Thực hiện pháp luật về tự do tín ngưỡng, tôn giáo từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng (tt) - Pdf 46

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN NGỌC ANH TUẤN

THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ TỰ DO
TÍN NGƢỠNG, TÔN GIÁO TỪ THỰC TIỄN
THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

Chuyên ngành: Luật hiến pháp và Luật hành chính
Mã số: 60.38.01.02

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI, năm 2017
1


Công trình được hoàn thành tại
Học viện Khoa học Xã hội

Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: TS. NGUYỄN LINH GIANG

Phản biện 1: PGS.TS. Nguyễn Thị Việt Hương
Phản biện 2: PGS.TS. Lê Văn Long

Luận văn sẽ được bảo vệ trước hội đồng chấm luận văn
thạc sĩ họp tại Học viện khoa học xã hội 13 giờ 00 ngày 8 tháng
10 năm 2017.


truyền pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo có lúc, có nơi chưa thực sự
đồng bộ, kịp thời; nhận thức của một bộ phận người dân, tổ chức tôn
3


giáo, cán bộ, công chức, viên chức vẫn còn hạn chế; các cơ quan
quản lý còn thiếu gần gũi với tín đồ và chức sắc tôn giáo, nên không
kịp thời nắm bắt tâm tư nguyện vọng chính đáng của đồng bào. Vẫn
còn tình trạng cán bộ nhà nước không nắm vững tình hình tôn giáo ở
địa bàn, chưa dựa vào tổ chức tôn giáo và chức sắc tôn giáo ở cơ sở
để giải quyết những vấn đề phát sinh có liên quan đến tôn giáo. Một
số nơi, cơ quan quản lý nhà nước chưa hiểu đầy đủ do thiếu thông tin
và thiếu tầm nhìn bao quát về chính sách tôn giáo, dẫn đến tình trạng
xử lý các vấn đề máy móc, cảm tính chủ quan. Nhiều vấn đề lẽ ra cần
phải động viên khuyến khích, tạo điều kiện thuận lợi cho chức sắc,
nhà tu hành hoạt động thì lại gây khó dễ; ngược lại có những vấn đề
cần phải chủ động giải quyết kịp thời thì bỏ mặc, tạo nên sự phức tạp
không đáng có. Trình độ đội ngũ cán bộ cơ sở nói chung và cán bộ
được giao theo dõi quản lý hoạt động tôn giáo nói riêng còn hạn chế,
thiếu tính hệ thống, thiếu chuyên môn nghiệp vụ, thiếu kinh nghiệm
trong công tác tôn giáo; công tác đào tạo cán bộ quản lý nhà nước về
tôn giáo cũng chưa được chú trọng đúng mức. Còn chưa có sự thống
nhất trong cách xử lý một số vụ việc cụ thể liên quan đến tôn giáo;
công tác quản lý nhà nước hiện tập trung nhiều vào các tôn giáo đã
được Nhà nước công nhận. Việc ngăn chặn, đấu tranh với các tôn
giáo không hợp pháp và những hoạt động tôn giáo vi phạm pháp luật
còn bị động, tại nhiều thời điểm chưa khôn khéo, kịp thời. Tiến độ
giải quyết các thủ tục hành chính về lĩnh vực tôn giáo có lúc còn
chậm; việc phối hợp các cấp, các ngành xử lý các vấn đề nảy sinh
trong tôn giáo, liên quan đến các hoạt động đối nội, đối ngoại, kinh

đoạn từ khi có Nghị quyết 25-NQ/TW, ngày 12/3/2003, Nghị quyết
Hội nghị lần thứ 7 BCH Trung ương khóa IX về Công tác tôn giáo từ
năm 2003 đến nay.
5. Phƣơng pháp luận và phƣơng pháp nghiên cứu.
5.1. Phương pháp luận
Luận văn được nghiên cứu trên cơ sở phương pháp luận của
7


chủ nghĩa Mác – Lê nin và tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của
Đảng về Nhà nước và Pháp luật về tự do tín ngưỡng về tôn giáo.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn được nghiên cứu dựa trên phương pháp duy vật biện
chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác – Lênin. Trên cơ sở đó,
tác giả sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể như:
- Phương pháp phân tích, tổng hợp;
- Phương pháp thống kê, so sánh;
- Phương pháp tiếp cận hệ thống;
- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm;
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của Luận văn
6.1. Ý nghĩa lý luận của Luận văn
- Kết quả của Luận văn góp phần củng cố hệ thống lý luận về
thực hiện pháp luật về tự do tín ngưỡng, tôn giáo, cũng như vấn đề về
khái niệm, đặc điểm, tính chất của các quyền tự do tín ngưỡng, tôn
giáo; khái niệm, đặc điểm, vai trò của thực hiện pháp luật về tự do tín
ngưỡng, tôn giáo; nội dung, hình thức, phương pháp thực hiện pháp
luật về tự do tín ngưỡng, tôn giáo; các điều kiện bảo đảm thực hiện
pháp luật về tự do tín ngưỡng, tôn giáo
- Luận văn nêu, phân tích quan điểm, chính sách, pháp luật của
Đảng và Nhà nước Việt Nam về tự do tín ngưỡng, tôn giáo; các yếu

ngƣỡng, tôn giáo
1.1.1. Khái niệm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo
Theo Từ điển Luật học (Viện Khoa học pháp lý, Bộ Tư pháp Nhà Xuất bản Tư pháp, Nhà Xuất bản từ điển Bách khoa), “quyền” là
khái niệm khoa học pháp lí, dùng để chỉ những điều mà pháp luật
9


công nhận và bảo đảm thực hiện đối với cá nhân, tổ chức để theo đó
cá nhân được hưởng, được làm, được đòi hỏi mà không ai được ngăn
cản, hạn chế.
Tôn giáo là một hiện tượng xã hội ra đời rất sớm trong lịch sử
nhân loại và tồn tại phổ biến ở hầu hết các cộng động người trong
lịch sử hàng ngàn năm qua. Về cơ bản, bất cứ tôn giáo nào, với hình
thái phát triển đầy đủ của nó cũng đều bao gồm hai bộ phận cấu
thành là ý thức tôn giáo (thể hiện ở quan niệm về các đấng thiêng
liêng cùng những tín ngưỡng tương ứng) và hệ thống tổ chức tôn giáo
với những hoạt động mang tính chất nghi thức tín ngưỡng của nó.
Tôn giáo là sản phẩm của con người, gắn với những điều kiện tự
nhiên và lịch sử cụ thể, xác định.
Từ những phân tích trên, có thể hiểu quyền tự do tín ngưỡng,
tôn giáo là quyền được theo đuổi, thực hiện các hành vi tín ngưỡng,
tôn giáo của cá nhân, cộng đồng một cách tự do. Quyền này cũng bao
hàm cả ý nghĩa tự do thay đổi, theo hoặc không theo một tín ngưỡng,
tôn giáo nào đó.
1.1.2. Đặc điểm của quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo
Thứ nhất, quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo là quyền dân sự
gắn liền với cá nhân, không thể chuyển giao cho chủ thể khác và
không thể là đối tượng trong các giao dịch dân sự giữa các cá
nhân.Thứ hai, mọi cá nhân đều có sự bình đẳng về quyền tự do tín
ngưỡng, tôn giáo.Thứ ba, quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo là quyền

chức, cá nhân trong xã hội đều phải nghiêm chỉnh thực hiện pháp luật về
quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo.
Thứ hai, thực hiện pháp luật về quyền tự do tín ngưỡng, tôn
giáo là hoạt động có mục đích nhằm hiện thực hóa các quy định của
pháp luật về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo.
Thứ ba, thực hiện pháp luật về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo
11


được tiến hành thông qua nhiều hình thức, quy trình khác nhau như tuân
thủ pháp luật, thi hành pháp luật, sử dụng pháp luật, áp dụng pháp luật
về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo.
1.2.3. Vai trò của thực hiện pháp luật về tự do tín ngưỡng,
tôn giáo
Thứ nhất, giúp các cơ quan, tổ chức, cá nhân nhận thức đúng
đắn, đầy đủ hơn về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của mình. Về
nguyên tắc, để thực hiện pháp luật về tự do tín ngưỡng, tôn giáo thì
trước hết các chủ thể pháp luật phải nhận thức đúng đắn, hiểu biết đầy
đủ về các quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của mình. Thứ hai, thực hiện
pháp luật về tự do tín ngưỡng, tôn giáo sẽ giúp các chủ thể hiểu rõ bản
chất, tầm quan trọng của quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và vai trò, ý
nghĩa của việc thực hiện các quyền này. Thứ ba, từ sự nhận thức, hiểu
biết về vai trò, ý nghĩa cũng như các quy định của pháp luật về tự do
tín ngưỡng, tôn giáo, các chủ thể sẽ chủ động, tích cực hơn trong việc
tuân thủ, thi hành, chấp hành và sử dụng pháp luật để bảo vệ các lợi
ích của Nhà nước, cộng đồng và các quyền, lợi ích hợp pháp của
người dân.Thứ tư, khi quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo được bảo
đảm thì quyền và lợi ích hợp pháp của các cơ quan, tổ chức, cá nhân
cũng được bảo đảm.Thứ năm, thực hiện pháp luật về tự do tín ngưỡng, tôn
giáo là động lực, công cụ để xác định định hướng hoàn thiện hệ thống pháp

hiện pháp luật trong đó các chủ thể thực hiện các nghĩa vụ pháp lý
của mình bằng hành động tích cực. Thứ ba, áp dụng pháp luật về tự
do tín ngưỡng, tôn giáo. Thứ tư, sử dụng pháp luật về tự do tín
ngưỡng, tôn giáo: Là hình thức thực hiện pháp luật trong đó các chủ
thể thực hiện quyền chủ thể của mình, tức là thực hiện những hành vi
mà pháp luật về tự do tín ngưỡng, tôn giáo cho phép.
1.3.3. Phương thức thực hiện
1.3.1.1. Ban hành văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi
13


1.3.1.2. Tuyên truyền, phổ biến về Luật tín ngưỡng, tôn giáo
1.3.1.3. Các điều kiện đảm bảo thi hành Luật
1.3.1.4. Tác động chính sách của Luật đến người dân, xã hội
1.3.4. Chủ Thể và tổ chức thực Hiện Pháp Luật về tự do tín
ngưỡng tôn giáo
1.3.5. Chủ Thể tổ chức Thực hiện Pháp Luật về tự do tín
ngưỡng tôn giáo
1.4. Các điều kiện bảo đảm thực hiện pháp luật về tự do tín
ngƣỡng, tôn giáo
1.4.1. Điều kiện chính trị
Điều kiện chính trị được bảo đảm ở mức độ cao thì sẽ góp
phần thúc đẩy sự phát triển của tín ngưỡng, tôn giáo theo chiều
hướng ổn định, gắn với mục tiêu, định hướng của Đảng và Nhà nước
đề ra.
Tự do tín ngưỡng, tôn giáo đặt trong mối quan hệ với điều kiện
chính trị luôn được xem là vấn đề phức tạp và tương đối nhạy cảm.
1.4.2. Điều kiện pháp luật
Thực hiện pháp luật là hoạt động có ý nghĩa, quyết định hiệu lực,
hiệu quả của văn bản quy phạm pháp luật được ban hành. Những phản

trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về
tín ngưỡng, tôn giáo. Qua 05 năm thực hiện Nghị định số
92/2012/NĐ-CP của Chính phủ, các ngành, các cấp đã có nhiều nỗ
lực và đạt được một số kết quả quan trọng..
Chƣơng 2
THỰC TRẠNG THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ TỰ DO TÍN
NGƢỠNG, TÔN GIÁO TẠI THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
2.1. Quan điểm, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà
nƣớc Việt Nam về tự do tín ngƣỡng, tôn giáo
15


2.1.1. Quan điểm, chính sách của Đảng Cộng sản Việt Nam
về tự do tín ngưỡng, tôn giáo
Quan điểm, chính sách tôn giáo của Đảng Cộng sản Việt Nam
được xây dựng một mặt dựa trên quan điểm cơ bản của học thuyết MácLênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về tín ngưỡng, tôn giáo; mặt khác căn cứ
vào đặc điểm tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam.
Thứ nhất, tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn
giáo và không tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân theo quy định của
pháp luật.Thứ hai, chủ động phòng ngừa với những hành vi lợi dụng
tín ngưỡng, tôn giáo để mê hoặc, chia rẽ, phá hoại khối đoàn kết dân
tộc. Thứ ba,tôn trọng những giá trị đạo đức, văn hóa tốt đẹp của các
tôn giáo. Thứ tư, động viên các tổ chức tôn giáo sống tốt đời, đẹp
đạo, tham gia đóng góp tích cực cho công cuộc xây dựng và bảo vệ
Tổ quốc.Thứ năm, quan tâm và tạo mọi điều kiện cho các tổ chức tôn
giáo sinh hoạt theo hiến chương, điều lệ của các tổ chức tôn giáo đã
được nhà nước công nhận, đúng quy định của pháp luật. Thứ sáu,
tiếp tục hoàn thiện chính sách, pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo phù
hợp với quan điểm của Đảng trong giai đoạn mới của đất nước.
2.1.2. Quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về tự do

Thành phố Đà Nẵng có diện tích tự nhiên là 1.283,42 km2;
trong đó, các quận nội thành chiếm diện tích 241,51 km2, các huyện
ngoại thành chiếm diện tích 1.041,91 km2. Thành phố Đà Nẵng gồm
vùng đất liền và vùng quần đảo trên biển Đông. Vùng đất liền nằm ở
15055' đến 16014' vĩ độ Bắc, 107018' đến 108020' kinh độ Đông,
Bắc giáp tỉnh Thừa Thiên - Huế, Tây và Nam giáp tỉnh Quảng Nam,
Đông giáp Biển Đông. Nằm ngay trên một trong những tuyến đường
biển và đường hàng không quốc tế, thành phố Đà Nẵng có một vị trí
địa lý đặc biệt thuận lợi cho sự phát triển nhanh chóng và bền vững.
2.2.1.2. Đặc điểm kinh tế - xã hội
17


Với vị trí địa lý và đặc điểm tự nhiên như đã nêu ở trên, Đà
Nẵng có những ưu thế nhất định về kinh tế - xã hội. Cụ thể:
* Về vị trí chiến lược
* Về cơ sở hạ tầng
* Về kinh tế và du lịch
* Về nguồn nhân lực
* Về môi trường đầu tư
2.2.1.3. Đặc điểm về văn hóa
Đây là những yếu tố văn hóa lịch sử hình thành nên đặc thù
trong tín ngưỡng, tôn giáo của thành phố Đà Nẵng.
2.2.2. Tình hình hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo tại thành
phố Đà Nẵng
Đến năm 2016, trên địa bàn Thành phố có 11 tổ chức tôn giáo
được Nhà nước công nhận (Phật giáo, Công giáo, Hội thánh Tin lành
Việt Nam (miền Nam), Hội Truyền giáo Cơ đốc Việt Nam, Giáo hội
Cơ đốc phục lâm Việt Nam, Hội thánh Bắp tít Việt Nam (Nam
Phương), Hội thánh Truyền giáo Cao đài, Họ đạo Cao đài Hòa Phong

về tín ngưỡng, tôn giáo, phù hợp với tình hình và điều kiện thực tế tại
địa phương
2.3.1.2. Công tác quán triệt, phổ biến, tuyên truyền pháp luật
về tự do tín ngưỡng, tôn giáo
Để triển khai thi hành pháp luật về tự do tín ngưỡng, tôn giáo,
UBND thành phố Đà Nẵng đã chỉ đạo chặt chẽ các sở, ban, ngành,
đoàn thể; các quận, huyện xây dựng kế hoạch và tổ chức tuyên
truyền, phổ biến các chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của
Nhà nước về công tác tôn giáo, đặc biệt là quy định của Pháp lệnh
Tín ngưỡng, tôn giáo và Nghị định 22/2005/NĐ-CP ngày 01/3/2005
của Chính phủ hướng dẫn thi hành một số điều của Pháp lệnh tín
ngưỡng, tôn giáo. Đối tượng phổ biến là cán bộ, công chức các cơ
19


quan từ tỉnh, huyện, đến cơ sở và quần chúng nhân dân, chức sắc nhà
tu hành, tín đồ các tôn giáo trên địa bàn Thành phố.
2.3.1.3. Công tác quản lý hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên
địa bàn
* Công tác quản lý hoạt động tín ngưỡng
* Công tác quản lý hoạt động tôn giáo
2.3.1.4. Công tác xử lý vi phạm pháp luật về tín ngưỡng, tôn
giáo
Trên cơ sở các quy định của pháp luật hiện hành, chính quyền
thành phố Đà Nẵng đã kịp thời phát hiện và xử lý nghiêm minh các
hành vi vi phạm pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo xảy ra trên địa bàn,
qua đó góp phần duy trì trật tự xã hội, bảo đảm cho các quan hệ xã
hội về tín ngưỡng, tôn giáo phát triển theo đúng định hướng, mục tiêu
mà Nhà nước đặt ra.
2.3.2. Tồn tại, hạn chế và nguyên nhân

nhiều bất cập, vướng mắc, đặc biệt là quy định của Pháp lệnh tín
ngưỡng, tôn giáo.
* Nhận thức của một bộ phận cán bộ, công chức, của các tổ
chức tôn giáo, tín đồ tôn giáo và của các cơ quan, tổ chức, cá nhân có
liên quan về vai trò của tự do tín ngưỡng, tôn giáo và các quy định
của pháp luật về tự do tín ngưỡng, tôn giáo còn hạn chế.
* Đội ngũ cán bộ, công chức làm công tác tôn giáo còn hạn
chế về số lượng và chất lượng; hầu hết đều không được đào tạo
chuyên sâu về công tác tôn giáo; một bộ phận cán bộ, công chức
chưa qua lớp bồi dưỡng nghiệp vụ công tác tôn giáo, chưa có kinh
nghiệm nên công tác tham mưu, đề xuất giải quyết, xử lý một số vụ
việc chưa hiệu quả.
* Việc tranh thủ vai trò của các chức sắc, chức việc còn hạn
chế, lãnh đạo chính quyền một số nơi còn e ngại, chưa tự tin khi tiếp
21


xúc với chức sắc, chức việc, dẫn đến chưa phát huy đầy đủ, mạnh mẽ
vai trò của các chủ thể này trong việc nâng cao hiệu quả thực hiện
pháp luật về tự do, tín ngưỡng trên địa bàn.
* Kinh phí tổ chức triển khai, thi hành các văn bản quy phạm
pháp luật còn hạn chế. Kinh phí để triển khai, tuyền truyền các văn
bản quy phạm pháp luật cho đội ngũ cán bộ làm tôn giáo, chức sắc
các tôn giáo đều do địa phương chủ động tự cân đối.
CHƢƠNG 3
QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP TĂNG CƢỜNG THỰC HIỆN
PHÁP LUẬT VỀ TỰ DO TÍN NGƢỠNG, TÔN GIÁO TỪ
THỰC TIỄN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
3.1. Dự báo tình hình
- Các thế lực thù địch tiếp tục triển khai chiến lược “diễn biến

trong đó có lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo.
Hai là, mọi chủ thể đều có nghĩa vụ phải chấp hành pháp luật về
tự do tín ngưỡng, tôn gián, bình đẳng trước pháp luật.
Ba là, giải quyết vấn đề tôn giáo phải dựa trên yêu cầu, nhiệm
vụ chính trị là chính; phải vận dụng đường lối của Đảng về vấn đề
dân tộc, tôn giáo, quốc tế một cách sáng tạo trong khi áp dụng các
biện pháp pháp luật.
Bốn là, gắn kết giữa công tác xây dựng pháp luật và thực hiện
pháp luật về tự do tín ngưỡng, tôn giáo, bảo đảm pháp luật về tự do
tín ngưỡng, tôn giáo được triển khai có hiệu quả trong thực tiễn và
kết quả của việc thực hiện pháp luật sẽ góp phần cho việc xây dựng,
hoàn thiện pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo.
Năm là, coi trọng công tác vận động quần chúng, tôn trọng đức
tin và vấn đề sinh hoạt tôn giáo hợp pháp của công dân trong quá
trình thực hiện pháp luật về tự do tín ngưỡng, tôn giáo.
3.3. Giải pháp tăng cƣờng thực hiện pháp luật về tự do tín
23


ngƣỡng, tôn giáo từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng
3.3.1. Tiếp tục xây dựng, hoàn thiện, nâng cao chất lượng hệ
thống pháp luật về tự do tín ngưỡng, tôn giáo đáp ứng yêu cầu hội
nhập quốc tế cũng như phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội của
Việt Nam nói chung và thành phố Đà Nẵng nói riêng
Xây dựng pháp luật là bước khởi đầu để tạo ra sản phẩm là
pháp luật. Sau khi tạo ra pháp luật thì cần phải tổ chức thực hiện
pháp luật, nhằm đưa pháp luật đi vào thực tiễn cuộc sống. Hiệu quả
của hoạt động xây dựng pháp luật, chất lượng của văn bản quy phạm
pháp luật sẽ tác động đến hiệu quả hoạt động thực hiện pháp luật.
Chất lượng hệ thống pháp luật được nâng cao sẽ tạo điều kiện cho

tập, nâng cao trình độ hiểu biết về văn hóa, pháp luật; nâng cao trình độ
học vấn, năng lực chuyên môn nghiệp vụ
3.3.4. Nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động quản lý nhà
nƣớc về hoạt động tín ngƣỡng, tôn giáo
Thứ nhất, củng cố, kiện toàn tổ chức bộ máy làm công tác
quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo của thành phố Đà Nẵng.
Thứ hai, về đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ làm công tác tôn giáo
đáp ứng yêu cầu công tác quản lý nhà nước về tôn giáo và công tác tôn
giáo. Thứ ba, hoàn thiện cơ chế phối hợp giữa các cơ quan, đơn vị, tổ
chức liên quan trong quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo. Thứ tư,
nâng cao hiệu quả công tác thanh tra, kiểm tra, xử lý các hành vi vi phạm
pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo trên địa bàn thành phố Đà Nẵng. Công
tác thanh tra, kiểm tra cần bám sát những nhiệm vụ trọng tâm của cấp ủy,
chính quyền, tránh chồng chéo, trùng lặp. Thứ năm, tăng cường, bố trí
kinh phí đầy đủ, kịp thời, bảo đảm điều kiện cơ sở vật chất - kỹ thuật,
trang thiết bị, phương tiện phục vụ cho việc thực hiện công tác quản lý nhà
nước về tôn giáo. Thứ sáu, tạo điều kiện cho các tổ chức tôn giáo sinh hoạt
theo hiến chương, điều lệ của tổ chức tôn giáo đã được Nhà nước công
nhận theo quy định của pháp luật. Thứ bảy, chú trọng công tác đối ngoại
tôn giáo. Theo đó, cần nghiên cứu, xem xét mở rộng mặt trận đối ngoại
25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status