Vai trò của khoa học và công nghệ trong sự phát triển lực lượng sản xuất ở việt nam - Pdf 45

MỤC LỤC

LỜI MỞ ĐẦU
Khoa học và công nghệ đã trở thành yếu tố cốt tử của sự phát triển, là lực
lượng sản xuất trực tiếp của nền kinh tế toàn cầu. Điều này được phản ánh rõ trong
việc hoạch định các chính sách và chiến lược phát triển khoa học, công nghệ và
kinh tế của nhiều nước trên thế giới. Tuy nhiên tuỳ thuộc vào trình độ sự phát triển
cụ thể của từng nước mà xây dựng chiến lược, chính sách phát triển khoa học kỹ
thuật mang tính đa dạng và đặc thù đối với từng giai đoạn phát triển cụ thể phù hợp
với hoàn cảnh, điều kiện cơ sở vật chất của mỗi quốc gia.
Đối vớiViệt Nam hiện nay, khoa học và công nghệ không chỉ là quá trình
mang tính tất yếu mà đó còn là một đòi hỏi bức thiết. Đứng trước thực trạng đất
nước từ một nền kinh tế nông nghiệp đang phấn đấu vươn lên đạt đến mục tiêu:"
Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng dân chủ văn minh" lại vốn là một nước
nghèo bị chiến tranh tàn phá nhiều năm, tình trạng khủng khoảng kinh tế xã hội
vẫn chưa chấm dứt, lạm phát còn ở mức cao, sản xuất chưa ổn định, bội chi ngân
sách lớn.
Nhận thức rõ vai trò đó, Đảng và Nhà nước, ta đã có nhiều nghị quyết quan
trọng về Khoa học – Công nghệ và khẳng định: "Cùng với giáo dục, đào tạo khoa
học và công nghệ là quốc sách hàng đầu, là động lực phát triển kinh tế -xã hội, là
điều kiện cần thiết để giữ vững độc lập dân tộc và xây dựng thành công chủ nghĩa
xã hội. Công nghiệp hoá- hiên đại hoá đất nước bằng cách dựa vào khoa học, kỹ
thuật". Như vậy, vai trò động lực là lực lượng sản xuất hàng đầu của khoa học và
kỹ thuật đã được Đảng ta nhất quán khẳng định và là điều tất yếu không thể thay
đổi được. Song vấn đề đặt ra là làm sao để khoa học và công nghệ đảm nhận được
vai trò đó trong điều kiện đất nước ta hiện nay để phát triển khoa học và kỹ thuật
phù hợp với vài trò là lực lượng sản xuất hàng đầu trong quá trình công nghiệp
hoá- hiên đại hoá đất nước.
Nghiên cứu về vấn đề khoa học và công nghệ trong sự nghiệp công nghiệp
hoá - hiện đại hoá không chỉ là công trình khoa học của các cơ quan, tổ chức, cá
nhân, mà còn là của toàn thể xã hội. Và cho tới nay, chúng ta cũng đã thu được

3


niệm, phán đoán, học thuyết…Tuy nhiên định nghĩa cho rằng khoa học là một hệ
thống chỉnh thể các tri thức của tiến trình lịch sử xã hội được coi là định nghĩa đầy
đủ nhất dưới góc độ lịch sử phát triển của khoa học. Ngoài ra, khoa học còn được
hiểu là quá trình hoạt động của con người để có được hệ thống tri thức về thế giới
với chức năng làm cho con người nắm được những quy luật của hiện thực khách
quan, ngày càng làm chủ được những điều kiện sinh hoạt tự nhiên và xã hội.
Công nghệ là sự tạo ra, sự biến đổi, việc sử dụng, và kiến thức về các công
cụ, máy móc, kỹ thuật, kỹ năng nghề nghiệp, hệ thống, và phương pháp tổ chức,
nhằm giải quyết một vấn đề, cải tiến một giải pháp đã tồn tại, đạt một mục đích,
hay thực hiện một chức năng cụ thể. Công nghệ cũng có thể chỉ đến một tập hợp
những công cụ như vậy, bao gồm máy móc, những sự sắp xếp, hay những quy
trình. Công nghệ ảnh hưởng đáng kể lên khả năng kiểm soát và thích nghi của con
người cũng như của những động vật khác vào môi trường tự nhiên của mình.
2.2. Vai trò của khoa học và công nghệ trong quá trình phát triền kinh tế
xã hội
Trong sự phát triển của lực lượng sản xuất, khoa học đóng vai trò ngày càng
to lớn. Sự phát triển của khoa học gắn liền với sản xuất và là động lực mạnh mẽ
thúc đẩy sản xuất phát triển. Ngày nay, khoa học phát triển và đạt được nhiều thành
tựu to lớn. Khi mà con người đã trải qua những cuộc đại cách mạng công nghiệp
thì khoa học trở thành nguyên nhân trực tiếp của nhiều biến đổi to lớn trong sản
xuất, trong đời sống và trở thành "lực lượng sản xuất hàng đầu", là yếu tố không
thể thiếu được để làm cho lực lượng sản xuất có động lực để tạo nên những bước
phát triển nhảy vọt tạo thành cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại. Có
thể nói rằng: "Khoa học và công nghệ hiện đại là đặc trưng cho lực lượng sản xuất
hiện đại”.
Ở Việt Nam hiện nay thì khoa học và công nghệ giữ vai trò là động lực cho
sự phát triển của công cuộc đổi mới nền kinh tế. Cụ thể thì vai trò động lực của

chung. Thông tin trong lĩnh vực khoa học và công nghệ có liên quan hết sức chặt
chẽ đến việc nắm bắt các bí mật, bí quyết công nghệ, được thể hiện qua các
phương pháp, các thiết bị, dữ liệu khoa học và công nghệ mới nhất. Thông tin như
một người hướng dẫn nắm trong tay chiếc chìa khoá thần diệu, giúp chúng ta mở
được những “cánh cửa làm ăn” một cách đúng lúc, đúng cách, giúp ta tìm kiếm
nhưng cơ hội những lĩnh vực làm ăn hiệu quả, và biết rút lui đúng lúc khi tiềm
năng lĩnh vực đó đã cạn. Công nghệ thông tin có vai trò cực kỳ quan trọng trong
quá trình xây dựng kinh tế tri thức và hội nhập toàn cầu về kinh tế của Việt Nam.
Thứ tư, khoa học và công nghệ có vai trò quan trọng trong việc hoàn thiện
cơ chế tổ chức, quản lý sản xuất nhằm thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hoá .Trong
sản xuất nói riêng, trong mọi hoạt động xã hội nói chung nếu không có một cơ chế
tổ chức quản lý điều hành quản lý thì chắc chắn không thể mang lại kết quả tích
cực. Điều đó cũng giống như một dàn nhạc lớn, chỉ có các nhạc công mà không có
nhạc trưởng thì troóng đánh xuôi, kèn thổi ngược, không thể hoà tấu bất kỳ bản
nhạc nào.
Chương II
CÁC VẤN ĐỀ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ TRONG SỰ PHÁT TRIỂN
CỦA LỰC LƯỢNG SẢN XUẤT Ở VIỆT NAM
1. Vai trò của Khoa học công nghệ tới sự phát triển và biến đổi của lao
động ở Việt Nam
1.1. Sự phát triển và biến đổi của lao động Việt Nam trong thời gian qua
Con người tham gia vào quá trình sản xuất với tư cách là sức lao động, vừa
với tư cách là con người có ý thức, chủ thể của những quan hệ kinh tế. Trình độ
văn hóa, trình độ kỹ thuật chuyên môn, ý thức và thái độ của người lao động đối
với sản xuất và sản phẩm là những yếu tố quan trọng để sử dụng, khai thác kỹ thuật
và tư liệu sản xuất vốn có để sáng tạo ra trong quá trình sản xuất. Ph.Ăngghen đã
nhấn mạnh “Muốn nâng sản xuất công nghiệp và nông nghiệp lên mức độ cao…

5


(%)

Năm 1999

Năm 2009

Số
tuyệt
đối

Tỉ
trọn
g
(%)

Số
tuyệt
đối

Tỉ
trọn
g
(%)

Tổng số dân

52,742

100


24,832

47.08

33,496

52.03

43,556

57.1 52,160

60.7

Trên tuổi lao động

4,445

8.43

5,657

8.79

7,210

9.4

8.8


năng, hăng say tìm tòi, sáng tạo. Họ không chỉ biết áp dụng tiến bộ khoa học, công
nghệ để xoá đói, giảm nghèo, vượt khó làm giàu mà còn phát huy sáng tạo, cải tiến
máy móc, thiết bị phục vụ cho nhu cầu lao động sản xuất. Một trong những gương
mặt điển hình:
Ông K’Sá H Tang, một nông dân K’Ho chưa từng qua trường lớp cơ khí nào
đã mày mò cải tiến thành công máy tuốt bắp, nâng năng suất lao động lên hàng
chục lần so với phương thức thủ công. Thời gian tuốt một gùi bắp chỉ mất 5 phút
trong khi đó để tuốt bằng tay phải mất 1 ngày.
Máy bứt củ lạc của ông Huỳnh Thái Dương, tỉnh Bình Thuận đã đạt được
những thông số cần thiết như bứt củ lạc không sót, không vỡ vỏ ngoài, không dập
vỏ trong, không lẫn tạp chất, chi phí thời gian từ 2-2,5 giờ/ha lạc, tỉ lệ thất thoát
(vỡ vỏ, hao hụt…) chỉ 0,3%. Năng suất tương đương với 80 công lao động. Giá
máy là 38 triệu đồng (trong khi máy nhập của Đài Loan là 600 triệu đồng).
Thứ hai, nhờ những tiến bộ khoa học – công nghệ đã tạo ra những người
lao động mới: những con người lao động trí tuệ sáng tạo, vừa có tri thức chuyên
sâu một ngành nghề, vừa có hiểu biết rộng, tầm nhìn xa, bao quát, nhạy bén, vững
vàng trong nghề nghiệp.
Người lao động chính là lực lượng sản xuất mạnh mẽ nhất, to lớn nhất, là
nguồn lực của mọi nguồn lực, là động lực của mọi động lực phát triển xã hội. Từ
chỗ có tri thức về khoa học và công nghệ, con người và xã hội Việt Nam sẽ chuyển
dần từ chỗ chủ yếu là lao động chân cơ bắp, thủ công với những trang thiết bị kỹ
thuật cũ kỹ, thô sơ, lạc hậu sang lao động trí tuệ, lao động công nghiệp với máy
móc, trang bị thiết bị kỹ thuật hiện đại.
Khoa học và công nghệ đến với con người thông qua quá trình giáo dục, đào
tạo và hoạt động thực tiễn trang bị cho con người những tri thức và kinh nghiệm
cần thiết để cho họ có thể nhanh chóng thích nghi với các trang thiết bị hiện đại,
tiên tiến trong sản xuất, đời sống. Mặt khác, do sự thường xuyên đổi mới theo
hướng hiện đại dần các trang thiết bị sản xuất và đời sống buộc con người phải
thường xuyên học tập, trau dồi kiến thức, chuyên môn để khỏi bị đào thải ra khỏi
quá trình sản xuất xã hội thích ứng với cuộc sống hiện đại. Chính nhờ vậy mà trình

trong đó, có 60 trường ngoài công lập; 300 trường trung cấp nghề, trong đó, có 100
trường ngoài công lập; 920 trung tâm dạy nghề, trong đó có 320 trung tâm ngoài
công lập. Đến năm 2020 có khoảng 230 trường cao đẳng nghề, trong đó, có 80
trường ngoài công lập; 310 trường trung cấp nghề, trong đó có 120 trường ngoài
công lập; 1.050 trung tâm dạy nghề, trong đó có 350 trung tâm ngoài công lập.
Tổng vốn đầu tư cho phát triển nguồn lao động đến năm 2020 (gồm giáo dục và
đào tạo; dạy nghề; y tế; chăm sóc sức khỏe,...) khoảng 2.135 nghìn tỷ VNĐ, chiếm
12% tổng vốn đầu tư toàn xã hội.
Thứ ba, nhờ những tiến bộ khoa học – công nghệ đã nâng cao nhận thức
của người lao động.
Cùng với sự phát triển của KHCN, nhận thức của người lao động về thế giới
quan và nhân sinh quan ngày càng tiến bộ. Việc nhận thức và hiểu biết về thế giới
của người Việt Nam đã được cải thiện và nâng cao (thể hiện trong hệ tư tưởng,
nhận thức, việc tiếp thu tinh hoa văn hoá nhân loại…). Trong đó, là sự chuyển biến
về tư tưởng tiến bộ (coi trọng năng suất lao động, nam nữ bình đẳng, xã hội văn
minh dân chủ…) hình thành một thế hệ Việt Nam mới. Trước đây, người lao động
Việt Nam chịu nhiều ảnh hưởng của tư tưởng cũ nên phụ thuộc khá nhiều vào tự
nhiên, tuy nhiên cũng đã khẳng định sức mạnh của con người. Nhưng đến nay, khi
8


tiếp cận và thông qua những thành tựu của khoa học công nghệ, Việt Nam đã nắm
bắt được những tri thức mới, có nhận thức và định hướng mới trong việc làm chủ
sự phát triển của đất nước. Đã tiếp thu và học tập những tinh hoa của nhân loại như
các quy luật vận động của tự nhiên, quy luật vận động của xã hội, quy luật vận
động của nền kinh tế…
Khoa học và công nghệ đã và đang tăng cường khả năng truyền dẫn, lan toả
và khuyếch tán văn hoá trong quá trình phát triển của người lao động. Công nghệ
thông tin và truyền thông phát triển, làm cho văn hoá nghệ thuật được phổ biến
rộng rãi. Ở Việt Nam, bên cạnh những thể loại nhạc truyền thống nay đã hội nhập

thể thao, tham gia vào các hoạt động văn nghệ… để thư giãn sau giờ làm việc giúp
nâng cao tinh thần của người lao động dẫn đến năng suất lao động tăng.

9


2. Sự tác động của khoa học công nghệ đến sự phát triển của LLSX ở
Việt Nam
Lực lượng sản xuất gồm có: tư liệu lao động (Tư liệu lao động gồm công cụ
lao động và phương tiện lao động trong đó công cụ lao động giữ vai trò quyết định
đến năng suất lao động và chất lượng sản phẩm. Trình độ của công cụ sản xuất là
một tiêu chí biểu hiện trình độ phát triển của nền sản xuất xã hội) và người lao
động.
Khoa học công nghệ (KHCN) có tác động to lớn tới sự phát triển của lực
lượng sản xuất tại Việt Nam. Ngày nay, khoa học và công nghệ được coi là yếu tố
quan trọng và có ý nghĩa quyết định sự phát triển của kinh tế - xã hội. Trong các
văn kiện quan trọng, đại hội Đảng ta đã nhấn mạnh vai trò của KHCN trong sự
phát triển của đất nước và coi đó là nhiệm vụ trọng tâm của toàn đảng, toàn dân.
Tác động của KHCN đến lực lượng sản xuất ở Việt Nam được thể hiện trên không
chỉ ở đến sự biến đổi và phát triển của lao động mà chính là tác động đến sự biến
đổi và phát triển của tư liệu lao động, mà trọng tâm là công cụ lao động.
Công cụ lao động là bộ phận trọng tâm, tích cực nhất trong tư liệu sản xuất.
Nó là biểu hiện cụ thể của tiến bộ khoa học kỹ thuật và cũng là cơ sở để phân biệt
thời đại kinh tế. C.Mac đã khằng định rằng: “Những thời đại kinh tế khác nhau
không phải ở chỗ chúng sản xuất ra cái gì mà là ở chỗ chúng sản xuất bằng cách
nào, với tư liệu lao động nào”
Sự tác động của KHCN đến tư liệu lao động hay chính là tác động đến công
cụ lao động tại Việt Nam trong thời gian qua được thể hiện ở sự cải tiến và biến đổi
của công cụ lao động qua các thời kỳ (chuyển từ thủ công sang hiện đại, tự động
hoá với năng suất và chất lượng cao).

suất. Nhiều công nghệ kỹ thuật hiện đại được áp dụng trong tất cả các lĩnh vực
kinh tế - xã hội từ kinh tế, văn hoá, giáo dục, y tế đến quốc phòng an ninh…, đem
lại hiệu quả và những thành tựu quan trọng cho sự phát triển của Việt Nam.
Ở phương diện tổng thể, KHCN đã tác động mạnh mẽ đến sự cải tiến và
thay đổi tư liệu sản xuất tại Việt Nam như sau:
Thứ nhất, Cải tiến, phát triển công cụ lao động nhằm nâng cao năng suất lao
động, chất lượng sản phẩm, giải phóng sức lao động: Căn cứ vào quá trình nghiên
cứu và đúc rút kinh nghiệm từ các quốc gia đã đạt được nhiều thành công và thành
tựu nhờ sự phát triển của KHCN, Việt Nam đã dựa vào những điều kiện tự nhiên,
kinh tế, xã hội cùng với sự hiểu biết về tri thức khoa học đã tiến hành cải tiến
những tiến bộ trong KHCN của nước ngoài vào áp dụng tại Việt Nam. Công cụ từ
thô sơ, nhờ KHCN đã chuyển thành công cụ được cải tiến làm tăng năng suất lao
động. Ví dụ: máy tuốt lúa khi mới xuất hiện được sử dụng bằng bàn đạp chân, tuy
nhiên do yêu cầu thực tế và sự phát triển của kỹ thuật đã tiến hành cải biến chạy
bằng năng lượng điện của máy nổ chạy bằng xăng, được cải tiến thêm giá đỡ để có
thể di chuyển và phù hợp với địa hình núi, chỗ lầy lội…
Thứ hai, Đổi mới và nâng cao hiệu năng của công cụ lao động: Việt Nam đã
tiếp thu tri thức KHCN của các nước phát triển trên thế giới, đồng thời phát triển
nghiên cứu trong nhiều lĩnh vực để đổi mới và nâng cao hiệu năng của công cụ lao
động. Việc phát triển và ứng dụng KHCN đã tạo ra được nhiều công cụ lao động
hiện đại, có nhiều tính năng giúp con người tiết kiệm được thời gian, nâng cao
năng suất làm việc (ví dụ: máy gặt đập liên hợp…). Trong thời đại Công nghệ
thông tin càng phát triển, việc phát triển hệ thống công cụ liên lạc càng được chú
trọng. Từ điện thoại chỉ để nghe gọi để trao đổi, nay thêm nhiều tính năng nói
chuyện có hình ảnh, lướt web, check mail, được hỗ trợ nhiều ứng dụng. Tại Việt
Nam phát triển công nghệ phần mềm (phần mềm kế toán ứng dụng, mua và phát
triển hệ thống phần mềm của oracle tại VN…)
Thứ ba, tìm hiểu, nghiên cứu và chế tạo ra công cụ lao động hữu ích: theo
yêu cầu của thực tế, cùng với sự hỗ trợ của KHCN việc tìm hiểu và nghiên cứu
sáng chế ra công cụ lao động hữu ích đã được triển khai. Nhiều chương trình đã

thúc đẩy sản xuất phát triển. Qua ba cuộc đại cách mạng công nghiệp khoa học đã
trở thành “lực lượng sản xuất hàng đầu”, là yếu tố không thể thiếu làm cho để làm
cho lực lượng sản xuất có động lực để tạo nên những bước phát triển nhảy vọt tạo
thành cuộc cách mạng khoa học và kỹ thuật hiện đại.
Với vai trò nền tảng và động lực của khoa học và kỹ thuật trong tiến trình
công nghiệp hoá - hiện đại hoá cũng là nói đến công nghiệp hoá - hiện đại hoá dựa
trên cơ sở khoa học và kỹ thuật. Quan điểm CacMác đã từng dự báo: “Theo đà
phát triển của đại công nghiệp, việc tạo ra của cải thực tế trở nên ít phụ thuộc vào
thời gian lao động và số lượng lao động đã chi phí hơn là vào sức mạnh của những
tác nhân được khởi động trong thời gian lao động, và bản thân những tác nhân, đến
lượt chúng (hiệu quả to lớn của chúng) tuyệt đối không tương ứng với thời gian lao
động trực tiếp cần thiết để sản xuất ra chúng, mà đúng ra, chúng phụ thuộc vào
trình độ chung của khoa học và vào sự tiến bộ của kỹ thuật, hay là phụ thuộc vào
sự ứng dụng khoa học ấy vào sản xuất”.
Khoa học và kỹ thuật hiện đại là yếu tố không thể thiếu trong đời sống kinh
tế xã hội của một quốc gia mà còn là yếu tố then chốt trong sự nghiệp công nghiệp
hoá - hiện đại hoá đất nước, là yếu tố “quyết định lợi thế cạnh tranh và tốc độ phát
triển của các quốc gia”.

12


Đảng và nhà nước ta khẳng định rõ vai trò của quá trình CNH-HĐH trong
các văn kiện của Đảng: Nhiệm vụ đề ra cho chặng đường đầu của thời kỳ quá độ
là chuẩn bị những tiền đề cho công nghiệp hoá đã cơ bản hoàn thành cho phép
chuyển sang thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Trên cơ sở
phân tích những đặc điểm nổi bật của tình hình thế giới, những xu thế chủ yếu
trong quan hệ quốc tế, nêu rõ những thời cơ và thách thức lớn, Đại hội định ra mục
tiêu phấn đấu đến năm 2000 và 2020 của sự nghiệp đổi mới, công nghiệp hoá, hiện
đại hoá đất nước là: tiếp tục nắm vững hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng chủ

Thứ nhât, đất nước ra khỏi khủng hoảng, kinh tế đạt tốc độ tăng trưởng
nhanh:

13


Giai đoạn 1986-1990: Đây là giai đoạn đầu của công cuộc đổi mới. Chủ
trương phát triển kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa, nền kinh tế dần dần khắc phục được những
yếu kém và có những bước phát triển. Kết thúc kế hoạch 5 năm (1986 - 1990),
công cuộc đổi mới đã đạt được những thành tựu bước đầu rất quan trọng: GDP
tăng 4,4%/năm; tổng giá trị sản xuất nông nghiệp tăng bình quân 3,8 - 4%/năm;
công nghiệp tăng bình quân 7,4%/năm, trong đó sản xuất hàng tiêu dùng tăng 13
-14%/năm; giá trị kim ngạch xuất khẩu tăng 28%/năm (1). Việc thực hiện tốt ba
chương trình mục tiêu phát triển về lương thực - thực phẩm, hàng tiêu dùng và
hàng xuất khẩu đã phục hồi được sản xuất, tăng trưởng kinh tế, kiềm chế lạm phát,
… Đây được đánh giá là thành công bước đầu cụ thể hóa nội dung của công nghiệp
hóa XHCN trong chặng đường đầu tiên. Điều quan trọng nhất, đây là giai đoạn
chuyển đổi cơ bản cơ chế quản lý cũ sang cơ chế quản lý mới, thực hiện một bước
quá trình đổi mới đời sống kinh tế - xã hội và bước đầu giải phóng được lực lượng
sản xuất, tạo ra động lực phát triển mới.
Giai đoạn 1991 - 1995: Đất nước dần dần ra khỏi tình trạng trì trệ, suy thoái.
Nền kinh tế tiếp tục đạt được những thành tựu quan trọng: đã khắc phục được tình
trạng trì trệ, suy thoái, tốc độ tăng trưởng đạt tương đối cao, liên tục và toàn diện,
hầu hết các chỉ tiêu chủ yếu đều vượt mức: GDP bình quân tăng 8,2%/năm; giá trị
sản xuất công nghiệp tăng 13,3%/năm; nông nghiệp tăng 4,5%/năm; lĩnh vực dịch
vụ tăng 12%/năm; tổng sản lượng lương thực 5 năm (1991 - 1995) đạt 125,4 triệu
tấn, tăng 27% so với giai đoạn 1986 - 1990 . Hầu hết các lĩnh vực kinh tế đều đạt
nhịp độ tăng trưởng tương đối khá. “Nước ta đã ra khỏi cuộc khủng hoảng kinh tế xã hội nghiêm trọng và kéo dài hơn 15 năm, tuy còn một số mặt chưa vững chắc,
song đã tạo được tiền đề cần thiết để chuyển sang một thời kỳ phát triển mới: đẩy

từng bước hoàn thiện các cơ chế chính sách quản lý và hệ thống điều hành; cải
cách và nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống tài chính, tiền tệ; phát triển
nguồn và chất lượng lao động, khoa học và công nghệ;…
Giai đoạn 2006 - 2010: Nền kinh tế vẫn duy trì tốc độ tăng trưởng khá, tiềm
lực và quy mô nền kinh tế tăng lên, nước ta đã ra khỏi tình trạng kém phát triển, từ
nhóm nước thu thập thấp đã trở thành nước có thu nhập trung bình (thấp). GDP
bình quân 5 năm đạt 7%. Mặc dù bị tác động của khủng hoảng tài chính và suy
thoái kinh tế toàn cầu (từ cuối năm 2008), nhưng thu hút vốn đầu tư nước ngoài
vào Việt Nam vẫn đạt cao. Tổng vốn FDI thực hiện đạt gần 45 tỷ USD, vượt 77%
so với kế hoạch đề ra. Tổng số vốn đăng ký mới và tăng thêm ước đạt 150 tỷ USD,
gấp hơn 2,7 lần kế hoạch đề ra và gấp hơn 7 lần so với giai đoạn 2001 - 2005.
Tổng vốn ODA cam kết đạt trên 31 tỷ USD, gấp hơn 1,5 lần so với mục tiêu đề ra;
giải ngân ước đạt khoảng 13,8 tỷ USD, vượt 16%. GDP năm 2010 tính theo giá
thực tế đạt 101,6 tỷ USD, gấp 3,26 lần so với năm 2000 .
Trong năm 2011, mặc dù sự phục hồi kinh tế sau khủng hoảng tài chính
toàn cầu còn rất chậm, song mức tăng trưởng kinh tế bình quân vẫn đạt 7%/năm,
tuy thấp hơn kế hoạch (7,5% - 8%), nhưng vẫn được đánh giá cao hơn bình quân
các nước trong khu vực.
Như vậy, trong vòng 20 năm (1991 - 2011), tăng trưởng GDP của Việt Nam
đạt 7,34%/năm, thuộc loại cao ở khu vực Đông Nam Á nói riêng, ở châu Á và trên
thế giới nói chung; quy mô kinh tế năm 2011 gấp trên 4,4 lần năm 1990, gấp trên
2,1 lần năm 2000 (thời kỳ 2001 - 2011 bình quân đạt 7,14%/năm).
Năm 2012, GDP tăng 5,03% so với năm 2011. Mức tăng trưởng tuy thấp
hơn mức tăng 5,89% của năm 2011, nhưng trong bối cảnh kinh tế thế giới gặp khó
khăn thì đây là mức tăng trưởng hợp lý. Về sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản
ước tính tăng 3,4% so với năm 2011; công nghiệp tăng 4,8% so với năm 2011. Chỉ
số giá tiêu dùng năm 2012 tăng 6,81%. Đầu tư phát triển tăng 7% so với năm trước
và bằng 33,5% GDP. Xuất, nhập khẩu hàng hóa tăng 18,3%. Kim ngạch xuất khẩu
có thể vượt qua mốc 100 tỷ USD, tỷ lệ kim ngạch xuất, nhập khẩu so với GDP năm
2011 đã đạt xấp xỉ 170%, đứng thứ 5 thế giới. Vốn FDI tính từ 1988 đến tháng 72012 đăng ký đạt trên 236 tỷ USD, thực hiện đạt trên 96,6 tỷ USD. Vốn ODA từ

cầu của sản xuất và đời sống: ngành du lịch, bưu chính viễn thông phát triển với
tốc độ nhanh; các ngành dịch vụ tài chính, ngân hàng, tư vấn pháp lý;... có bước
phát triển theo hướng tiến bộ, hiệu quả.
Thứ ba, thực hiện có kết quả chủ trương phát triển nền kinh tế nhiều thành
phần, phát huy ngày càng tốt hơn tiềm năng của các thành phần kinh tế
Kinh tế nhà nước được sắp xếp, đổi mới, nâng cao chất lượng và hiệu quả,
tập trung hơn vào những ngành then chốt và những lĩnh vực trọng yếu của nền
kinh tế. Cơ chế quản lý doanh nghiệp nhà nước được đổi mới một bước quan trọng
theo hướng xóa bao cấp, thực hiện mô hình công ty, phát huy quyền tự chủ và trách
nhiệm của doanh nghiệp trong kinh doanh. Kinh tế tư nhân phát triển mạnh, huy
động ngày càng tốt hơn các nguồn lực và tiềm năng trong nhân dân, là một động
lực rất quan trọng thúc đẩy tăng trưởng và phát triển kinh tế. Năm 2005, khu vực
kinh tế tư nhân đóng góp khoảng 38% GDP của cả nước. Kinh tế có vốn đầu tư
nước ngoài có tốc độ tăng trưởng tương đối cao, trở thành một bộ phận cấu thành
quan trọng của nền kinh tế quốc dân; là cầu nối quan trọng với thế giới về chuyển
giao công nghệ, giao thông quốc tế, đóng góp vào ngân sách nhà nước và tạo việc
làm cho nhiều người dân.
Thứ tư, thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa dần dần
được hình thành, kinh tế vĩ mô cơ bản ổn định
16


Trải qua hơn 25 năm đổi mới, hệ thống pháp luật, chính sách và cơ chế vận
hành của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa được xây dựng tương
đối đồng bộ. Hoạt động của các loại hình doanh nghiệp trong nền kinh tế nhiều
thành phần và bộ máy quản lý của Nhà nước được đổi mới một bước quan trọng.
Với chủ trương tích cực và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, quan hệ kinh tế của
Việt Nam với các nước, các tổ chức quốc tế ngày càng được mở rộng. Việt Nam đã
tham gia Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), thực hiện các cam kết về
Khu vực mậu dịch tự do ASEAN (AFTA), Hiệp định Thương mại Việt Nam - Hoa

hằng năm đạt khoảng 1,4 - 1,5 triệu người; những năm 2006 - 2010, con số đó lại
tăng lên đến 1,6 triệu người. Công tác dạy nghề từng bước phát triển, góp phần đưa
tỷ lệ lao động qua đào tạo từ dưới 10% năm 1990 lên khoảng 40% năm 2010 .

17


Công tác xóa đói giảm nghèo đạt được kết quả đầy ấn tượng. Theo chuẩn
quốc gia, tỷ lệ hộ đói nghèo đã giảm từ 30% năm 1992 xuống khoảng 9,5% năm
2010. Còn theo chuẩn do Ngân hàng thế giới (WB) phối hợp với Tổng cục Thống
kê tính toán, thì tỷ lệ nghèo chung (bao gồm cả nghèo lương thực, thực phẩm và
nghèo phi lương thực, thực phẩm) đã giảm từ 58% năm 1993 xuống 29% năm
2002 và còn khoảng 17% năm 2008. Như vậy, Việt Nam đã “hoàn thành sớm hơn
so với kế hoạch toàn cầu: giảm một nửa tỷ lệ nghèo vào năm 2015”, mà Mục tiêu
Thiên niên kỷ (MDGs) của Liên hợp quốc đã đề ra (14). Tại cuộc Hội thảo quốc tế
với tiêu đề Xóa đói, giảm nghèo: Kinh nghiệm Việt Nam và một số nước châu Á
do Bộ Ngoại giao Việt Nam tổ chức tại Hà Nội vào giữa tháng 6-2004, Việt Nam
được đánh giá là nước có tốc độ giảm nghèo nhanh nhất khu vực Đông Nam Á.
Sự nghiệp giáo dục có bước phát triển mới về quy mô, đa dạng hóa về loại
hình trường lớp từ mầm non, tiểu học đến cao đẳng, đại học. Năm 2000, cả nước
đã đạt chuẩn quốc gia về xóa mù chữ và phổ cập giáo dục tiểu học; dự tính đến
cuối năm 2010, hầu hết các tỉnh, thành sẽ đạt chuẩn phổ cập giáo dục trung học cơ
sở. Tỷ lệ người lớn (từ 15 tuổi trở lên) biết chữ đã tăng từ 84% cuối những năm
1980 lên 90,3% năm 2007. Từ năm 2006 đến nay, trung bình hằng năm quy mô
đào tạo trung học chuyên nghiệp tăng 10%; cao đẳng và đại học tăng 7,4%. Năm
2009, trên 1,3 triệu sinh viên nghèo được Ngân hàng chính sách xã hội cho vay với
lãi suất ưu đãi để theo học.
Hoạt động khoa học và công nghệ có bước tiến đáng ghi nhận. Đội ngũ cán
bộ khoa học và công nghệ (bao gồm khoa học xã hội, khoa học tự nhiên, khoa học
kỹ thuật) đã góp phần cung cấp luận cứ khoa học phục vụ hoạch định đường lối,

liền với quá trình phát triển lực lượng sản xuất .Điều đó càng them khẳng định chủ
trương về CNH-HDH trong quá trình đổi mới đất nước ta là hoàn toàn đúng đắn.
Và thực tế đã chứng minh rằng việc phát triển lực lượng sản xuất chính là tiền đề
nền tảng cho việc xây dựng cơ sở hạ tầng vật chất kỹ thuật cho quá trình công
nghiệp hóa nói chung và ứng dụng vào quá trình CNH-HDH ở nước ta nói riêng.
Như đại hội Đảng IX đã nhận định rằng “Mục đích của nền kinh tế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa là phát triển lực lượng sản xuất, phát triển kinh tế để xây
dựng cơ sở vật chất cảu chủ nghĩa xã hội và nâng cao đời sống nhân dân. Phát triển
sản xuất gắn liền với xây dựng quan hệ sản xuất mới phù hợp trên cả ba mặt sở
hữu ,quản lý và phân phối”. Mặc dù đã đạt được những thành tựu trên tất cả các
mặt song vẫn còn tồn tại nhiều hạn chế,yếu kém và khó khăn và cần phải có những
gi ải pháp nâng cao lực lượng sản xuất phục vụ cho quá trình công nghiệp hóa hiện
đại hóa đất nước.
Cùng với đó, công tác lãnh đạo, chỉ đạo cũng như tổ chức tuyên truyền các
chủ trương, chính sách về CNH, HĐH của Đảng đã thu được một số kết quả quan
trọng. Các cấp ủy đảng, hệ thống tuyên giáo các cấp, các đoàn thể chính trị - xã
hội, các cơ quan báo, đài Trung ương và địa phương đã quan tâm chỉ đạo công tác
tuyên truyền quan điểm, đường lối, chủ trương, chính sách và các thông tin mới,
cập nhật liên quan về CNH, HĐH. Nhờ đó mà nhận thức của các cấp, các ngành và
các tầng lớp nhân dân về CNH, HĐH ngày một nâng lên, điều đó đã tạo điều kiện
cho tiến trình CNH, HĐH được thuận lợi và hiệu quả hơn. Song bên cạnh đó, công
tác tuyên truyền về sự nghiệp CNH, HĐH cũng còn hạn chế: Các chủ trương, quan
điểm của Đảng chưa được quán triệt sâu sắc; còn lúng túng khi tuyên truyền mô
hình CNH, HĐH; lý giải những tác động khách quan và chủ quan đến kết quả thực
hiện CNH-HĐH còn nhiều bất cập.
Phát biểu kết luận tại tọa đàm, đồng chí Bùi Thế Đức nhấn mạnh: Trong thời
gian tới, để thực hiện thắng lợi các mục tiêu Nghị quyết Đại hội XI của Đảng về
phát triển kinh tế- xã hội, cần tiếp tục đẩy mạnh các hình thức tuyên truyền về
nhiệm vụ CNH, HĐH, góp phần biến nhận thức thành hành động, thôi thúc sự
tham gia của mỗi người dân, mỗi ngành, mỗi doanh nghiệp, mỗi địa phương trong

sang thời kỳ mới - thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH. Đại hội IX và Đại hội X tiếp tục
bổ sung và nêu ra những điểm mới như rút ngắn thời gian CNH, HĐH, thực hiện
CNH, HĐH thông qua tận dụng kinh nghiệm, kỹ thuật, công nghệ, thành quả của
các nước; kết hợp phát triển tuần tự với phát triển nhảy vọt và vai trò của nguồn
lực, trí tuệ và sức mạnh tinh thần của con người Việt Nam và vai trò của giáo dục,
đào tạo, khoa học và công nghệ; đặt vấn đề phát triển sản phẩm có lợi thế so sánh;
vấn đề xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ trong điều kiện hội nhập quốc tế; vấn
đề CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn; nhấn mạnh quan điểm CNH, HĐH gắn với
phát triển kinh tế tri thức…
Theo Báo cáo Chính trị tại Đại hội Đảng XI đã nhấn mạnh việc đổi mới mô
hình tăng trưởng và cơ cấu lại nền kinh tế, nâng cao chất lượng, hiệu quả, hướng
tới phát triển kinh tế nhanh, bền vững.
Thứ nhất, Đổi mới mô hình tăng trưởng và cơ cấu lại nền kinh tế, nâng
cao chất lượng, hiệu quả, phát triển kinh tế nhanh, bền vững
Đây vừa là yêu cầu đặt ra vừa là mục tiêu của 5 năm tới.
- Chuyển đổi mô hình tăng trưởng từ chủ yếu phát triển theo chiều rộng
sang phát triển hợp lý giữa chiều rộng và chiều sâu, vừa mở rộng quy mô vừa chú
trọng nâng cao chất lượng, hiệu quả, tính bền vững. Thực hiện cơ cấu lại nền kinh
tế, trọng tâm là cơ cấu lại các ngành sản xuất, dịch vụ phù hợp với các vùng; thúc
đẩy cơ cấu lại và điều chỉnh chiến lược phát triển doanh nghiệp; tăng nhanh giá trị
nội địa, giá trị gia tăng và sức cạnh tranh của sản phẩm, doanh nghiệp và của cả
nền kinh tế (đây là nội dung mới so với Đại hội X).
20


- Tiếp tục cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh, áp dụng các hình thức thu
hút đầu tư đa dạng, hấp dẫn để huy động và sử dụng có hiệu quả mọi nguồn lực
của các thành phần kinh tế trong nước và nước ngoài, phát huy nội lực, tranh thủ
ngoại lực cho phát triển.
- Phát triển đa dạng các ngành, nghề để tạo nhiều việc làm và thu nhập;

- Phấn đấu giá trị gia tăng công nghiệp - xây dựng bình quân 5 năm tăng
7,8 - 8%.
Thứ ba, phát triển nông nghiệp toàn diện theo hướng công nghiệp hoá,
hiện đại hoá gắn với giải quyết tốt vấn đề nông dân, nông thôn

21


- Phát triển nông nghiệp sản xuất hàng hoá lớn, có năng suất, chất lượng,
hiệu quả và khả năng cạnh tranh cao, thân thiện với môi trường, gắn sản xuất với
chế biến và thị trường, mở rộng xuất khẩu.
- Phát triển lâm nghiệp toàn diện, bền vững, trong đó chú trọng cả rừng sản
xuất, rừng phòng hộ và rừng đặc dụng.
- Phát triển mạnh nuôi trồng thuỷ sản đa dạng theo quy hoạch, phát huy lợi
thế từng vùng gắn với thị trường. Đẩy mạnh việc đánh bắt hải sản xa bờ với ứng
dụng công nghệ cao trong các khâu tìm kiếm ngư trường, đánh bắt và hiện đại hoá
các cơ sở chế biến thuỷ sản. Xây dựng đồng bộ kết cấu hạ tầng, cơ sở dịch vụ phục
vụ nuôi trồng, đánh bắt, chế biến, xuất khẩu thuỷ sản.
- Xây dựng nông thôn mới: Quy hoạch phát triển nông thôn và phát triển đô
thị và bố trí các điểm dân cư. Phát triển mạnh công nghiệp, dịch vụ và làng nghề
gắn với bảo vệ môi trường. Triển khai chương trình xây dựng nông thôn mới phù
hợp với đặc điểm từng vùng theo các bước đi cụ thể, vững chắc trong từng giai
đoạn; giữ gìn và phát huy những truyền thống văn hoá tốt đẹp của nông thôn Việt
Nam. Đẩy mạnh xây dựng kết cấu hạ tầng nông thôn. Tạo môi trường thuận lợi để
khai thác mọi khả năng đầu tư vào nông nghiệp và nông thôn, nhất là đầu tư của
các doanh nghiệp nhỏ và vừa, thu hút nhiều lao động. Triển khai có hiệu quả
chương trình đào tạo nghề cho 1 triệu lao động nông thôn mỗi năm.
Thực hiện tốt các chương trình hỗ trợ nhà ở cho người nghèo và các đối
tượng chính sách, chương trình nhà ở cho đồng bào vùng bão, lũ; bố trí hợp lý dân
cư, bảo đảm an toàn ở những vùng ngập lũ, sạt lở núi, ven sông, ven biển (đây là

Lào, Campuchia. Tiếp tục hoàn thiện theo hướng hiện đại hệ thống giao thông đô
thị, tập trung giải quyết tình trạng ách tắc giao thông và ngập úng ở Thủ đô Hà Nội
và Thành phố Hồ Chí Minh.
- Phát triển nhanh nguồn điện đảm bảo đủ điện cho công nghiệp hoá, hiện
đại hoá và nhu cầu sinh hoạt của nhân dân; hoàn chỉnh hệ thống truyền tải điện
gắn với bảo đảm vận hành an toàn, phấn đấu giảm 1/3 mức điện tổn thất so với
hiện nay. Phát triển hệ thống cung cấp đủ nước sạch cho đô thị, khu công nghiệp
và dân cư nông thôn.
- Xây dựng các công trình xử lý chất thải rắn, nước, khí thải và các công
trình bảo vệ môi trường. Sớm hoàn chỉnh hệ thống dự báo khí hậu, thời tiết và cơ
sở nghiên cứu về biến đổi khí hậu toàn cầu để nâng cao năng lực dự báo, phòng,
chống, hạn chế tác hại của thiên tai.
Thứ sáu, phát triển kinh tế - xã hội hài hoà giữa các vùng, đô thị và nông
thôn
- Phát huy tiềm năng, thế mạnh của từng vùng với tầm nhìn dài hạn, tăng
cường liên kết giữa các địa phương trong vùng theo quy hoạch, khắc phục tình
trạng đầu tư trùng lặp, thiếu liên kết giữa các địa phương trong vùng; đồng thời
tăng cường sự liên kết, phối hợp giữa các vùng để các vùng đều phát triển, từng
bước giảm bớt chênh lệch về trình độ phát triển và mức sống dân cư giữa các vùng.
- Phát triển hài hoà giữa thành thị và nông thôn. Phát triển đô thị phù hợp
với quá trình phát triển kinh tế, theo quy hoạch dài hạn, không khép kín theo ranh
giới hành chính và xử lý đúng mối quan hệ giữa đô thị hoá và hiện đại hoá nông
thôn. Đẩy mạnh việc đưa công nghiệp và dịch vụ về nông thôn để hạn chế tình
trạng nông dân ra các thành phố, đồng thời không để một khu vực lãnh thổ rộng
lớn nào trống vắng đô thị (đây là điểm mới so với Đại hội X)./.

23


KẾT LUẬN

24




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status