1
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
VIỆN ĐÀO TẠO SAU ĐẠI HỌC
TIỂU LUẬN MÔN
KINH TẾ NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG
THÔN II
Đề tài: PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG TÀI CHÍNH NÔNG THÔN
VIỆT NAM: TIẾP CẬN GÓC ĐỘ HỘ GIA ĐÌNH
Giảng viên hướng: PGS. TS. Đinh Phi Hổ
Lớp: KTPT đêm K21
Học viên thực hiện: Hoàng Thị Thu Hà
TP. Hồ Chí Minh, tháng 04 năm 2013
2
MỤC LỤC
Trang
1.Đặt vấn đề……………………………………………………………………………….3
2. Cơ sở lý luận………………………………………… ………………………………. 4
3. Thực trạng và các nghiên cứu liên quan ……………………………………………….5
3.1. Nghiên cứu của Pham Bao Duong và Yoichi Izumida năm 2002 ………… 7
3.2 Nghiên cứu của Phan Dinh Khoi, Christopher Gan Gilbert V. Nartea, David
A. Cohen, 2013……………………………………………………………………………………9.
4. Kết luận và hàm ý chính sách ……………………………………………………… 10
Tài liệu tham khảo…………………………………………………………………… 12
PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG TÀI CHÍNH NÔNG THÔN VIỆT NAM:
3
TIẾP CẬN GÓC ĐỘ HỘ GIA ĐÌNH
1. Đặt vấn đề
Tín dụng nông nghiệp đóng vai trò quan trọng trong phát triển nông thôn. Mô hình hộ gia
đình cho thấy tín dụng hộ gia đình không chỉ cần thiết vì sự hạn chế của việc tự tài trợ
cho chính mình mà còn bởi sự không chắc chắn trong sản lượng và độ trễ giữa nhập
lượng và sản lượng. Hộ gia đình nông thôn có đặc trưng là sống ở khu vực có sự thất bại
2. Cơ sở lý luận
Tranh luận về sự kết hợp giữa người đi vay-người cho vay xác định các điều khoản của
hợp đồng tín dụng đã tạo ra một hàm cung và hàm cầu tín dụng, với hai hàm được xác
định đồng thời. Đối với người đi vay, có rủi ro vay và chi phí quản lý, lãi suất sẽ biến
động với số tiền cho vay và đặc tính kinh tế của người đi vay mà đặc tính này có tác động
đến xác suất hoàn trả. Theo đó, nếu lãi suất là một biến quan sát được thì nó chỉ tác động
đến biến động về phía cung. Biến động về phía cầu chỉ bị tác động bởi quyết định của hộ
gia đình nên đi vay từ khu vực nào, chính thức hay phi chính thức. Nói chính xác hơn,
quyết định này nói lên sự lựa chọn hợp đồng tín dụng phụ thuộc vào những vấn đề khác
như sự trù phú về kinh tế hay những cơ hội có sẵn khác (Pham Bao Duong và Yoichi
Izumida, 2002).
Các giao dịch cho vay trong một thời gian ngắn tại một làng nào đó có lãi suất biến động
từ không cho đến các khoản vay thương mại giữa bạn bè, ngoài ra còn có các loại tín
dụng khác từ các tổ chức chính thức hay phi chính thức. Quy mô của hộ là nhân tố quan
trọng nhất trong việc quyết định đi vay từ các tổ chức phi chính thức (Pham Bao Duong
và Yoichi Izumida, 2002).
Đứng trước nhu cầu đi vay, cần có hiểu biết về việc những người cho vay sẽ phản ứng
như thế nào. Các hộ gia đình ở nông thôn được chứng minh là không đồng nhất về sự trù
phú của thiên nhiên, về sản xuất và tiêu thụ. Người cho vay được giả định là có thể thu
5
thập về mức độ tín nhiệm của người đi vay và từ đó có những điều khoản quy định theo
hợp đồng tín dụng phù hợp với từng đối tượng. Do đó, thông tin là rất tốn kém với họ,
nhưng đồng thời họ sẽ đối diện với vấn đề thông tin bất cân xứng. Từ đó xuất hiện nhu
cầu hạn chế tín dụng của người cho vay (Stiglitz & Weiss, 1981).
Do đó, với việc tiếp cận tín dụng bị giới hạn gây cản trở đối với cân bằng ngân sách ngay
cả nơi mà chi phí nhỏ hơn doanh thu hay nói cách khác là nơi mà việc tích lũy tiết kiệm
có thể xảy ra và tín dụng là có sẵn. Đến lượt nó tác động đến sản xuất và tiêu dùng:
không còn ở mức tối ưu nữa. Người đi vay không thể vay đủ số tiền mà họ cần vay với
lãi suất thông thường và thậm chí ngay cả khi chấp nhận lãi suất cao hơn, người đi vay
cũng không thể vay được. Khi đó, tính thanh khoản là trở ngại chính của hoạt động của
địa phương nên họ có được uy tín trong làng. Việc cho vay thông qua các tổ chức này sẽ
làm giảm bớt việc giám sát tín dụng của ngân hàng đối với từng cá nhân vay.
Mặc dù VAB có chi nhánh xuống tận cấp huyện nhưng nó bị giới hạn cấp xã nên những
hộ nghèo thuộc vùng sâu vùng xa sẽ khó khăn trong việc tiếp cận. Ngoài ra, những định
kiến áp đặt trong việc đánh giá rủi ro cũng như thủ tục rườm rà cũng góp phần hạn chế sự
kém phát triển của VAB. Để vượt qua những khó khăn này, ngân hàng vì người nghèo và
quỹ tín dụng nhân dân đã được thành lập để hỗ trợ người nghèo. Mục đích của quỹ tín
dụng nhân dân là khôi phục lại lòng tin của hệ thống thị trường tín dụng tại khu vực nông
thôn. Bên cạnh đó là thu hút các khoản tiền tiết kiệm từ chính các thành viên của nó.
Nhưng vì bản thân các quỹ tín dụng nhân dân lại được thành lập chủ yếu các khu vực có
đời sống kinh tế và cơ sở hạ tầng tương đối khá nên điều này cũng phần nào hạn chế sự
tiếp cận tín dụng của hộ nghèo thuộc vùng sâu, vùng xa đối với các chương trình tín dụng
nhỏ, lẻ.
Ngân hàng vì người nghèo được thành lập vào năm 1996 với mục đích cung cấp tín dụng
nhỏ lẻ cho các hộ nghèo với lãi suất thấp, chủ yếu là các hộ không có tài sản đảm bảo để
7
thế chấp. Năm 2003, nó được đổi tên thành ngân hàng chính sách xã hội (VBSP). Hoạt
động của nó là tập trung vào người nghèo và liên kết với các tổ chức địa phương trong
việc cho vay. Ví dụ, Hội Đồng Nhân Dân xã kết hợp với VBSP xác định hộ nào là hộ
nghèo và các nhóm thiệt thòi trong xã hội. Những tổ chức khác trong làng như hội phụ
nữ, hội nông dân sẽ cùng VBSP giám sát các khoản cho vay. Những khoản vay này
không cần thế chấp nhưng chính tại các tổ chức này lại có Quỹ Đảm Bảo: nếu người đi
vay phá sản, VBSP sẽ lấy một phần từ các quỹ này.
Ở khu vực phi chính thức, người cung cấp tín dụng chủ yếu là họ hàng, bạn bè và hàng
xóm, các tư nhân như thương lái và những nhà buôn các nhập lượng đầu vào chiếm 51%
tổng lượng tín dụng phi chính thức của các hộ nông thôn (Phan Dinh Khoi et al, 2013).
Đặc điểm chính của họ: cung cấp tín dụng ngắn hạn trong trường hợp khẩn cấp mà khu
vực chính thức không thể đáp ứng được; lãi suất thường cao hơn khu vực chính thức và
khoảng cách đó là khá rộng so với lại suất thị trường.
3.1 Nghiên cứu của Pham Bao Duong và Yoichi Izumida năm 2002
mượn là những nhân tố quyết định đến sản lượng của hộ. Điều đó cho thấy vai trò đặc
biệt to lớn của tín dụng đến hộ gia đình.
Như vậy, thị trường tín dụng Việt Nam còn khá manh mún, khu vực chính thức cho vay
chủ yếu phục vụ mục đích sản xuất trong khi khu vực phi chính thức có mục đích đa
dạng hơn. Bản thân các hộ gia đình cũng có những quyết định nguồn tài trợ khi họ có nhu
cầu. Đứng trước nhu cầu to lớn của các hộ, các tổ chức tín dụng thực hiện việc hạn chế
nguồn vốn cho vay. Khoảng 36% các hộ gia đình đi vay nhưng nhận được số tiền thấp
hơn số họ mong đợi. Kết quả khẳng định hành vi của người cho vay, càng cho thấy người
nghèo gặp phải khó khăn to lớn khi tiếp cận nguồn vốn tín dụng nhất là từ VBA. Kết quả
9
cho thấy danh tiếng có tương quan âm với việc hạn chế, nghĩa là danh tiếng càng cao thì
càng có khả năng được vay đủ số tiền yêu cầu. Khám phá này cho thấy ngân hàng có
hành vi hợp lý khi hạn chế tín dụng. Nhưng nếu dựa trên nguyên tắc đó thì đâu là tín
dụng cho người nghèo? Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy họ phải vay mượn từ nguồn
phi chính thức.
3.2 Nghiên cứu của Phan Dinh Khoi, Christopher Gan Gilbert V. Nartea, David A.
Cohen, 2013
Nghiên cứu lựa chọn 13 xã thuộc khu vực sông Mê Kong với 928 hộ trong đó có 619 hộ
có vay mượn từ các chương trình tín dụng nhỏ lẻ và số còn lại chưa từng vay mượn từ
các chương trình cho vay chính thức.
Kết quả cho thấy nhu cầu cho vay phi chính thức có tương quan dương với các yếu tố
sau: tình trạng sở hữu đất, mục đích vay, lãi suất, thời hạn vay và các con đường chính
dẫn vào làng. Các hộ nông dân cư ngụ trên các trục đường chính dẫn vào làng và có đất
thì có thể vay mượn từ các thương lái hay những người cho vay tư. Trong khi những hộ
khác có nhu cầu cao hơn nhất là cho tiêu dùng thì có thể vay mượn từ bạn bè, họ hàng và
những người cho vay khác. Thời hạn cho vay càng linh hoạt thì lãi suất càng cao. Vì thế,
tín dụng phi chính thức đóng vai trò quan trọng trong tín dụng thương mại và tiêu dùng ở
nông thôn.
Các yếu tố làm gia tăng việc tiếp cận tín dụng chính thức gồm: quan chức chính quyền
địa phương, thành viên của nhóm tín dụng và giấy chứng nhận hộ nghèo. Đối với các
khu vực nông thôn. Nghiên cứu cũng cho thấy vai trò của giáo dục đối với sản lượng,
điều này lại nhấn mạnh vai trò của giáo dục nhất là giáo dục kiến thức nông nghiệp. Hàm
11
ý chính sách cho một hệ thống khuyến nông cần được mở rộng và phát triển để nông dân
được tiếp cận công nghệ mới.
Như vậy, trong quá trình lựa chọn, những hộ nghèo nhất là những hộ có khả năng bị hạn
chế cao nhất mặc dù bản thân chương trình tín dụng nhỏ lẻ được thiết kế riêng cho họ.
Khi đó rõ ràng lại có một sợi dây liên kết với khu vực phi chính thức, vai trò của khu vực
này lại càng đặc biệt quan trọng với những hộ có thu nhập thấp. Kết quả này có nhiều
hàm ý về chính sách: hộ thu nhập thấp có sản lượng thấp hơn do không đủ đất và vốn. Vì
thế, các chương trình cho vay nhỏ lẻ nên mở rộng mục đích đến các chương trình đào tạo
nghề để nâng cao tay nghề cho các thành viên trong hộ, nhờ đó hỗ trợ họ có thêm thu
nhập từ các hoạt động phi nông nghiệp hay tham gia vào các thị trường lao động khác.
Thứ hai, tham gia vào các tổ chức tín dụng cũng giúp họ gia tăng khả năng tiếp cận tín
dụng, cải thiện trình độ giáo dục và kỹ năng lao động. Điều này là cần thiết bởi giáo dục
sẽ giúp họ nâng cao được mức độ tín nhiệm và cải thiện kỹ năng lao động sẽ giúp họ
nâng cao thu nhập trong tương lai. Ngoài ra, hệ thống cơ sở hạ tầng cũng góp phần nâng
cao khả năng tiếp cận tín dụng. Vì thế, chính phủ nên đầu tư hơn nữa vào cơ sở hạ tầng,
cung cấp các chương trình mang tính khuyến khích việc đầu tư cơ sở hạ tầng vùng sâu
vùng xa. Với thực tế hai hệ thống tín dụng cùng tồn tại cho thấy để nâng cao hiệu quả của
hệ thống này nhất thiết nó phải khắc phục những nhược điểm của hệ thống kia và đồng
thời phát huy mạnh ưu điểm vốn có của nó.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Phan Dinh Khoi, Christopher Gan Gilbert V. Nartea, David A. Cohen (2013). Formal and
Informal rural Credit in Mekong River Delta of Vietnam: Interaction and Accessibility.
Journal of Asian Economics.
12
Pham Bao Duong và Yoichi Izumida, 2002. Rural Development Finance in Vietnam: A
microeconometric Analysis of Household Survey. World Development,30 (2), 319-335.
Stiglitz, J.E và Weiss, A. (1981). Credit rationing in markets with imperfect information.