
sánh các số liệu về kết quả thi hành án một số năm để thấy được hiệu quả về tổ chức
và hoạt động của cơ quan này.
- Phương pháp lịch sử được sử dụng để nghiên cứu quá trình hình thành và
phát triển về tổ chức và hoạt động cơ quan thi hành án dân sự qua các thời kỳ.
- Phương pháp thống kê: phương pháp này được áp dụng để đánh giá thực
trạng công tác THADS, công tác CCHC trong THADS.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1. Ý nghĩa lý luận
Kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần làm rõ những vấn đề lý luận về
THADS; đề xuất một số giải pháp nhằm đổi mới, nâng cao hiệu quả công tác
THADS

5


được thực hiện theo pháp luật về THADS.
Theo quy định tại Điều 2, Luật THADS năm 2008, sửa đổi, bổ sung năm
2014: “Những bản án, quyết định được thi hành theo Luật này bao gồm: Bản án,
quyết định quy định tại Điều 1 của Luật này đã có hiệu lực pháp luật: Bản án, quyết
định hoặc phần bản án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm không bị kháng cáo,
kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm; Bản án, quyết định của Tòa án cấp phúc thẩm;
Quyết định giám đốc thẩm hoặc tái thẩm của Tòa án; Bản án, quyết định dân sự
của Tòa án nước ngoài, quyết định của Trọng tài nước ngoài đã được Tòa án Việt
Nam công nhận và cho thi hành tại Việt Nam; Quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh
của Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh mà sau 30 ngày, kể từ ngày có hiệu lực pháp
luật đương sự không tự nguyện thi hành, không khởi kiện tại Tòa án; Phán quyết,
quyết định của Trọng tài thương mại; Quyết định của Tòa án giải quyết phá sản.
Những bản án, quyết định sau đây của Tòa án cấp sơ thẩm được thi hành ngay, mặc
dù có thể bị kháng cáo, kháng nghị: Bản án, quyết định về cấp dưỡng, trả lương, trả
công lao động, trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm, trợ cấp mất sức lao động

7


hoặc bồi thường thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, tổn thất về tinh thần, nhận người
lao động trở lại làm việc; Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời”.
Như vậy, đối tượng của THADS là các bản án, quyết định về dân sự, hôn
nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại và lao động; quyết định về dân sự, phạt
tiền, tịch thu tài sản, xử lý vật chứng, tài sản, truy thu tiền, tài sản thu lời bất chính,
án phí trong bản án, quyết định của Tòa án về hình sự; quyết định về phần tài sản
trong bản án, quyết định của Tòa án về hành chính; quyết định tuyên bố phá sản;
quyết định của Trọng tài thương mại Việt Nam; bản án, quyết định dân sự của Tòa
án nước ngoài, quyết định của Trọng tài nước ngoài được Việt Nam công nhận.
Mục đích của hoạt động THADS nhằm bảo đảm hiệu lực của bản án, quyết
định của Tòa án; bảo vệ lợi ích của Nhà nước; bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của tổ

Mặt khác, THADS lại do cơ quan tư pháp có thẩm quyền tổ chức thực hiện
Quan điểm thứ hai lại cho rằng THADS là dạng hoạt động của cơ quan hành
chính nhà nước. Theo quan niệm này thì tố tụng là quá trình tiến hành giải quyết các
vụ án theo quy định của pháp luật; quá trình này trải qua nhiều giai đoạn nhưng các
giai đoạn có liên quan mật thiết với nhau trong thể thống nhất và xét xử là giai đoạn
cuối cùng của quá trình tố tụng cho nên bản án, quyết định của toà án là kết quả
cuối cùng đánh dấu sự kết thúc của quá trình tố tụng. Hơn nữa, hoạt động THADS
mang tính chất chấp hành và điều hành.
Theo quan điểm thứ ba, THADS là dạng hoạt động mang tính hành chính tư pháp vì: thứ nhất, căn cứ để thi hành án là các bản án và quyết định của tòa án;
thứ hai, có sự tham gia của các cơ quan tư pháp (theo nghĩa rộng) vào quá trình thi
hành án. Ngoài ra, trong quá trình THADS còn phải tiến hành các hoạt động mang
tính hành chính như chứng thực bản sao giấy tờ, việc ủy quyền THADS, trước bạ
chuyển quyền sở hữu nhà cho người được thi hành án v.v…
Qua nghiên cứu, tác giả thấy quan điểm thứ ba là có cơ sở khoa học hơn cả.
Bởi vì:
THADS gắn liền với hoạt động xét xử vì xét xử và THADS là hai mặt của
quá trình bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự. Xét xử là tiền đề của
THADS, không có xét xử thì không có THADS. Ngược lại, THADS tiếp nối với xét
xử làm cho bản án, quyết định có hiệu lực trên thực tế nên có tác dụng củng cố kết
quả xét xử.

9


THADS mang tính độc lập - đặc trưng của hoạt động tư pháp. Thi hành án là
quá trình di n ra phức tạp, trong đó cơ quan THADS thường phải chịu áp lực, tác
động từ nhiều phía. Để bảo đảm hiệu quả của THADS, cơ quan THADS và chấp
hành viên phải được độc lập và không cá nhân, cơ quan, tổ chức nào được can thiệp
trái pháp luật vào quá trình THADS. Vì vậy, pháp luật THADS hiện hành đã quy
định cơ quan THADS tách khỏi các sở/phòng tư pháp địa phương, không phụ thuộc

chính – tư pháp. Tuy nhiên, như đã phân tích ở đoạn trên, cái căn bản trong THADS
là tính chất chấp hành, quản lí và phương pháp bắt buộc, nghĩa là tính hành chính là
cái nổi trội, cơ bản, quán xuyến. Vì vậy, có thể dùng dấu "gạch ngang" giữa hành
chính và tư pháp để phản ánh bản chất của thi hành án. Vấn đề đặt ra là có thể xác
định được mức độ (liều lượng) của tính hành chính và tính tư pháp trong THADS
hay không? Thật khó có thể xác định rõ được điều này. Tuy nhiên, thực ti n cũng đã
cho thấy rằng, đặc điểm của mỗi loại hình thi hành án cũng như của mỗi nhóm vụ
việc trong từng loại hình thi hành án quy định mức độ của tính hành chính và tính tư
pháp. Theo chúng tôi, trong THADS, tính tư pháp luôn thể hiện ở mức độ hạn chế
hơn so với tính hành chính.
Tóm lại, từ sự phân tích ở trên có thể đưa ra khái niệm về THADS như sau:
THADS là hoạt động mang tính hành chính - tư pháp do cơ quan Thi hành án,
Chấp hành viên tiến hành theo trình tự, thủ tục do pháp luật qui định để đưa bản
án, quyết định dân sự của Tòa án; Phán quyết, quyết định của Trọng tài thương mại
Quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh của Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh, được
thực hiện trên thực tế, nhằm bảo đảm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp
của các công dân, tổ chức, bảo vệ trật tự pháp luật.
1.1.2. Đặc điểm của thi hành án dân sự
Thứ nhất, hoạt động THADS mang tính cưỡng chế của quyền lực nhà nước.
Cưỡng chế là một tính chất cơ bản của pháp luật. Tính chất cưỡng chế làm
cho pháp luật khác với đạo đức và phong tục. Theo Lênin thì pháp luật sẽ không
còn là gì nữa nếu không có một bộ máy có đủ sức cưỡng bức người ta tuân theo
những tiêu chuẩn của pháp quyền thì pháp quyền có cũng như không [35], [36].
Các quy tắc đạo đức, phong tục được con người tuân theo, chủ yếu nhờ vào
sự tự giác, lòng tin, trình độ hiểu biết và tác động của xã hội; còn quy phạm pháp
luật được Nhà nước bảo đảm thi hành, nếu ai không chấp hành thì Nhà nước sẽ
cưỡng chế thi hành. Cưỡng chế nhà nước được áp dụng vì lợi ích của Nhà nước, xã

11



12


Trường hợp đương sự thỏa thuận trước khi yêu cầu thi hành án hoặc đã yêu
cầu nhưng cơ quan THADS chưa ra quyết định thi hành án thì thỏa thuận đó phải
lập thành văn bản nêu rõ thời gian, địa điểm, nội dung thỏa thuận, có chữ ký hoặc
điểm chỉ của các bên tham gia thỏa thuận. Đương sự có nghĩa vụ tự thực hiện đúng
nội dung đã thỏa thuận. Trường hợp bên có nghĩa vụ không thực hiện đúng nghĩa vụ
đã thỏa thuận mà thời hiệu yêu cầu thi hành án vẫn còn thì bên có quyền được yêu
cầu thi hành án đối với phần nghĩa vụ chưa được thi hành theo nội dung bản án,
quyết định.
Trường hợp cơ quan THADS đã ra quyết định thi hành án, đương sự vẫn có
quyền tự thỏa thuận. Thỏa thuận phải thể hiện rõ thời gian, địa điểm, nội dung thỏa
thuận, thời hạn thực hiện thỏa thuận, hậu quả pháp lý đối với việc không thực hiện
hoặc thực hiện không đúng nội dung đã thỏa thuận, có chữ ký hoặc điểm chỉ của các
bên tham gia. Trường hợp các bên không tự nguyện thực hiện theo đúng nội dung
đã thỏa thuận thì cơ quan THADS căn cứ nội dung quyết định thi hành án và kết
quả đã thi hành theo thỏa thuận, đề nghị của đương sự để tổ chức thi hành, trừ
trường hợp quy định tại Điểm c Khoản 1 Điều 50 Luật THADS.
Trường hợp cơ quan THADS đang tổ chức thi hành án mà đương sự thỏa
thuận về việc không yêu cầu cơ quan THADS thi hành một phần hoặc toàn bộ quyết
định thi hành án thì Thủ trưởng cơ quan THADS ra quyết định đình chỉ thi hành án
đối với nội dung thỏa thuận không yêu cầu thi hành theo quy định tại Điểm c Khoản
1 Điều 50 Luật THADS, trừ trường hợp thỏa thuận vi phạm điều cấm của pháp luật,
trái đạo đức xã hội, không đúng với thực tế, làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích
hợp pháp của người thứ ba hoặc nhằm trốn tránh phí thi hành án. Trường hợp thỏa
thuận nêu trên được thực hiện sau khi tài sản đã được bán hoặc giao cho người khác
nhận để thi hành án thì phải được sự đồng ý của người mua được tài sản hoặc người
nhận tài sản để thi hành án. Khi đương sự có yêu cầu, Chấp hành viên có trách

thi hành án đều phải tuân theo nguyên tắc tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà
nước nói chung và điều đó làm cho hoạt động THADS luôn chịu sự tác động, điều
chỉnh trực tiếp của pháp luật về THADS và rộng hơn là của cả hệ thống pháp luật.
Tức là phải tiến hành theo một trình tự, thủ tục chặt chẽ do pháp luật quy định.
Thứ năm, hoạt động THADS mang tính phối hợp.
THADS là hoạt động liên quan trực tiếp đến quyền về tài sản và nhân thân
của các bên đương sự. Để giải quyết việc thi hành án, cơ quan THADS phải tiến
hành nhiều thủ tục như: tống đạt, xác minh, áp dụng các biện pháp đảm bảo, biện

14


pháp cưỡng chế thi hành án v.v... Vì thế, cơ quan THADS không thể một mình thực
hiện được các công việc trên, mà cần có sự phối hợp với các cơ quan, tổ chức có
liên quan như: liên quan đến quyền sử dụng đất, cơ quan THADS cần sự phối hợp
của cơ quan quản lý tài nguyên và môi trường; liên quan đến tài khoản cần sự phối
hợp của ngân hàng, tổ chức tín dụng ... Có sự phối hợp, hỗ trợ tốt từ các cơ quan,
ban ngành liên quan thì công tác thi hành án mới đạt kết quả cao. Việc tổ chức thi
hành các bản án, quyết định của Tòa án, cơ quan THADS không thể độc lập tổ chức
thực hiện mà phải thường xuyên chủ động phối kết hợp với các cơ quan có liên
quan và các cấp chính quyền. Luật THADS năm 2008 sửa đổi, bổ sung năm 2014
đã quy định rõ nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan, tổ chức trong THADS (chương
VIII). Đặc biệt là các quy định từ Điều 174 đến Điều 180 về nhiệm vụ quyền hạn
của

y ban nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện, cấp xã và các cơ quan, tổ chức đoàn thể

thường xuyên phối hợp với cơ quan THADS trong việc tổ chức thi hành án [27].
1.1.3.Ý nghĩa của thi hành án dân sự
Thứ nhất, bảo đảm bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực thực tế trong

hành án dân sự, là nguyên tắc đảm bảo quyền lợi ích hợp pháp của đương sự và
người liên quan đến việc thi hành án dân sự. Ghi nhận nguyên tắc này trong pháp
luật là sự phản ánh khách quan của hoạt động thi hành án vì mục đích thi hành án
dân sự là bảo vệ quyền, lợi hợp pháp của mọi chủ thể quyền lợi có liên quan.
Việc thi hành án dân sự không những phải đảm bảo quyền lợi hợp pháp của
đương sự mà còn phải đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của những người có
quyền, nghĩa vụ liên quan đến thi hành án dân sự không được xâm phạm gây thiệt
hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của họ.
Đây là tư tưởng pháp lý chủ đạo có tính bắt buộc chung được quy định trong
pháp luật THADS. Việc tổ chức THADS phải đúng pháp luật và đúng nội dung bản
án, quyết định được thi hành để đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp của người được thi
hành án, người phải thi hành án và không xâm phạm đến quyền lợi ích hợp pháp của
những người liên quan đến việc THADS. Bảo đảm cho người được thi hành án, người
phải thi hành án và những người liên quan được tham gia vào quá trình thi hành án để
bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của họ và đảm bảo quyền khiếu nại của họ đối với các
hành vi trái pháp luật trong thi hành án.
Thứ ba, THADS là thước đo hiệu quả hoạt động xét xử của Tòa án và các
hoạt động tư pháp khác. Thông qua THADS, cơ quan thi hành án phát hiện sai sót

16


của Tòa án trong việc áp dụng pháp luật, từ đó kiến nghị Tòa án có thẩm quyền
kịp thời chỉ đạo công tác xét xử, hướng dẫn áp dụng áp luật và kiến nghị trong
việc lập pháp.
Hoạt động điều tra, truy tố và xét xử di n ra rất phức tạp và tốn kém, song
những hoạt động đó có thể chỉ là con số không nếu như bản án, quyết định của Tòa
án không được đưa ra thi hành trên thực tế. Với ý nghĩa đó, THADS là một hoạt
động không thể thiếu được trong quá trình bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của
đương sự. Thông qua thi hành án, kết quả của công tác xét xử được củng cố, hiệu

quyết những đòi hỏi của thực ti n với mục tiêu rõ ràng, chương trình cụ thể và yêu
cầu phải hoàn tất trong một thời gian nhất định. Với ý nghĩa đó, cải cách hiện diện
trong nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội.
Thuật ngữ “Hành chính” có gốc từ tiếng Latinh “administratio” là quản lý,
lãnh đạo. Hiện nay có khá nhiều cách hiểu và giải thích khác nhau về thuật ngữ này,
tuỳ theo góc độ tiếp cận của từng nhà nghiên cứu. Tuy có nhiều cách tiếp cận,
nhưng các tác giả đều cơ bản thống nhất cho rằng hành chính là tổng thể những
hoạt động (thao tác) nhất định do con người, chủ thể quản lý thực hiện đối với
khách thể quản lý nhằm cải tạo khách thể, bảo đảm cho nó vận động tới một mục
tiêu đã định. Hành chính chính là hoạt động quản lý của con người để tạo ra sự vận
hành mang tính hệ thống của xã hội.
Từ quan niệm về cải cách và hành chính ở trên, chúng ta có thể nhận thấy
rằng CCHC chính là hoạt động có ý thức và mục đích của con người nhằm hợp lý
hóa, hay khắc phục các khiếm khuyết trong các chương trình điều hành, quản lý các
hệ thống. Như vậy, CCHC là hoạt động cải tạo, nâng cấp, hoàn thiện công tác quản
lý cho tất cả các hệ thống trong xã hội.
Vậy ta có thể hiểu CCHC trong lĩnh vực THADS là:“hoạt động cải tạo,
nâng cấp hoàn thiện công tác quản lý hệ thống cơ quan THA để đưa bản án, quyết
định dân sự của Tòa án; Phán quyết, quyết định của Trọng tài thương mại; Quyết
định xử lý vụ việc cạnh tranh của Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh theo qui định
của pháp luật, được thực hiện trên thực tế, nhằm bảo đảm lợi ích của Nhà nước,
quyền, lợi ích hợp pháp của các công dân, tổ chức, bảo vệ trật tự pháp luật xã hội”.

18


1.2.1.2. Vai trò của cải cách hành chính trong thi hành án dân sự
Hoạt động hành chính nhà nước nói chung và hoạt động hành chính trong
THADS nói riêng đóng vai trò quan trọng trong việc bảo đảm trật tự của xã hội,
duy trì sự phát triển xã hội theo định hướng của nhà nước, qua đó hiện thực hóa


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status