BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC
VÀ CÔNG NGHỆ VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
-----------------------------
NGUYỄN PHƯỢNG MINH
NGHIÊN CỨU THÀNH PHẦN CÁC LOÀI ONG MẬT
(HYMENOPTERA: APIDAE) VÀ KHẢ NĂNG SỬ DỤNG
MỘT SỐ LOÀI LÀM CHỈ THỊ ĐÁNH GIÁ SỰ Ô NHIỄM
MÔI TRƯỜNG TRÊN CÁC HỆ SINH THÁI
BỊ TÁC ĐỘNG Ở MIỀN BẮC VIỆT NAM
LUẬN ÁN TIẾN SĨ SINH HỌC
HÀ NỘI - 2017
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC
VÀ CÔNG NGHỆ VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
-----------------------------
NGUYỄN PHƯỢNG MINH
ii
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận án này, tôi xin cảm ơn các cán bộ thuộc Phòng Côn
trùng thực nghiệm, phòng Sinh thái Côn trùng - Viện Sinh thái và Tài nguyên
sinh vật, cán bộ thuộc Viện Hóa học Môi trường quân sự, Bộ quốc phòng đã
giúp đỡ tận tình, đóng góp những ý kiến quý báu, đồng cảm ơn sự hỗ trợ của đề
tài cấp Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam mã số: VAST04.08/1516 đã hỗ trợ tạo điều kiện về cơ sở vật chất phục vụ cho đề tài nghiên cứu.
Đặc biệt tôi xin cảm ơn PGS.TS Trương Xuân Lam và TS Nguyễn Thị
Phương Liên đã giành nhiều thời gian, trí tuệ, tận tình hướng dẫn trực tiếp trong
suốt quá trình nghiên cứu khoa học để hoàn thành luận án này.
Tôi xin trân trọng cảm ơn Khoa Sinh thái Tài nguyên và Môi trường,
Học viện Khoa học và Công nghệ, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt
Nam đã giúp đỡ tôi rất nhiều về cơ sở vật chất, các điều kiện thực hiện đề tài
và thủ tục hành chính để bảo vệ luận án.
Tôi xin cảm ơn cán bộ Viện sinh thái và Tài nguyên sinh vật và các đồng
nghiệp của tôi trong và ngoài cơ quan đã giúp đỡ tôi nuôi côn trùng, điều tra thu
thập số liệu và đóng những ý kiến bổ ích trong quá trình thực hiện luận án.
Hà Nội, ngày
tháng
năm 2017
NCS. Nguyễn Phượng Minh
iii
MỤC LỤC
Trang
Bảng 2.1. Cặp mồi sử dụng khuếch đại vùng gen ty thể cox1....................... 46
Bảng 3.1. Thành phần và sự phân bố của các loài ong mật thuộc họ Apidae ở
một số tỉnh miền Bắc, Việt Nam................................................. 54
Bảng 3.2. Nồng độ DNA genome của 5 mẫu ong nội Apis cerana ............... 81
Bảng 3.3. Các loài ong mật có khả năng làm chỉ thị sinh học tại các điểm
nghiên cứu ở miền Bắc, Việt Nam .............................................. 89
Bảng 3.4. Hàm lượng các kim loại nặng trong mẫu cơ thể ong mật Apis
cerana indica ở các điểm nghiên cứu ......................................... 94
Bảng 3.5. Hàm lượng các kim loại nặng có trong mẫu ruột ong Apis cerana
indica ở các điểm nghiên cứu ................................................... 100
Bảng 3.6. Hàm lượng các kim loại nặng có trong mẫu sáp ong Apis cerana
indica ở các điểm nghiên cứu ................................................... 105
Bảng 3.7. Hàm lượng các kim loại nặng có trong mẫu mật ong Apis cerana
indica ở các điểm nghiên cứu ................................................... 110
Bảng 3.8 . Số lượng loài ong mật ( họ Apidae) và tỷ lệ bắt gặp của chúng ở
các sinh cảnh nghiên cứu .......................................................... 116
Bảng 3.9. Chỉ số đa dạng Shannon – Weiner (H’) của các loài ong mật
Apidae ghi nhận được ở 4 sinh cảnh nghiên cứu....................... 119
Bảng 3.10. Tình hình cháy rừng tại một điểm điều tra ở Cao Bằng, Lạng Sơn,
Tuyên Quang và Hà Giang năm 2014 và 2015.......................... 121
Bảng 3.11. Các loài ong mật Apidae bị khai thác qua mức ở tự nhiên cần bảo
vệ và sử dụng bền vững tại các điểm nghiên cứu ...................... 129
Bảng 3.12. Các loài ong thụ phấn cho cây trồng có nguy cơ bị tận diệt cần
bảo vệ ở sinh cảnh rừng tự nhiên và rừng trồng tại các điểm
nghiên cứu................................................................................ 131
v
DANH MỤC CÁC HÌNH
Apis cerana indica ở các điểm nghiên cứu.................................................. 112
Hình 3.21. Quan hệ giữa số lượng loài và tỷ lệ bắt gặp các loài ở trong giống
thuộc họ ong mật Apidae ở các sinh cảnh nghiên cứu ................................ 118
Hình 3.22. Độ tương đồng về thành phần loài ong mật thu được trong ở các
sinh cảnh nghiên cứu.................................................................................. 120
Hình 3.23. Tỷ lệ bắt gặp của một số loài ong mật trên cây ăn quả ở sinh cảnh
vườn cây lâu tại các điểm nghiên cứu......................................................... 122
Hình 3.24. Tỷ lệ bắt gặp của một số loài ong mật trên cây ăn quả ở sinh cảnh
vườn cây lâu tại các điểm nghiên cứu......................................................... 124
Hình 3.25. Tỷ lệ viếng thăm trên hoa nhãn của một số loài ong mật ở sinh
cảnh vườn cây lâu năm tại xã Song Phương, Hoài Đức, Hà Nội................. 125
Hình 3.26. Tỷ lệ viếng thăm trên hoa vải của một số loài ong mật ở sinh cảnh
vườn cây lâu năm tại xã Trù Hựu, Lục Ngạn, Bắc Giang ........................... 127
Hình 3.27. Số lượng bắt gặp ong mật Apis cerana trên cây ngô ở sinh cảnh
cây trồng hàng năm tại xã Thuần Mỹ, Ba Vì, Hà Nội ................................. 128
vii
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Anthophora bouwmani
A. elephas
Anthophora elephas
A. jacobi
Anthophora jacobi
A. cyrtandrae
E. khasiana
Elaphropoda khasiana
E. moelleri
Elaphropoda moelleri
E. impatiens
Elaphropoda impatiens
E. erratica
Elaphropoda erratica
E. percarinata
Elaphropoda percarinata
E. bembidion
Elaphropoda bembidion
H. tumidifrons
Habropoda tumidifrons
H. disconota
viii
P. formosana
Protomelissa formosana
P. habropodae
Protomelissa habropodae
P. pendleburyi
Protomelissa pendleburyi
P. vulpecula
Protomelissa vulpecula
P. insidiosa
Protomelissa insidiosa
PCR
Polymerase chain reaction
TAE
Đệm Tris-acetate-EDTA
Nguyên, Phú Thọ, Bắc Giang, Quảng Ninh) và vùng Đồng bằng sông
Hồng (Bắc Ninh, Hà Nam, Hà Nội, Hải Dương, Hải Phòng, Hưng Yên, Nam
Định, Ninh Bình, Thái Bình, Vĩnh Phúc) [112].
Họ ong mật (Apidae) là nhóm chiếm số lượng lớn trên thế giới, với
hơn 5700 loài đã được mô tả. Bên cạnh vai trò sản xuất mật ong, thì ong mật
còn là những loài thụ phấn cho cây trồng và có vai trò rất quan trọng trong hệ
sinh thái, chúng là một mắt xích quan trọng trong chuỗi thức ăn của động vật,
giúp bảo tồn nguồn gen và cân bằng các hệ sinh thái tự nhiên. Hơn thế nữa,
do nhạy cảm với những tác động của môi trường nên chúng được sử dụng như
những loài chỉ thị sinh học cho môi trường.
Hàng năm Việt Nam sản xuất gần 20.000 tấn mật ong, xuất khẩu
khoảng 80-85% tổng sản lượng mật của cả nước và nằm trong tốp 10 nước
xuất khẩu mật ong nhiểu nhất. Vì vậy sự sống còn của ngành mật ong Việt
Nam phụ thuộc chủ yếu vào khả năng xuất khẩu đặc biệt khả năng xuất khẩu
vào các thị trường “khó tính” như Mỹ, các nước châu Âu và Nhật bản. Theo
Tổng cục Hải quan, tổng kim ngạch xuất khẩu mật ong trong năm 2016 của
2
Việt Nam ước đạt 95 triệu đô la Mỹ, tương đương 34.000 tấn mật ong và cũng
là năm liên tục Việt Nam xuất khẩu đạt trên 30.000 tấn mật ong vào Mỹ với
kim ngạch 75,66 triệu đô la Mỹ kể từ năm 2013. Mật ong Việt Nam có tiềm
năng nhất ở những thị trường khối lượng lớn với giá cả khá thấp. Việt Nam
cũng có thể tiếp cận được thị trường cho mật ong hữu cơ và mật ong được
chứng nhận. Những nhà xuất khẩu Việt Nam đã có thị trường ngách hấp dẫn
trong thị trường đơn hoa với mật ong cà phê, nhãn, bạc hà có thể trở thành
loại mật ong hấp dẫn trong tương lai gần. Để duy trì cũng như phát triển
ngành nuôi mật và sản xuất mật, phải không ngừng phát triển cả về quy mô và
chất lượng sản phẩm, không ngừng phát triển các phương pháp để có thể phân
Một số loài ong mật họ ong mật (Apidae) là một mắt xích quan trọng
trong chuỗi thức ăn của động vật, giúp bảo tồn nguồn gen và cân bằng các hệ
sinh thái tự nhiên. Hơn thế nữa, do nhạy cảm với những tác động của môi
trường nên chúng được sử dụng như những loài chỉ thị sinh học cho môi
trường. Thức ăn của các loài ong mật họ Apidae là phấn hoa. Thành phần các
chất kim loại nặng có trong thức ăn được tích tụ lại trong các bộ phận khác
nhau của các loài ong như chì được tích lại trong chất thải (phân) ở các loài
ong mật họ Apidae, đồng, sắt và kẽm cũng được tìm thấy trong chất thải
nh ng với nồng độ thấp, trong khi sắt đựợc tìm thấy với nồng độ cao trong
các tế bào đặc biệt (trophocytes) ở phần bụng, đồng và kẽm được tích lại
trong các cơ ở ngực của các loài ong mật. Các nghiên cứu về các kim loại
nặng và á kim đựợc tích tụ lại trong cơ thể các loài ong và các sản phẩm của
chúng như phấn hoa, keo ong và sáp ong, do quá trình tiêu thụ nguồn thức ăn
trong môi trường bị ô nhiễm. Các nghiên cứu cho thấy, ở các hệ sinh thái bị
tác động ở miền Bắc Việt Nam đều có độ đa dạng côn trùng cao, trong đó có
nhóm ong mạt Apidae. Các hệ sinh thái này là hệ thống mở, có chuỗi thức ăn
ngắn và lưới thức ăn đơn giản, hơn nữa hệ sinh thái bị tác động có khả năng
4
điều chỉnh do có sự can thiệp của con người. Chất thải công nghiệp, sinh hoạt,
chất độc hại của quá trình sản xuất không được xử lý nghiêm túc được đưa
trực tiếp vào môi trường, gây bệnh tật và ô nhiễm môi trường sinh thái.
Ngoài ra nồng độ bụi ở đô thị vượt quá nhiều lần chỉ tiêu cho phép cũng đang
là nguy cơ huỷ hoại môi trường sinh thái. Tất cả điều này đều làm ảnh hưởng
nghiêm trọng đến các loài côn trùng, trong đó có các loài ong mật, đó là việc
suy giảm số lượng, làm biến mất nhiều loài bản địa, làm giảm các vai trò có
lợi của chúng và ảnh hưởng lớn đến giá trị sản xuất mật (Geni et al., 2007;
Goloskov and Pimenov, 2002) [51], [53].
Hơn nữa, hiện nay thuốc bảo vệ thực vật đang được sử dụng rộng rãi
taxon ghi nhận mới chưa được phát hiện và công bố, nhiều loài chưa được ghi
nhận cho khu hệ côn trùng ở Việt Nam. Các thông tin và dẫn liệu về phân loại
học của các loài ong mật ở Việt Nam chưa được hệ thống đầy đủ hoặc thiếu
thông tin về mẫu vật, phân bố cho việc hệ thống. Các dẫn liệu của các loài phổ
biến, có ý nghĩa kinh tế và loài chỉ thị cho sinh cảnh, cho môi trường cũng như
các mối quan hệ giữa chúng với sinh cảnh làm cơ sở cho việc đánh giá vai trò
của chúng chưa được quan tâm, chú ý đúng với tiềm năng của nhóm ong mật
này. Việc phá rừng, làm xói mòn và thoái hóa đất, thiếu và ô nhiễm môi trường
ngày càng gia tăng dẫn đến việc suy giảm số lượng loài ong mật trong đó phải
kể đến các loài ong bản địa đơn hoa sản xuất mật cà phê, nhãn, bạc hà.
Với các lý do trên chúng tôi thực hiện đề tài “Nghiên cứu thành phần
các loài ong mật (Hymenoptera: Apidae) và khả năng sử dụng một số loài
làm chỉ thị đánh giá sự ô nhiễm môi trường trên các hệ sinh thái bị tác động ở
miền Bắc Việt Nam” nhằm bổ sung những dẫn liệu về thành phần loài của
nhóm ong mật, sử dụng một số loài làm chỉ thị đánh giá sự ô nhiễm môi
trường trên các hệ sinh thái bị tác động, phục vụ cho công tác quản lý và bảo
tồn các loài ong ở Việt Nam.
6
2. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
2.1. Ý nghĩa khoa học
Đề tài đã hệ thống khá đầy đủ danh sách về thành phần loài và sự phân
bố của các loài ong mật thuộc họ Apidae ở một số tỉnh thuộc miền Bắc Việt
Nam. Cung cấp các dẫn liệu về loài ghi nhận mới, loài phổ biến, loài có giá trị
kinh tế ở khu vực nghiên cứu.
Lần đầu tiên, kết quả đề tài cũng đã cung cấp các dẫn liệu về hàm
lượng kim loại nặng và á kim có trong thành phần của cơ thể, mật, ruột, sáp
và chất thải của phân loài ong mật (Apis cerena indica Fabricius), từ đó chỉ ra
mật làm chỉ thị đánh giá sự ô nhiễm môi trường trên các sinh cảnh có gắn với
các hệ sinh thái bị tác động (hệ sinh thái đồng ruộng, hệ sinh thái vườn cây lâu
năm, hệ sinh thái rừng trồng và hệ sinh thái tự nhiên) ở một số tỉnh thuộc miền
Bắc Việt Nam góp phần bảo tồn các loài ong mật và tạo ra sản phẩm mật ong
có chất lượng cao phát triển kinh tế của người dân trong vùng.
3.2. Nội dung nghiên cứu
+) Điều tra thành phần loài, sự phân bố của các loài ong mật họ Apidae
ở một số tỉnh thuộc miền Bắc Việt Nam
+) Mô tả đặc điểm hình thái của các loài ong mật ghi nhận mới cho khu
hệ ong mật Việt Nam.
+) Nghiên cứu khả năng sử dụng một số loài ong mật làm chỉ thị sinh
học nhằm đánh giá sự ô nhiễm môi trường ở các điểm nghiên cứu.
+) Xác định mối quan hệ sinh thái giữa một số loài ong mật thuộc họ
Apidae với một số sinh cảnh gắn với các hệ sinh thái bị tác động (hệ sinh
thái đồng ruộng, hệ sinh thái vườn cây lâu năm, hệ sinh thái rừng trồng và hệ
sinh thái tự nhiên).
8
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Các loài ong mật thuộc họ ong mật Apidae, bộ Hymenoptera. Chú
trong nghiên cứu phân loài ong nội (Apis cerena indica Fabricius)
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu thành phần loài, đa dạng loài và sự phân bố của các loài
ong mật họ Apidae ở một số tỉnh thuộc miền Bắc. Mô tả đặc điểm hình thái
của các loài ong mật ghi nhận mới. Nghiên cứu khả năng sử dụng loài ong
mật làm chỉ thị sinh học để đánh giá sự ô nhiễm môi trường và xác định mối
quan hệ sinh thái của một số loài ong mật Apidae với một số sinh cảnh nhằm
gồm những loài ong có đời sống xã hội và có bản năng sản xuất mật ong, thụ
phấn cho cây trồng và vai trò làm chỉ thị sinh học. Trên thế giới có khoảng
5.811 loài ong mật thuộc họ Apidae, sinh sống ở mọi vùng khí hậu (ngoại trừ 2
cực) từ đồng bằng đến núi cao 3.200 m. Họ Ong mật Apidae gồm ba phân họ là
Apinae, Nomadinae và Xylocopinae ( dẫn theo Erwin, 2003) [48].
Ở Việt Nam, ong mật có vai trò hết sức quan trọng trong đời sống. Tuy
nhiên, các nghiên cứu về các loài ong mật thuộc họ Apidae và vai trò của
chúng không được quan tâm đúng với tiềm năng to lớn vốn có của chúng.
Những nghiên cứu về thành phần loài ong mật ở Việt Nam mới được chú ý lẻ
tẻ từ năm 2008 trở lại đây, danh sách đầu tiên công bố thành phần các loài
ong mật thuộc liên họ ong mật ở Việt Nam, trong đó ghi nhận 41 loài thuộc
11 giống của họ Ong mật Apidae, sau đó một loài mới thuộc giống Bombus
được mô tả (Lê Xuân Huê, 2008, 2010) [ 10], [11]. Năm 2012, dánh sách 35
10
loài thuộc 10 giống của họ Apidae ở phía Bắc và Bắc Trung Bộ của Việt Nam
cũng mới được ghi nhận (Khuat et al., 2012) [58].
Thức ăn của các loài ong mật họ Apidae là phấn hoa. Thành phần các chất
trong thức ăn được tích tụ lại trong các bộ phận khác nhau của các loài ong như
chì được tích lại trong chất thải (phân) ở các loài ong mật họ Apidae (Goloskov
& Pimenov, 1972) [53], đồng, sắt và kẽm cũng được tìm thấy trong chất thải
nhưng với nồng độ thấp, trong khi sắt được tìm thấy với nồng độ cao trong các
tế bào đặc biệt ở phần bụng, đồng và kẽm được tích lại trong các cơ ở ngực của
một số loài ong mật (Hsu Yuan and Chia Welli, 1993) [55]. Chính vì vậy, trên
thế giới việc xác định hàm lượng các kim loại nặng trong cơ thẻ ong mật và các
sản phẩm của chúng bằng các phương pháp tiến tiến để đánh giá chất lượng
môi trường đang được thực hiện và thu nhiều kết quả mới. Hơn nữa, các đánh
giá tác động của việc sử dụng thuốc trừ sâu tràn lan, làm tăng dư lượng thuốc
trừ sâu, làm ô nhiễm môi trường đồng thời cũng làm suy giảm của quần thể của
nghiên cứu, loài có vai trò chỉ thị sinh học trên các sinh cảnh có gắn với các
hệ sinh thái bị tác động là cơ sở để lựa chọn các phương pháp nghiên cứu
thích hợp, cùng với các kim loại nặng và á kim được tích tụ lại trong cơ thể
của một số loài ong trên các sản phẩm của chúng (phấn hoa, keo ong và sáp
ong) do quá trình tiêu thụ nguồn thức ăn trong các sinh cảnh cây trồng bị ô
nhiễm do phun thuốc hóa học gây ra cho phép lựa chọn loài ong mật có khả
năng làm chỉ thị sinh học đánh giá sự ô nhiễm kim loại nặng trong môi trường
ở khu vực nghiên cứu.
1.2. Tổng quan tình hình nghiên cứu
1.2.1. Các nghiên cứu ở trên thế giới
1.2.1.1. Nghiên cứu thành phần loài, sự phân bố của các loài ong mật
họ Apidae
Các nghiên cứu về thành phần loài họ ong mật Apidae trên thế giới được
tiến hành từ khá sớm. Ngay từ năm 1897, Bigham đã ghi nhận có 278 loài ong
12
mật thuộc 29 giống ở Ấn Độ. Khóa định loại đến từng giống, từng loài cũng như
mô tả các đặc điểm chuẩn loại để phân biệt các loài được cung cấp, trong nghiên
cứu này tác giả cũng đã sắp xếp lại một số giống ong gồm Sphecodes, Halictus,
Megachile, Anthidium, Heriades, Coelioxys vào họ Apidae. Tuy nhiên, hiện nay
các giống ong Sphecodes, Halictus được xếp vào họ Halictidae, các giống
Megachile, Anthidium, Heriades, Coelioxys được xếp vào họ Megachilidae
trong tổng họ Ong mật Apoidea. Tác giả cũng đã cung cấp khóa định loại cho 17
loài thuộc giống Xylocopa ở Ấn Độ và Miến Điện, cùng với những đặc điểm mô
tả cho mỗi loài trong giống (Bigham, 1997) [31].
Hai loài mới thuộc giống Habropoda là Habropoda impatiens và
Habropoda erratica được phát hiện, trong đó, cả con đực và con cái của loài
Habropoda impatiens được mô tả rất chi tiết cùng những hình vẽ cụ thể so sánh
sự khác biệt với loài khác cùng giống. Loài Habropoda impatiens được thu ở độ
Ceratina lieftinck, Ceratina jacobsoni và Certina papuana) và đưa ra khóa
định loại đến loài cho khu vực nghiên cứu.
Các nghiên cứu về giống Amegilla ở khu vực phương Đông đã ghi nhận
được 17 loài ở độ cao dưới 2000 m, phân bố tập trung ở Malaya, Sumatra,
Java. Khóa định loại đến loài, các hình ảnh minh họa cho các đặc điểm phân
loại cũng đã được cung cấp (Lieftinck, 1992,1996) [63], [64].
Những thông tin về mẫu vật, đặc điểm hình thái nhận biết và sự phân bố
của 17 loài ong mật thuộc giống Habropoda được trình bày. Ngoài ra, 2 loài
mới Habropoda impatiens và Habropoda erratica được ghi nhận bởi
Cockerell (1926, 1929) [37], [38] được xem xét lại và đã được đính chính,
chúng thực sự là các loài thuộc giống Elaphropoda chứ không phải giống
Habropoda. Lieftinck phát hiện giống Elaphropoda là giống mới cho khoa
học. Giống này phân bố trong các khu rừng mưa ẩm ướt của vùng núi thấp,
thường có độ cao 1450 – 1700 m. Do môi trường sống đặc biệt và khả năng
bay cực kỳ nhanh nên các loài ong này dễ dàng bị bỏ qua và được đánh giá là
14
rất hiếm trong các bộ sưu tập. Trong nghiên cứu này, tác giả cũng đề cập đến
7 loài thuộc giống Elaphropoda. Loài Elaphropoda magrettii được xác định
là loài Habropoda magrettii bởi Bigham (1897) và Habropoda fletcheri bởi
Cockerell (1920) [36]. Loài E. khasiana, E. moelleri, E. impatiens, E.
erratica, E. percarinata được xác định lần lượt là loài Habropoda fulvipes,
Habropoda moelleri, Habropoda impatiens, Habropoda erratica, Habropoda
percarinata, đồng thời, tác giả ghi nhận một loài mới E. bembidion ở Brunay
(Lieftinck, 1966) [65].
Các nghiên cứu của Lieftinck đã ghi nhận 40 loài thuộc giống Thyreus ở
khu vực phương Đông và Australia, đồng thời cung cấp các thông tin về mẫu,
sự phân bố, hình vẽ minh họa cho từng loài rất cụ thể, tác giả cũng đã tiến
hành nghiên cứu tiếp về giống Thyreus ở phương Tây và ghi nhận danh sách
thấy trong bất cứ bộ sưu tập nào kể cả mẫu trong bảo tàng Berlin, Đức. Trong
nghiên cứu này, tác giả cũng phát hiện loài Protomellisa tricolor là mới cho
khoa học, loài này chỉ thu được duy nhất một cá thể cái ở tỉnh Assam thuộc
phía đông bắc Ấn Độ bởi Bigham, khóa định loại giúp phân biệt 8 loài thuộc
giống Protomelissa đã được cung cấp (Eardly, 1991) [43].
Các nghiên cứu tiếp theo của Lieftinck (1974) [68] đã ghi nhận 21 loài
và phân loài thuộc giống Habropoda ở trung tâm và phía đông châu Á.
Trong đó phát hiện 8 loài mới cho khoa học là H. tumidifrons (ở phía nam
Việt Nam) và H. disconota (ở phía bắc Việt Nam), H. orbifrons (ở phía tây
bắc Thái Lan), H. apostasia (ở Nepal), H. pelmata (ở Nepal), H. imitatrix
(ở Trung Quốc), H. platufera (ở phía đông bắc Ấn Độ), H. apatelia (ở phía
bắc Ấn Độ và Nepal)
4 loài thuộc giống Amegilla của Hàn Quốc. Đồng thời, phát hiện một
loài mới Amegilla parhypate ở phía bắc của Hàn Quốc. Các loài Anthophora
caldwelli, Anthophora tsushimensis, Anthophora cingulate senahai lần lượt
được chuyển thành các loài Amegilla korotoensis, Amegilla florea, Amegilla
dulcifera (Lieftinck, 1975) [69]. Năm 1979, Wu đã phát hiện ra loài mới E.
nigrotarsa và E. tienmushanensis ở phía tây của Trung Quốc (Engel , 2007b;
Wu, 1979) [46], [108].
Các nghiên cứu của Engel (2014), Shiokawa và Hirashima (1982) [47],
[98] đã ghi nhận 3 loài của phân giống Ceratinidia thuộc giống Ceratina ở
khu vực Đông Á và mô tả chi tiết 2 loài mới Ceratina takasagona và Ceratina
maai. Loài Ceratina takasagona được thu ở độ cao trên 800 m ở Đài Loan và
hầu hết các cá thể của loài này đều đến thăm loài hoa đơn buốt (Bidens pilosa
var. albiflora). Loài Ceratina maai được thu ở độ cao 1000 m thuộc tỉnh
Fukien của Trung Quốc. Khóa định loại cho từng loài, ảnh minh họa cũng đã
được cugn cấp. Loài thuộc giống Thyreus từ Cameroon.