Giải pháp phát triển trang trại tại Tỉnh Giai Lai - Pdf 45

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG

NGUYỄN THỊ ÁNH NGUYỆT

GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN TRANG TRẠI
TẠI TỈNH GIA LAI

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

Đà Nẵng - Năm 2013


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG

NGUYỄN THỊ ÁNH NGUYỆT

GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN TRANG TRẠI
TẠI TỈNH GIA LAI

Chuyên ngành: Kinh tế Phát triển
Mã số: 60.31.05

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS VÕ XUÂN TIẾN

Đà Nẵng - Năm 2013




5. Bố cục của luận văn

3

6. Tổng quan tài liệu nghiên cứu

3

CHƯƠNG 1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN
TRANG TRẠI

6

1.1. KHÁI QUÁT VỀ PHÁT TRIỂN TRANG TRẠI

6

1.1.1. Một số khái niệm

6

1.1.2. Đặc trưng của trang trại

8

1.1.3. Phân loại trang trại

11



25

1.3. CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN PHÁT TRIỂN TRANG TRẠI 25
1.3.1. Điều kiện tự nhiên

25

1.3.2. Điều kiện xã hội

28


1.3.3. Điều kiện kinh tế
1.4. KINH NGHIỆM PHÁT TRIỂN TRANG TRẠI

30
33

1.4.1. Kinh nghiệm phát triển trang trại ở các nước trên thế giới

33

1.4.2. Kinh nghiệm phát triển trang trại ở Việt Nam

34

CHƯƠNG 2. THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN TRANG TRẠI TẠI
TỈNH GIA LAI THỜI GIAN QUA


53

2.2.3. Thực trạng về chủng loại và chất lượng nông sản, hàng hóa

61

2.2.4. Tình hình liên kết sản xuất và tổ chức tiêu thụ

62

2.2.5. Kết quả sản xuất của trang trại tỉnh Gia Lai năm 2011

64

2.3. ĐÁNH GIÁ CHUNG VỀ PHÁT TRIỂN TRANG TRẠI TỈNH GIA
LAI

66
2.3.1. Thành công và hạn chế

66

2.3.2. Nguyên nhân của các hạn chế

67

CHƯƠNG 3. GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN TRANG TRẠI TẠI TỈNH
GIA LAI THỜI GIAN TỚI

70

3.2.2. Mở rộng quy mô các nguồn lực

78

3.2.3. Tăng chủng loại và nâng cao chất lượng sản phẩm

83

3.2.4. Tăng cường liên kết sản xuất và mở rộng thị trường tiêu thụ

86

3.2.5. Các giải pháp gia tăng kết quả sản xuất

90

3.3. MỘT VÀI KIẾN NGHỊ

93

KẾT LUẬN

96

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

98

QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI LUẬN VĂN (Bản sao)



Cơ cấu ngành kinh tế của tỉnh Gia Lai

45

2.5

Số lượng trang trại khu vực Tây nguyên qua các năm

50

2.6

Tốc độ tăng của số lượng trang trại tỉnh Gia Lai qua
các năm

2.7

51

Số lượng trang trại phân theo lĩnh vực sản xuất ở tỉnh
Gia Lai qua các năm

52

2.8

Hiện trạng sử dụng đất của tỉnh Gia Lai qua các năm

53


59

2.14

Một số chỉ tiêu về cơ sở hạ tầng năm 2011

61

2.15

Các chỉ tiêu đánh giá kết quả kinh doanh theo các loại
hình trang trại năm 2011

64


DANH MỤC CÁC HÌNH
Số hiệu

Tên hình

hình
2.1

Bản đồ địa lý tỉnh Gia Lai

2.2

Tốc độ gia tăng về số lượng trang trại tỉnh Gia Lai qua

Trang trại là hình thức tổ chức kinh tế khơi dậy và phát huy những tiềm năng
sẵn có, thích hợp trong việc cơ giới hóa, công nghiệp hóa và áp dụng khoa
học kỹ thuật tiên tiến vào sản xuất trong nông nghiệp.
Trang trại là một bộ phận không thể thiếu trong kinh tế nông nghiệp hiện
nay. Trang trại có đóng góp rất lớn cho nền kinh tế quốc dân, góp phần khai
thác có hiệu quả các nguồn lực và thúc đẩy phát triển kinh tế. Vì vậy, tỉnh Gia


2

Lai nói riêng và các địa phương khác trong cả nước nói chung, phát triển
trang trại đã đem lại những hiệu quả nhất định. Tuy nhiên, trang trại của tỉnh
Gia Lai thực sự đã phát triển đúng hướng chưa, có hiệu quả chưa, phục vụ tốt
nhu cầu thị trường chưa, đã góp phần khai thác tiềm năng, thế mạnh của tỉnh
chưa? Rõ ràng còn nhiều bất cập.
Với những ý nghĩa thực tiễn nên trên, kết hợp với lý luận được học tập
và nghiên cứu, tác giả chọn đề tài "GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN TRANG TRẠI
TẠI TỈNH GIA LAI", đề tài tập trung nghiên cứu hiệu quả kinh tế các loại
hình trang trại trên địa bàn tỉnh Gia Lai, đề xuất những giải pháp phát triển
trang trại tỉnh Gia Lai góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đẩy
mạnh quá trình công nghiệp hoá hiện đại hoá nông nghiệp và nông thôn.
2. Mục tiêu nghiên cứu
- Hệ thống hoá các vấn đề lý luận liên quan đến việc phát triển trang trại.
- Phân tích thực trạng phát triển trang trại thời gian qua tại tỉnh Gia Lai.
- Đề xuất giải pháp nhằm phát triển trang trại trong thời gian tới tại Gia Lai.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
a. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là những vấn đề lý luận và thực tiễn
liên quan đến việc phát triển trang trại tại tỉnh Gia Lai.
b. Phạm vi nghiên cứu

trại tỉnh Gia Lai vẫn phát triển nhỏ lẻ mang nặng tính chất gia đình, tự cấp tự
túc. Do vậy, việc nghiên cứu, đề xuất giải pháp phát triển trang trại vẫn mang
tính cấp thiết. Mặc khác, các giải pháp mà đề tài đề xuất, kiến nghị mang tính
cụ thể, phù hợp với đặc điểm của trang trại tỉnh Gia Lai nên mặc dù co tính kế
thừa các công trình nghiên cứu trước đây nhưng đề tài có hướng đi và cách
giải quyết khác.
Theo các nguồn công bố chính thức cho thấy, trong những năm gần đây


4

đã có rất nhiều công trình khoa học nghiên cứu để từng bước hoàn thiện các
vấn đề lý luận và giải quyết các yêu cầu thực tiễn đặt ra trong quá trình phát
triển trang trại ở Việt Nam.
Để giải quyết vấn đề về đi sâu vào nghiên cứu làm rõ vai trò của ”chuỗi
giá trị nông sản” trong phát triển kinh tế trang trại; lượng hóa mức độ ảnh
hưởng của các nhân tố đối với việc hình thành và phát triển kinh tế trang trại
ở Việt Nam cũng như vùng Duyên hải Nam Trung Bộ, tác giả Đào Hữu Hòa
với công trình nghiên cứu luận án tiến sĩ kinh tế (2008) ”Phát triển kinh tế
trang trại trên địa bàn Duyên hải Nam Trung Bộ trong quá trình Công nghiệp
hóa, Hiện đại hóa”.
Đối với công trình nghiên cứu về trang trại, tác giả cũng đã nghiên cứu
công trình ”Phát triển kinh tế trang trại trong lĩnh vực nông lâm tại tỉnh
Quảng Nam” của tác giả Võ Thiện Chín (2011), luận văn đã đánh giá thực
trạng của địa phương, phân tích thế mạnh của trang trại trong lĩnh vực nông
lâm, triển vọng phát triển trong tương lai, các yếu tố tác động đến kết quả sản
xuất kinh doanh của các trang trại, việc tận dụng tối đa nguồn tài lực và nhân
lực của địa phương cho sự phát triển của trang trại… Từ đó xác định được các
vấn đề mấu chốt, trọng tâm cho sự phát triển của trang trại và đề ra giải pháp
phát triển cho trang trại trong thời gian tới.

ngữ: Ferme (Tiếng Pháp), Farm (tiếng Anh)...vv, được hiểu chung là nông dânchủ trang trại gia đình. Các thuật ngữ trên được hiểu chung là nông dân, chủ
trang trại gia đình, người nông dân gắn với ruộng đất, với đất đai nói chung”.
Trang trại là đơn vị cơ sở sản xuất của hộ gia đình nông dân, được hình
thành và phát triển từ phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa thay thế dần
phương thức sản xuất phong kiến. Trang trại được hình thành từ cơ cở của các
hộ tiểu nông sau khi phá bỏ hình thức sản xuất tự cấp, tự túc vươn lên sản
xuất nhiều nông sản hàng hóa tiếp cận với thị trường và từng bước thích nghi
với nền kinh tế cạnh tranh.
Có ý kiến cho rằng: “Trang trại là hình thức tổ chức sản xuất cơ sở của


7

nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp có mục đích chủ yếu là sản xuất hàng
hóa; tư liệu sản xuất thuộc quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng của chủ thể độc
lập; sản xuất được tiến hành trên quy mô tương đối lớn; với cách thức tổ chức
quản lí, trình độ tổ chức quản lí tiến bộ và trình độ kĩ thuật cao; hoạt động tự
chủ và luôn gắn với thị trường”.
Một ý kiến khác: “Trang trại là đơn vị sản xuất cơ bản của nền nông
nghiệp hàng hóa được tổ chức trên nguyên tắc tập trung và chuyên môn hóa
lao động cao, tích tụ ruộng đất và tập trung vốn lớn vào một hay một số chủ
thể kinh doanh ở một quy mô nhất định nhằm đạt sản lượng sản phẩm lớn, với tỉ
suất hàng hóa cao”.
Nghị quyết 03/NQ-CP ngày 02/02/2000 của Chính phủ đã xác định:
Trang trại là hình thức tổ chức sản xuất hàng hóa trong nông nghiệp,
nông thôn, chủ yếu dựa vào hộ gia đình, nhằm mở rộng quy mô và nâng cao
hiệu quả sản xuất trong lĩnh vực trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản,
trồng rừng, gắn sản xuất với chế biến và tiêu thụ nông, lâm, thủy sản.
Còn rất nhiều tác giả ở các góc độ khác nhau, đã đưa ra nhiều khái niệm
khác nhau, nhưng tựu chung vẫn thống nhất cho rằng, trang trại là một hình

giai đoạn cụ thể, tùy theo điều kiện và trình độ phát triển cụ thể của nền kinh
tế mà những đặc điểm trên có thể biểu hiện ở những mức độ khác nhau.
1.1.2. Đặc trưng của trang trại
Những đặc trưng của trang trại cần được xuất phát từ khái niệm về trang
trại đã được trình bày ở trên.
a. Mục đích cơ bản là sản xuất nông sản phẩm hàng hóa cho thị trường
Tỷ suất hàng hóa càng cao càng thể hiện bản chất và trình độ phát triển
của trang trại. Sản xuất nông nghiệp theo kiểu truyền thống tự cung, tự cấp
chỉ giải quyết nhu cầu của chính người sản xuất, lượng sản phẩm dư thừa đem
bán trên thị trường chiếm một tỷ trọng rất nhỏ so với khối lượng nông sản mà
họ sản xuất ra. Các hộ nông dân cũng cố gắng bán bất kỳ thứ nông sản nào do


9

chính bản thân họ sản xuất ra - giai đoạn này gọi là thương mại hóa sản phẩm.
Sau đó, hộ nông dân sản xuất hàng hóa theo yêu cầu của thị trường - đó là giai
đoạn sản xuất hàng hóa của hộ đã đạt tới một trình độ cao để thích ứng với
nhu cầu của thị trường. Tới khi sản xuất hàng hóa khu vực nông thôn đã đạt
đến một cấp độ cao hơn, một bộ phận nông dân đã phát triển đến hình thức
sản xuất theo mô hình trang trại.
Đặc trưng về mục đích sản xuất hàng hóa là đặc trưng quan trọng nhất,
bởi vì mục đích sản xuất hàng hóa chi phối và ảnh hưởng rất lớn, thậm chí
quyết định tới tất cả các đặc trưng khác của trang trại. Đặc trưng về mục đích
sản xuất hàng hóa có thể biểu thị về mặt lượng bằng những chỉ tiêu chủ yếu
như giá trị sản xuất hàng hóa (nông-lâm-thủy sản) được tạo ra trong một năm
của trang trại; tỷ suất hàng hóa của trang trại.
b. Tư liệu sản xuất thuộc quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng của một
người chủ độc lập
Người chủ độc lập ở đây là người hoàn toàn có quyền tự chủ trong hoạt

trồng, quy hoạch ruộng đất, xây dựng kết cấu hạ tầng kỹ thuật sản xuất, áp
dụng công nghệ mới vào quy trình sản xuất thâm canh...
e. Chủ trang trại là người có ý chí, có năng lực tổ chức quản lý, có
kiến thức và kinh nghiệm sản xuất nông nghiệp và có hiểu biết nhất định
về kinh doanh, về thị trường
Người chủ trang trại là người có những tố chất cần thiết để tổ chức và
quản lý hoạt động sản xuất kinh doanh của trang trại. Những yếu tố cần thiết
và chủ yếu của trang trại như là người có ý chí và quyết tâm làm giàu từ nghề
nông, có năng lực tổ chức quản lý sản xuất, có kiến thức và kinh nghiệm
trong sản xuất nông nghiệp, đồng thời có hiểu biết nhất định về hạch toán,
phân tích kinh doanh, tiếp cận thị trường... Mức độ hoàn thiện các tố chất gắn
liền với các giai đoạn phát triển của trang trại. Các chủ trang trại cần tiếp cận
thị trường, hiểu biết về thị trường, phải có chiến lược và thực hiện linh hoạt


11

trong kinh doanh nhằm đứng vững và phát triển trong cơ chế thị trường, chủ
động trong cạnh tranh.
1.1.3. Phân loại trang trại
- Phân loại theo cơ cấu sản xuất, gồm có: Trang trại trồng trọt, trang trại
lâm nghiệp, trang trại chăn nuôi, trang trại nuôi trồng thủy sản, trang trại kinh
doanh tổng hợp.
- Phân loại theo hình thức quản lý, gồm có: Trang trại gia đình, trang trại
liên doanh, trang trại hợp doanh theo cổ phần
- Phân loại theo nguồn thu nhập của các trang trại, trang trại được chia
thành 02 loại đó là những trang trại “thuần nông” và trang trại “không thuần
nông”.
- Phân theo quy mô hoạt động, trang trại được chia thành 03 loại, đó là
trang trại quy mô nhỏ, trang trại quy mô lớn và trang trại quy mô rất lớn.

trở lên.
+ Chăn nuôi gia súc (lợn, dê…): chăn nuôi sinh sản có thường xuyên đối
với lợn từ 20 con trở lên, đối với dê, cừu từ 100 con trở lên. Chăn nuôi lợn lấy
thịt có thường xuyên 50 con trở lên (không kể lợn sữa), dê lấy thịt từ 200 con
trở lên.
+ Chăn nuôi gia cầm (gà, vịt, ngang, ngỗng…):có thường xuyên từ 2000
con trở lên (không tính số đầu con dưới 7 ngày tuổi).
- Trang trại nuôi trồng thuỷ sản: Diện tích từ 02ha trở lên (riêng đối với
trang trại nuôi tôm thịt theo mô hình công nghiệp từ 01ha trở lên).
Theo thông tư số 27/2011/BNNPTNT Quy định về tiêu chí và thủ tục cấp
giấy chứng nhận kinh tế trang trại của Bộ Nông nghiệp và phát triển nông
thôn, các cá nhân, hộ gia đình sản xuất nông lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản
đạt tiêu chuẩn trang trại phải thỏa mãn điều kiện sau:
* Đối với cơ sở trồng trọt, nuôi trồng thủy sản, sản xuất tổng hợp phải
đạt:


13

- Có diện tích hạn điền, tối thiểu:
+ 3,1 ha đối với vùng Đông Nam Bộ và Đồng bằng Sông Cửu Long;
+ 2,1 ha đối với các tỉnh còn lại.
- Giá trị sản lượng hàng hóa đạt 700 triệu đồng/năm.
* Đối với cơ sở chăn nuôi phải đạt giá trị sản lượng hàng hóa từ 1.000
triệu đồng/năm trở lên.
* Đối với cơ sở sản xuất lâm nghiệp phải có diện tích tối thiểu 31 ha và
giá trị sản lượng hàng hóa bình quân đạt 500 triệu đồng/năm trở lên
b. Tiêu chí đánh giá sự phát triển của trang trại
- Giá trị sản xuất ngày càng tăng qua các năm:
Giá trị sản xuất: GO (Gross output) là giá trị bằng tiền của các sản phẩm

- Kết quả sử dụng đất: Giá trị gia tăng (VA)/ ha đất trang trại;
1.1.5. Vai trò của trang trại trong quá trình phát triển nông nghiệp
nông thôn
Qua thực tiễn phát triển kinh tế nông nghiệp, mô hình trang trại được xem
là nhân tố mới ở nông thôn, góp phần quan trọng trong phát triển kinh tế nông
nghiệp, nông thôn. Trang trại là hình thức tổ chức sản xuất thích hợp và khách
quan khi các hộ sản xuất nông nghiệp từng bước hòa nhập vào kinh tế thị trường,
bởi vì:
- Góp phần khai thác tốt các tiềm năng, thúc đẩy quá trình chuyển đổi cơ
cấu kinh tế trong nông nghiệp, nông thôn
Trang trại phát triển đã thu hút một khối lượng lớn tiền vốn nhàn rỗi
trong dân vào sản xuất nông nghiệp, đã tạo ra động lực để khai thác tốt các
vùng đất khó khăn, đất trống, đồi núi trọc, đất hoang hóa mà kinh tế quốc
doanh, tập thể khai thác không hiệu quả, từ đó góp phần cải thiện môi trường
sinh thái. Kết quả chuyển đổi đầu tư, lựa chọn mô hình sản xuất, kinh doanh
đã tạo cho trang trại khai thác tiềm năng đất đai một cách hiệu quả hơn và tạo
ra khối lượng nông sản, thực phẩm lớn, đa dạng, tạo nguồn nguyên liệu cung


15

cấp cho ngành công nghiệp chế biến, nông lâm sản phát triển, điều đó đã giúp
cho việc sử dụng hợp lý và có hiệu quả hơn các nguồn tài nguyên đất và nước.
- Tạo điều kiện thúc đẩy quá trình hợp tác giữa các thành phần kinh tế
Phát triển trang trại đã mở ra hướng làm ăn mới được đông đảo hộ gia đình
nông dân tham gia, hình thành đội ngũ nông dân năng động, dám nghĩ, dám
làm, đoàn kết, hợp tác kinh tế giữa các chủ trang trại với nhau và giữa các trang
trại với hợp tác xã, các doanh nghiệp được phát triển và ngày càng bền vững
hơn.
Xu hướng phát triển hợp tác giữa chủ trang trại với người lao động làm thuê

Thực tế cho thấy, do quy mô, tính chất, ngành nghề của các trang trại
không giống nhau. Có những trang trại chỉ phát triển ở quy mô gia đình, thôn
xóm nhưng cũng có những trang trại phát triển ở quy mô xã, huyện. Do vậy,
phát triển trang trại về số lượng cũng chính là mở rộng, nhân rộng số địa
phương cũng như số ngành nghề có sử dụng các nông sản hàng hóa do các
trang trại sản xuất ra.
Việc gia tăng số lượng trang trại được thể hiện bằng cách phát triển mới
các cơ sở sản xuất nông nghiệp theo hình thức trang trại hoặc chuyển hóa
kinh tế các hộ gia đình thành trang trại, hoặc là phát triển về mặt cơ cấu. Tức
là chuyển hóa cơ cấu sản xuất của các trang trại theo hướng công nghiệp hóa hiện đại hóa, cụ thể là chuyển dịch cơ cấu sản xuất từ quảng canh sang thâm
canh, từ sản xuất lệ thuộc vào tự nhiên sang sản xuất chủ động mang tính chất
công nghiệp (ứng dụng khoa học công nghệ) tiên tiến. Trong cơ chế thị
trường việc tăng số lượng các trang trại cần chú trọng phát triển những trang
trại sản xuất nông sản hàng hóa đáp ứng được nhu cầu lớn của thị trường, sản
phẩm có khả năng xuất khẩu, sản phẩm có giá trị kinh tế cao.
Tuy nhiên, phát triển số lượng trang trại phải được tiến hành cùng với
việc nâng cao năng lực cạnh tranh của các trang trại. Bởi vì khi các trang trại
được nâng cao năng lực cạnh tranh thì mới đứng vững được trong điều kiện


17

cạnh tranh và hội nhập với các yếu tố môi trường thường xuyên biến động.
Năng lực cạnh tranh của các trang trại được nâng cao mới đánh giá thực chất
sự phát triển trang trại của một địa phương, một vùng hoặc một nước. Sự phát
triển về số lượng trang trại phải được kiểm chứng thông qua canh tranh, uy
tín, thương hiệu,…
- Tiêu chí phản ánh sự phát triển số lượng các trang trại:
+ Số lượng trang trại tăng qua các năm,
+ Tốc độ tăng của số lượng trang trại,


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status