Phân tích và đánh giá xu hướng ô nhiễm của một số kim loại nặng trong trầm tích lõi tại vùng ven biển quảng ninh và huế - Pdf 45

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN

-----------------------

Vũ Tiến Thành

PHÂN TÍCH VÀ ĐÁNH GIÁ XU HƢỚNG Ô NHIỄM CỦA MỘT
SỐ KIM LOẠI NẶNG TRONG TRẦM TÍCH LÕI TẠI VÙNG
VEN BIỂN QUẢNG NINH VÀ HUẾ

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC

Hà Nội - 2016


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN

-----------------------

Vũ Tiến Thành

PHÂN TÍCH VÀ ĐÁNH GIÁ XU HƢỚNG Ô NHIỄM CỦA MỘT
SỐ KIM LOẠI NẶNG TRONG TRẦM TÍCH LÕI TẠI VÙNG
VEN BIỂN QUẢNG NINH VÀ HUẾ

Chuyên ngành: Hóa phân tích
Mã số: 60440118
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC

1.1.Tổng quan về kim loại nặng................................................................................3
1.1.1.Tính chất và độc tính của một số kim loại nặng .....................................3
1.1.1.1. Asen (As).............................................................................................4
1.1.1.2. Cadmium (Cd) .................................................................................4
1.1.1.3. Chì (Pb) ...........................................................................................5
1.1.1.4. Kẽm (Zn) .........................................................................................5
1.1.1.5. Đồng (Cu) .......................................................................................6
1.1.1.6. Thủy ngân (Hg) ................................................................................6
1.2. Vấn đề ô nhiễm kim loại nặng ở vùng cửa sông, ven biển Việt nam và trên thế
giới........................................................................................................................7
1.2.1. Sự ô nhiễm kim loại nặng trên thế giới...................................................7
1.2.2. Sự ô nhiễm kim loại nặng ở Việt nam ..................................................10
1.3. Các phƣơng pháp phân tích kim loại nặng..........................................................14
1.3.1. Phƣơng pháp huỳnh quang....................................................................14
1.3.2. Phƣơng pháp quang phổ hấp thụ nguyên tử (AAS)...............................14
1.3.3. Phƣơng pháp quang phổ phát xạ nguyên tử (AES)...............................15
1.3.4. Phƣơng pháp quang phổ khối plasma cảm ứng (ICP-MS) …….....…..15
1.4. Các phƣơng pháp xử lý mẫu trầm tích.................................................................18
1.5. Phƣơng pháp xác định tuổi của của trầm tích, tốc độ bồi lắng đáy biển bằng kỹ
thuật đồng vị

210

Pb.....................................................................................................20

1.5.1. Xác định tuổi tuyệt đối của trầm tích.....................................................20


1.5.2. Phƣơng pháp xác định tốc độ sa lắng trầm tích sử dụng kỹ thuật
210

3.1.3.1. Độ lặp lại của của phép đo ICP MS....................................................40
3.1.3.2. Độ lặp lại của quy trình phân tích mẫu trầm tích thực........................42
3.1.4. Đánh giá hiệu suất thu hồi trên mẫu trầm tích thực tế...........................43
3.2. Kết quả phân tích hàm lƣợng kim loại nặng trong các mẫu trầm tích ................44
3.3. Thảo luận về kết quả phân tích ...........................................................................47
3.3.1. Sự phân bố của kim loại nặng trong các lớp trầm tích............................47


3.3.1.1. Sự phân bố của kim loại nặng trong trầm tích lõi ở vị trí QN15 theo độ
sâu....................................................................................................................47
3.3.1.2. Sự phân bố các kim loại nặng trong trầm tích lõi ở vị trí QN27 theo
độ sâu. .............................................................................................................48
3.3.2. Đánh giá sơ bộ xu thế ô nhiễm kim loại nặng trong trầm tích ở vùng
biển Quảng Ninh..............................................................................................51
3.3.3.. So sánh mức độ ô nhiễm kim loại nặng trong trầm tích ở biển Quảng
Ninh so với các tiêu chuẩn, các vùng biển khác trên thế giới ........................58
KẾT LUẬN………………………………………………………….……………...63
TÀI LIỆU THAM KHẢO......................................................................................64


DANH MỤC CÁC BẢNG
STT
bảng

Tên bảng

Trang

Hàm lƣợng kim loại nặng (mg/kg) trong trầm tích bề mặt ở phía tây
1.1

13

2.1

Tỷ số khối lƣợng/điện tích (M/Z) của các kim loại

31

2.2

Các thông số tối ƣu cho máy đo ICP-MS

32

Phƣơng trình hồi quy, hệ số tƣơng quan của các đƣờng chuẩn phân
3.1

tích

37

3.2

Giá trị LOD và LOQ thiết bị ICP-MS của các nguyên tố kim loại

39

3.3

Giá trị LOD, LOQ của thiết bị và phƣơng pháp phân tích


45

Kết quả phân tích các mẫu trầm tích lõi tại vị trí QN27 có độ sâu
3.9

0cm đến 30 cm (mg/kg)

46


Kết quả phân tích các mẫu trầm tích lõi tại vị trí QN27 có độ sâu
3.10

30cm đến 64 cm (mg/kg)

46

3.11

Kết quả thu đƣợc trên phổ alpha trong các mẫu trầm tích vị trí QN15

53

3.12

Ƣớc tính khoảng thời gian ứng với từng lớp trầm tích ở vị trí QN15

54


1.1

năm 1997

10

1.2

Ứng dụng phƣơng pháp phân tích ICP-MS trong các lĩnh vực

17

2.1

Vị trí QN15 có tọa độ 21°01.446N 108°02.249E

24

2.2

Vị trí QN27 có tọa độ : 20°28.560N 108°12.385E

25

2.3

Quy trình phân tích kim loại trong mẫu mẫu trầm tích

28


3.4

Sự phân bố của Cu, Zn, Cr trong mẫu trầm tích ở vị trí QN15

47

Sự phân bố của Pb, Co, Ni, As,Cd trong các mẫu trầm tích ở vị trí
3.5

QN15

47

3.6

Sự phân bố của Fe trong mẫu trầm tích ở vị trí QN15

48

3.7

Sự phân bố của Cu, Zn, Cr trong mẫu trầm tích ở vị trí QN27

48

3.8

Sự phân bố của Pb, Co, Ni, As, Cd trong mẫu trầm tích ở vị trí QN27

49


Hàm lƣợng Zn trong trầm tích lõi theo độ sâu tƣơng ứng với các năm

56

Hàm lƣợng Pb, Fe, As, Cr trong trầm tích lõi theo độ sâu tƣơng ứng
3.14

với các năm

57

3.15 So sánh hàm lƣợng Cd trong trầm tích biển ở các khu vực trên thế giới

60

3.16 So sánh hàm lƣợng Cu trong trầm tích biển ở các khu vực trên thế giới

60

3.17 So sánh hàm lƣợng Cr trong trầm tích biển ở các khu vực trên thế giới

61

3.18 So sánh hàm lƣợng Zn trong trầm tích biển ở các khu vực trên thế giới

61

3.19 So sánh hàm lƣợng Pb trong trầm tích biển ở các khu vực trên thế giới



Giới hạn phát hiện

LOQ

Giới hạn định lƣợng

ppb

Parts per billion: phần tỉ

ppm

Parts per million: phần triệu

%RSD

% độ lệch chuẩn tƣơng đối

SD
UV-VIS

Độ lệch chuẩn
Phƣơng pháp quang phổ hấp thụ phân tử

TCVN

Tiêu chuẩn Việt Nam

QCVN

khoáng, hóa chất tẩy rửa và kim loại nặng cao đe dọa làm giảm chất lƣợng nƣớc biển
khu vực tiếp nhận nƣớc thải.
Trong số các tác nhân gây ô nhiễm, kim loại nặng là đối tƣợng đƣợc các nhà
khoa học quan tâm nhiều hơn bởi tính độc, tính bền vững và sự tích lũy sinh học của
chúng trong môi trƣờng. Các nghiên cứu về ô nhiễm kim loại nặng trong các lƣu vực
sông trên thế giới đã cho thấy hàm lƣợng các chất ô nhiễm này trong trầm tích
thƣờng rất cao so với trong nƣớc. Nguyên nhân là do hầu hết các kim loại nặng đều ở
dạng bền vững và có xu thế tích tụ trong trầm tích hoặc trong các thủy sinh vật. Do

1


Lớp K24 - Hóa phân tích

Vũ Tiến Thành

đó, để có thể xem xét một cách đầy đủ mức độ ô nhiễm kim loại nặng của một nguồn
nƣớc không thể chỉ dựa trên các kết quả phân tích mẫu nƣớc mà cần tập trung nghiên
cứu cả trong các mẫu trầm tích. Tuy nhiên các nghiên cứu về kim loại nặng trong
trầm tích biển ở Việt Nam hiện nay vẫn còn rất ít. Các nghiên cứu này vẫn còn chƣa
đẩy đủ, tỷ lệ nghiên cứu nhỏ nên kết quả còn nhiều hạn chế. Sự thiếu hụt thông tin
này đã gây khó khăn cho công tác quy hoạch sử dụng bền vững tài nguyên thiên
nhiên vùng ven biển Việt Nam.
Phổ hấp thụ nguyên tử (AAS) và phổ khối plasma cao tần cảm ứng (ICP-MS)
là 2 trong số các phƣơng pháp đƣợc dùng để xác định hàm lƣợng các kim loại nặng
trong các mẫu trầm tích. Trong đó ICP-MS là phƣơng pháp phân tích hiện đại nhất
hiện nay dùng để xác định đồng thời hàm lƣợng kim loại nặng trong các mẫu trầm
tích với độ đúng cao và tốn ít thời gian phân tích. Chính vì vậy trong luận văn này tôi
dùng phƣơng pháp ICP- MS để xác định hàm lƣợng các kim loại nặng trong mẫu
trầm tích lõi ở một số vùng ven biển.

cao khi hiện diện trong cơ thể, tuy nhiên tính độc chỉ thể hiện khi chúng đi vào chuỗi
thức ăn. Các nguyên tố này bao gồm thủy ngân, niken, chì, asen, cadimi, nhôm, platin
và đồng ở dạng ion kim loại. Chúng đi vào cơ thể qua các con đƣờng hấp thụ của cơ
thể nhƣ hô hấp, tiêu hóa và qua da. Nếu kim loại nặng đi vào cơ thể và tích lũy bên
trong tế bào lớn hơn sự phân giải chúng thì chúng sẽ tăng dần và sự ngộ độc sẽ xuất
hiện. Do vậy ngƣời ta bị ngộ độc không những với hàm lƣợng cao của kim loại nặng
mà cả khi với hàm lƣợng thấp và thời gian kéo dài sẽ đạt đến hàm lƣợng gây độc. Tính
độc hại của các kim loại nặng đƣợc thể hiện qua:
(1) Một số kim loại nặng có thể bị chuyển từ độc thấp sang dạng độc cao hơn
trong một vài điều kiện môi trƣờng, ví dụ thủy ngân.
(2) Sự tích tụ và khuếch đại sinh học của các kim loại này qua chuổi thức ăn có
thể làm tổn hại các hoạt động sinh lý bình thƣờng và sau cùng gây nguy hiểm cho sức
khỏe của con ngƣời.
(3) Tính độc của các nguyên tố này có thể ở một nồng độ rất thấp khoảng
0.1-10 mg.L-1 [52], [15], [50].
Những năm gần đây, ảnh hƣởng nghiêm trọng của As đối với sức khỏe con
ngƣời cũng đã đƣợc báo cáo ở Ấn Độ, Trung Quốc, Bangladesh. Ƣớc tính có đến hàng
triệu ngƣời có nguy cơ bị ngộ độc do ngộ độc As. Việt Nam có khoảng 10 triệu ngƣời ở

3


Lớp K24 - Hóa phân tích

Vũ Tiến Thành

đồng bằng sông Hồng, 500 ngàn đến 1 triệu ngƣời ở Đồng Bằng Sông Cửu Long bị ngộ
độc mãn tính do uống nƣớc giếng khoang có chứa arsen. Tƣơng tự, sự tích tụ Cd trong
gan và thận của động vật chăn thả ăn cỏ ở Úc và New Zealand gây ảnh hƣởng đến tiêu
thụ sản phẩm thịt trong nƣớc và xuất khẩu ra nƣớc ngoài. Dƣới đây là nguồn phát sinh,

Lớp K24 - Hóa phân tích

Vũ Tiến Thành

Cadimi đƣợc biết gây tổn hại đối thận và xƣơng ở liều lƣợng cao. Nghiên cứu
1021 ngƣời đàn ông và phụ nữ bị nhiễm độc Cd ở Thụy Điển cho thấy nhiễm độc kim
loại này có liên quan đến gia tăng nguy cơ gãy xƣơng ở độ tuổi trên 50. Bệnh itai-itai là
bệnh do sự ngộ độc Cd trầm trọng. Tất cả những bệnh nhân với bệnh này điều bị tổn hại
thận, xƣơng đau nhức trở nên giòn và dễ gãy [56].
1.1.1.3. Chì (Pb)
Hàm lƣợng chì trung bình trong thạch quyển ƣớc khoảng 1,6x10 -3 phần trăm
trọng lƣợng, trong khi đó trong đất trung bình là 10-3 phần trăm và khoảng biến động
thông thƣờng là từ 0,2x10-3 đến 20x10-3 phần trăm. Chì hiện diện tự nhiên trong đất với
hàm lƣợng trung bình 10-84 ppm [37].
Trong cơ thể ngƣời, chì trong máu liên kết với hồng cầu, và tích tụ trong xƣơng.
Khả năng loại bỏ chì ra khỏi cơ thể rất chậm chủ yếu qua nƣớc tiểu. Chu kì bán rã của
chì trong máu khoảng một tháng, trong xƣơng từ 20-30 năm. Các hợp chất chì hữu cơ
rất bền vững độc hại đối với con ngƣời, có thể dẫn đến chết ngƣời [58], [44].
Những biểu hiện của ngộ độc chì cấp tính nhƣ nhức đầu, tính dễ cáu, dễ bị kích
thích, và nhiều biểu hiện khác nhau liên quan đến hệ thần kinh. Con ngƣời bị nhiễm độc
lâu dài đối với chì có thể bị giảm trí nhớ, giảm khả năng hiểu, giảm chỉ số IQ, xáo trộn
khả năng tổng hợp hemoglobin có thể dẫn đến bệnh thiếu máu. Chì cũng đƣợc biết là
tác nhân gây ung thƣ phổi, dạ dày và u thần kinh đệm Nhiễm độc chì có thể gây tác hại
đối với khả năng sinh sản, gây sẩy thai, làm suy thoái nòi giống [30], [51], [24].
1.1.1.4 Kẽm (Zn)
Hàm lƣợng kẽm trung bình trong đất và đá thông thƣờng gia tăng theo thứ tự:
cát (10-30 mg.kg-1), đá granic (50 mg.kg-1), sét (95 mg.kg-1), và bazan (100 mg.kg-1).
Theo Murray (1994) hàm lƣợng kẽm hiện diện tự nhiên trong đất 17-125 ppm. Cháy
rừng phát tán một lƣợng lớn kẽm vào không khí. Khoảng 7600 tấn kẽm mỗi năm ở mức
độ toàn cầu phán tán vào không khí do cháy rừng. Sự phong hoá địa chất là một trong

vô cơ và hữu cơ (metyl và etyl thủy ngân). Tất cả những dạng này có tính độc khác
nhau và có thể ảnh hƣởng đến sức khoẻ con ngƣời. Trong môi trƣờng đất, dạng cation
Hg2+ hiện diện là phổ biến nhất. Sự tích tụ thủy ngân trong đất có khuynh hƣớng tƣơng
quan với hàm lƣợng vật chất hữu cơ. Hàm lƣợng thủy ngân trong tự nhiên cao nhất đã
đƣợc báo cáo trong đất ngập nƣớc và đất than bùn. Hàm lƣợng thủy ngân trong đất trên
thế giới trung bình 0,02-0,41 ppm Nồng độ thủy ngân trong nƣớc đại dƣơng trung bình
0,001-0,004 μ.L-1 và nồng độ Hg gia tăng gần các cửa sông chịu ảnh hƣởng từ công
nghiệp
Khi thủy ngân kết hợp với các hợp chất hữu cơ và bị biến đổi bởi các vi khuẩn
và vi sinh vật trong nƣớc và trầm tích hình thành các hợp chất khác nhất là metyl thủy
ngân rất độc, bền và tích tụ trong chuỗi thức ăn. Trong môi trƣờng biển, hệ vi sinh vật
có thể chuyển nhiều hợp chất thủy ngân vô cơ thành metyl thủy ngân và hợp chất này
dễ dàng phóng thích từ trầm tích vào nƣớc, sau đó có thể tích tụ trong các sinh vật sống.

6


Lớp K24 - Hóa phân tích

Vũ Tiến Thành

Metyl thủy ngân độc hại đối với hệ thần kinh trung ƣơng và ngoại vi. Hít thở hơi thủy
ngân có thể ảnh hƣởng tổn hại đến hệ thần kinh, tiêu hóa và miễm nhiễm, phổi, thận và
có thể tử vong. Các muối vô cơ của thủy ngân có thể phá hủy da, mắt, đƣờng tiêu hóa,
và có thể gây ra sự tổn hại thận nếu hấp thụ. Thảm họa ngộ độc metyl thủy ngân (bệnh
Minamata) năm 1956 có hơn 2000 ngƣời bi ngộ độc trong số này có 43 ngƣời chết, hơn
700 ngƣời với tàn tật nghiêm trọng suốt đời [22], [60].
1.2. Vấn đề ô nhiễm kim loại nặng ở vùng cửa sông, ven biển Việt nam và trên thế
giới
1.2.1. Sự ô nhiễm kim loại nặng trên thế giới

nặng. Tam & Wong (1995) đã xác định hàm Pb trong trầm tích rừng ngập mặn Sai
Keng, Hong Kong với hàm lƣợng 58,2 μg.g-1. Zheng & Lin (1996) đã xác định hàm
lƣợng Pb và Cd trong trầm tích rừng ngập mặn Avicennia marina, vịnh Shenzhen với
hàm lƣợng tƣơng ứng 28,7 μg.g-1và 0,136 μg.g-1 tƣơng ứng [50].
Yanguang Dou v à c ộ n g s ự ( 2 0 1 3 ) đ ã p h â n t í c h h à m l ƣ ợ n g các kim
loại trong 69 mẫu trầm tích bề mặt (ở độ sâu 0-5 cm) ở phía tây Vịnh Bắc Bộ, biển
Nam Trung Quốc để kiểm tra các nguồn ô nhiễm với kết quả đƣợc ghi trong bảng dƣới
đây [62].
Bảng 1.1: Hàm lượng kim loại nặng (mg/kg) trong trầm tích
bề mặt ở phía tây Vịnh Bắc Bộ, biển Nam Trung Quốc [53]
Cu

Zn

Cd

Pb

Hg

As

Trung bình

58,26

67,28

0,16



0,01

2,40

Lớn nhất

145,70

112,54

0,28

49,33

0,16

23,09

Tác giả đã so sánh các nồng độ các kim loại nặng ở khu vực này với những khu
vực biển lân cận và trên thế giới. Kết quả cho thấy hầu hết các kim loại, bao gồm cả Pb
(27,99 mg/kg) , Zn (67,28 mg/kg) và As ( 9,53 mg/kg) có nồng độ tƣơng đối cao hơn so
với những khu vực bãi biển Bắc Hải, Trung Quốc, biển California, Hoa Kỳ; nhƣng thấp
hơn so với vịnh Quanzhou, Trung Quốc và biển Aegean . Ngoại trừ Cu (58,26 mg/ kg),
hàm lƣợng các kim loại khác so với các tiêu chí của tiêu chuẩn Trung Quốc(CSBTS,
2002) ở Vịnh Bắc Bộ đều thấp hơn nhiều [62].

8



9,53

67,28

Biển Bắc Hải

0,07

0,22

12,71

16,6

9,08



0,09

0,08

68,4

34,2

18,1

57,4


46,0



85,9

0,20

0,50

35,0

60,0

20,0

150,0

Cửa sông Vịnh Bắc
Bộ
Vịnh Quanzhou
Biển California Hoa Kỳ
Biển Aegean
Tiêu chuẩn Trung

Quốc
Tác giả Xiangdong Li và cộng sự (2000) đã nghiên cứu và cung cấp nhiều
thông tin về lịch sử ô nhiễm kim loại trong 21 mẫu trầm tích lõi (core sediment) ở cửa
sông Châu Giang – Trung Quốc. Kết quả cho thấy hàm lƣợng các kim loại Pb, Cu và
Zn nhƣ sau [61]:


100

37,1

120 - 160

48,1

98,2

37,2

Qua việc tính toán hàm lƣợng kim loại theo độ sâu và theo năm, tác giả nhận
định: Các kim loại Cu, Pb, Zn đều có xu hƣớng tăng từ năm 1977 đến năm 1997, nhƣ

9


Lớp K24 - Hóa phân tích

Vũ Tiến Thành

hàm lƣợng Pb tăng 7 mg/kg trong 20 năm và có xu hƣớng tiếp tục tăng.

Hình 1.1. Hàm lượng Pb trong trầm tích sông Châu Giang từ năm 1977 đến năm 1997
Hàm lƣợng và sự phân bố của các nguyên tố kim loại nặng trong trầm tích biển
đã thu hút đƣợc rất nhiều sự quan tâm của các nhà khoa học trên thế giới. Sự tập trung
cao của nguyên tố kim loại nặng trong trầm tích biển có thể gây ảnh hƣởng đến các hệ
sinh thái biển và con ngƣời thông qua quá trình sinh địa hóa. Hàm lƣợng các kim loại

vùng ven bờ ngày càng bị đe dọa nhƣ rừng ngập mặn, rặng san hô.
Một trong những nguyên nhân gây ô nhiễm môi trƣờng biển là ô nhiễm kim
loại nặng. Kim loại nặng có Hg, Cd, Pb, As, Sb, Cr, Cu, Zn, Mn, v.v thƣờng không
tham gia hoặc ít tham gia vào quá trình sinh hóa của các thể sinh vật
Công tác nghiên cứu thành phần hóa học trong trầm tích biển có mục đích là
phác họa bức tranh phân bố của các nguyên tố và xác định vùng tập trung của chúng
trong trầm tích. Cụ thể là nghiên cứu đặc điểm phân bố của nguyên tố và hợp chất hoá
học tồn tại dƣới dạng anion-cation hấp thụ trao đổi. Nhiều nguyên tố hoá học, đặc biệt
là nhóm các kim loại nặng nhƣ Hg, Cd, Cu, Pb… khi tồn tại dƣới dạng anion-cation sẽ
rất linh động. Chúng gây ô nhiễm môi trƣờng trầm tích lõi và thâm nhập vào cơ thể
sinh vật thông qua con đƣờng tiêu hoá, sau đó sẽ trực tiếp hoặc gián tiếp tác động đến
sức khoẻ con ngƣời.
Tổng quan về các nghiên cứu kim loại nặng trong trầm tích ở Việt Nam
Tác giả Phạm Thị Thu Nga và các cộng sự (2007) đã tiến nghiên cứu để kiểm
tra mức độ ô nhiễm kim loại nặng trong trầm tích và hệ sinh vật trong hồ và thấy rằng
hàm lƣợng kim loại nặng trong trầm tích và hầu hết 24 mẫu trong Hồ Tây vƣợt quá giá
trị ngƣỡng do tổ chức môi trƣờng Ontaria, Canada qui định (OMESL - Ontario
Ministry of Environment Screening Level) đối với các kim loại crom, đồng, mangan ,
chì và kẽm [42].
Tác giả Hoàng Thị Thanh Thủy và cộng sự (2007) đã phân tích 33 mẫu trầm tích
đƣợc lấy từ hai con sông chính của thành phố Hồ Chí Minh là sông Sài Gòn và sông
Nhà Bè và phát hiện nồng độ các kim loại Cd, Cu, Zn ở mức rất cao. Nồng độ các kim
loại trên hầu hết đã vƣợt quá Tiêu chuẩn tham chiếu độc của Cơ quan Bảo vệ Môi
trƣờng Hoa Kỳ với hàm lƣợng các kim loại đồng (Cu), kẽm (Zn) [4].

11


Lớp K24 - Hóa phân tích



137

0,08

(14,3 – 58,8)

(3,31 – 63,1)

(79,8 – 237)

(0,03 – 0,24)

31,6

23,8

157

0,10

16

31

110

0,6

Tác giả Phạm Kim Phƣơng và cộng sự (2011) đã tiến hành lấy mẫu và phân tích

QCVN

(PEL) theo Canada

Trầm tích

Trầm tích

Trầm tích

Trầm

nƣớc ngọt

nƣớc mặn,

nƣớc

tích

nƣớc lợ

ngọt

nƣớc
mặn

1

Asen (As)


91,3

112

91,3

112

4

Kẽm (Zn)

mg/kg

315

271

315

271

5

Thủy ngân

mg/kg

0,5

kĩ thuật ít phòng thí nghiệm ở Việt nam thực hiện đƣợc. Trong nghiên cứu này với sự
cộng tác của Viện Khoa học và kĩ thuật hạt nhân trong việc lấy mẫu trầm tích và đo
đồng vị phóng xạ, chúng tôi đã sơ bộ đánh giá hàm lƣợng kim loại nặng trong trầm tích
ven biển Quảng Ninh.
1.3. Các phƣơng pháp phân tích kim loại nặng
Hiện nay có rất nhiều phƣơng pháp xác định kim loại nặng nhƣ phƣơng pháp
trọng lƣợng, chuẩn độ, các phƣơng pháp điện hóa, trắc quang, quang phổ hấp thụ
nguyên tử (F-AAS,GF-AAS, CV-AAS), huỳnh quang tia X (XRF), kích hoạt nơtron
(NAA), quang phổ phát xạ plasma cảm ứng (ICP-AES)…Các phƣơng pháp đƣợc sử

13


Lớp K24 - Hóa phân tích

Vũ Tiến Thành

dụng tùy thuộc theo từng đối tƣợng mẫu phân tích, hàm lƣợng kim loại nặng trong mẫu,
điều kiện cụ thể của phòng thí nghiệm, cũng nhƣ yêu cầu về độ chính xác của kết quả
phân tích.
1.3.1. Phƣơng pháp huỳnh quang
Một chất khi hấp thụ một năng lƣợng ở giới hạn nào đó sẽ làm kích thích hệ
electron của phân tử. Khi ở trạng thái kích thích, phân tử chỉ tồn tại ≤ 10-8s, nó lập tức
trở về trạng thái cơ bản ban đầu và giải phóng năng lƣợng đã hấp thụ. Khi năng lƣợng
giải toả đƣợc phát ra dƣới dạng ánh sáng thì gọi là hiện tƣợng phát quang. Hoá học
phân tích sử dụng hiện tƣợng này để định tính và định lƣợng các chất và gọi là phƣơng
pháp phân tích huỳnh quang.
Dong Yan-Jie và Ke Gai [23] sử dụng phƣơng pháp huỳnh quang để xác định
lƣợng vết Pb trên cơ sở cho Pb2+ tạo phức với axit gibberellic theo tỉ lệ Pb2+: axit là 1:
2 với pH = 7-8. Bƣớc sóng kích thích và phát xạ lớn nhất là 205,0nm và 308,8nm.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status