TRƢỜNG ĐẠI HỌC QUẢNG BÌNH
KHOA GIÁO DỤC THỂ CHẤT - QP
-------- ---------
GIÁO TRÌNH
(Lưu hành nội bộ)
LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP GIÁO DỤC
THỂ CHẤT
(Dành cho sinh viên ngành Sinh – Thể dục hệ Cao đẳng)
Tác giả: GVC.TS TRẦN THỦY
Năm 2015
1
MỤC LỤC
CHƢƠNG 1. NHẬP MÔN VỀ LÝ LUẬN VÀ PHƢƠNG PHÁP GIÁO DỤC
THỂ CHẤT .............................................................................................................. 5
1.1. KHÁI NIỆM THỂ DỤC THỂ THAO .......................................................... 5
1.2. MỘT SỐ KHÁI NIỆM CƠ BẢN LIÊN QUAN CHẶT CHẼ VỚI TDTT .. 7
1.3. ĐỐI TƢỢNG NGHIÊN CỨU CỦA LÝ LUẬN VÀ PHƢƠNG PHÁP
GIÁO DỤC THỂ CHẤT ................................................................................... 10
1.4. NGUỒN GỐC VÀ CÁC GIAI ĐOẠN CỦA LÝ LUẬN VÀ PHƢƠNG
PHÁP GDTC...................................................................................................... 11
1.5. MỐI QUAN HỆ CỦA LÝ LUẬN VÀ PHƢƠNG PHÁP TDTT VỚI CÁC
MÔN KHOA HỌC KHÁC ................................................................................ 13
CHƢƠNG 2. BẢN CHẤT CỦA THỂ DỤC THỂ THAO .................................... 15
2.1. TDTT LÀ MỘT HIỆN TƢỢNG CỦA ĐỜI SỐNG XÃ HỘI .................... 15
2.2. CÁC KHUYNH HƢỚNG CƠ BẢN CỦA THỂ DỤC THỂ THAO ......... 17
5.3.2. PHƢƠNG PHÁP GIÁO DỤC SỨC NHANH .................................... 49
5.3.3. PHƢƠNG PHÁP GIÁO DỤC SỨC BỀN ........................................... 52
5.3.4. PHƢƠNG PHÁP GIÁO DỤC NĂNG LỰC PHỐI HỢP VẬN ĐỘNG
........................................................................................................................ 59
CHƢƠNG 6. HỆ THỐNG GIÁO DỤC THỂ CHẤT............................................ 62
TRONG TRƢỜNG HỌC ...................................................................................... 62
6.1. NHÀ TRƢỜNG, CƠ SỞ GIÁO DỤC ........................................................ 62
6.2. GIÁO VIÊN THỂ DỤC THỂ THAO ......................................................... 62
6.3. CÁC ĐIỀU KIỆN ĐẢM BẢO CHO GIÁO DỤC THỂ CHẤT................. 64
6.4. QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ GIÁO DỤC ................................................. 66
6.5. XÃ HỘI HOÁ VỀ GIÁO DỤC VÀ THỂ DỤC THỂ THAO .................... 68
CHƢƠNG 7. MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ CỦA GIÁO DỤC THỂ CHẤT
TRONG TRƢỜNG PHỔ THÔNG ........................................................................ 69
7.1. MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ ..................................................................... 69
7.2. CÁC HÌNH THỨC GIÁO DỤC THỂ CHẤT ............................................ 70
7.3. KẾ HOẠCH GIẢNG DẠY ........................................................................ 72
7.4. GIÁO ÁN VÀ BÀI SOẠN ......................................................................... 74
7.5. KIỂM TRA VÀ ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ ................................................... 74
3
LỜI NÓI ĐẦU
Giáo trình Lý luận và phƣơng pháp giáo dục thể chất là môn học thuộc kiến thức
chuyên ngành, chuyên nghiên cứu về lý luận và phƣơng pháp giảng dạy Thể dục ở bậc
trung học cơ sở cũng nhƣ phƣơng pháp huấn luyện các môn thể thao cơ bản dành cho
sinh viên ngành Giáo dục thể chất (môn 2) trong các trƣờng Đại học, Cao đẳng có đào
tạo giáo viên. Giáo trình đƣợc biên soạn dựa trên chƣơng trình chi tiết môn học của
Trƣờng đại học Quảng Bình với mục đích nhằm cung cấp cho sinh viên những kiến thức
chung về các khái niệm có liên quan đến thể dục thể thao, cấu trúc chƣơng trình bậc
văn hoá, thuật ngữ TDTT đƣợc dùng từ xƣa đến nay ở Việt Nam chƣa đƣợc xác định
nội dung cụ thể. Trong nhiều tài liệu ngƣời ta viết thuật ngữ TDTT đang dùng hiện nay
đồng nghĩa với thuật ngữ Physical culture có nghĩa là văn hoá thể chất (VHTC).
Để hiểu sâu sắc về văn hoá thể chất trƣớc hết phải hiểu rõ khái niệm văn hoá:
bản thân thuật ngữ văn hoá cũng có nhiều nghĩa. Văn hoá trong đời sống xã hội thông
thƣờng đƣợc chỉ những hoạt động tinh thần của con ngƣời và xã hội. Trong đời sống
hàng ngày văn hoá dùng để chỉ trình độ học vấn. Văn hoá còn dùng để chỉ hành vi, cách
ứng xử văn minh....
Trong những tài liệu đƣợc tra cứu, văn hoá đƣợc xác định là hoạt động sáng tạo
trong đó ngƣời ta sử dụng những di sản văn hoá nhân loại và tạo ra những di sản văn
hoá mới.
* Theo quan điểm triết học: Văn hoá là tổng hoà giá trị vật chất và tinh thần cũng
nhƣ các phƣơng thức tạo ra chúng.
Văn hoá còn chỉ sự truyền thụ lại những di sản văn hoá từ thế hệ này sang thế hệ
khác.
Trong triết học ngƣời ta chia văn hoá thành 2 lĩnh vực cơ bản:
Văn hoá vật chất: là toàn bộ những giá trị sáng tạo của con ngƣời đƣợc thể hiện
trong các của cải vật chất do xã hội tạo ra, kể từ các tƣ liệu sản xuất đến các tƣ liệu tiêu
dùng của xã hội.
Văn hoá tinh thần: là toàn bộ những giá trị của đời sống tinh thần, bao gồm khoa
học và mức độ áp dụng các thành tựu của khoa học vào sản xuất và sinh hoạt, trình độ
học vấn, tình trạng giáo dục, y tế nghệ thuật, chuẩn mực đạo đức trong hành vi của các
thành viên xã hội, trình độ phát triển nhu cầu của con ngƣời... Văn hoá tinh thần còn
đƣợc trầm tích trong hình thức "vật thể". Ranh giới giữa văn hoá vật chất và văn hoá
tinh thần chỉ có tính chất tƣơng đối.
Văn hoá có tính khách quan, hiểu theo nghĩa rộng là tổng hoà những giá trị vật
chất và tinh thần của con ngƣời, văn hoá là một biểu hiện xã hội không chỉ bao quát quá
khứ hiện tại mà còn trải rộng trong tƣơng lai. Văn hoá đó thuộc tính bản chất, tộc loài
con ngƣời với chức năng: giáo dục, nhận thức, định hƣớng, đánh giá, xác định chuẩn
mực của hành vi, điều chỉnh các quan hệ ứng xử giao tiếp. Song cốt lõi là đem lại chủ
dụng sự hoạt động của cơ bắp trong nhiều hoạt động khác nhau, nhƣng không phải tất cả
các hình thức vận động đó đều thuộc về văn hoá thể chất, mà chỉ có những hành động
vận động đƣợc lựa chọn để hình thành kỹ năng, kỹ xảo vận động cần thiết cho cuộc
sống (kỹ năng sống) cho việc phát triển các tố chất thể lực, phát triển trạng thái sức
khoẻ, tăng khả năng làm việc mới thuộc về văn hoá thể chất.
Trong trƣờng hợp này thành phần cơ bản của văn hoá thể chất là các bài tập thể
chất. Bài tập chất có nguồn gốc từ lao động, nó ra đời từ cổ xƣa và chúng mang tính
thực dụng trực tiếp.
Cùng với sự phát triển của xã hội loài ngƣời, nhiều hình thức vận động mới đƣợc
sáng tạo để đáp ứng cho nhu cầu giải quyết các nhiệm vụ văn hoá giáo dƣỡng, giáo dục
tăng cƣờng sức khoẻ (trò chơi, thể dục, thể thao..). Những hình thức vận động tuy không
liên quan trực tiếp lao động nhƣng chúng luôn là phƣơng tiện có hiệu lực trong quá trình
chuẩn bị lao động.
Nhƣ vậy, với quan điểm này thì TDTT (VHTC)là một hoạt động chuẩn bị. Kết
quả của hoạt động này là trình độ chuẩn bị thể lực, nó là cơ sở cho việc tiếp thu có kết
quả các thao tác lao động; giúp cho lao động có năng suất cao và đáp ứng việc giải
quyết các nhiệm vụ thực tiễn đòi hỏi có kỹ năng, kỹ xảo vận động hoàn thiện, có tố chất
thể lực phát triển, có khả năng làm việc cao.
1.1.2. Văn hoá thể chất (TDTT) là tổng hợp những giá trị vật chất và tinh thần
Trong quá trình chinh phục tự nhiên, con ngƣời không chỉ tạo ra những giá trị sử
dụng trực tiếp mà còn để lại các kinh nghiệm, công cụ, phƣơng pháp... có ý nghĩa nhƣ
những di sản, đánh giá trình độ văn minh của mỗi giai đoạn phát triển lịch sử xã hội loài
ngƣời.
6
Quá trình phát sinh và phát triển lâu dài của TDTT từng địa phƣơng, quốc gia
đều gắn với điều kiện lịch sử cụ thể từ đó mà tạo nên truyền thống, nét độc đáo riêng
của thế giới loài ngƣời. Tách rời điều kiện lịch sử cụ thể đó sẽ không lý giải đƣợc sự
phát triển trong quá khứ cũng nhƣ dự đoán triển vọng của TDTT. Vì vậy, ngoài ý nghĩa
trung tâm, rộng và quan trọng nhất của lý luận và phƣơng pháp TDTT.
Khái niệm TDTT (VHTC): là một bộ phận của nền văn hoá xã hội, một loại hình
hoạt động mà phƣơng tiện cơ bản là các bài tập TDTT (thể hiện cụ thể qua cách thức rèn
luyện thân thể) nhằm nâng cao và hoàn thiện thể chất, nâng cao thành tích thể thao, góp
phần làm phong phú sinh hoạt văn hoá và giáo dục con ngƣời phát triển cân đối hợp lý.
1.2. MỘT SỐ KHÁI NIỆM CƠ BẢN LIÊN QUAN CHẶT CHẼ VỚI TDTT
1.2.1. Khái niệm Phát triển thể chất (PTTC)
7
Phát triển thể chất là một quá trình hình thành, biến đổi tuần tự theo quy luật
trong suốt cuộc đời của mỗi con ngƣời (tƣơng đối lâu dài) về hình thái, chức năng và cả
những tố chất thể lực và có ảnh hƣởng trực tiếp đến khả năng hoạt động thân thể và trí
tuệ của mỗi ngƣời.
Sự phát triển thể chất biểu hiện ra bên ngoài nhƣ thay đổi về chiều cao, cân nặng,
thay đổi về hình thái, kích thƣớc cơ thể và các tố chất thể lực nhƣ: nhanh, mạnh, bền....
Sự phát triển thể chất diễn ra dƣới ảnh hƣởng của ba nhân tố: Bẩm sinh - di
truyền; môi trƣờng; giáo dục.
Bẩm sinh - di truyền : Sự phát triển thể chất trƣớc hết là quá trình tự nhiên, nó
tuân thủ những quy luật tự nhiên, quy luật sinh học (phát triển theo lứa tuổi, giới tính).
Sự phát triển ấy do ghen quy định (bẩm sinh, di truyền). Những qui luật thay đổi về hình
thái dẫn đến sự thay đổi về chức năng, sự thay đổi về số lƣợng dẫn đến sự thay đổi về
chất lƣợng. Yếu tố bẩm sinh, di truyền là tiền đề vật chất cho sự phát triển.
Môi trường: Sự phát triển thể chất của con ngƣời chịu sự chi phối của những nhân
tố xã hội, trong chừng mực nhất định thì xu hƣớng và tốc độ phát triển phụ thuộc vào
điều kiện sống, điều kiện lao động, nghỉ ngơi có ảnh hƣởng tới sự phát triển thể chất
một cách tự phát.
Giáo dục: Nhân tố giáo dục tác động tới sự phát triển thể chất một cách chủ động
tích cực, nó quyết định xu hƣớng của sự phát triển và tốc độ phát triển. Về bản chất,
giáo dục là một quá trình điều khiển về sự phát triển thể chất.
đồng nhất và quan hệ có khác biệt trong các giai đoạn phát triển thể chất và giáo dục thể
chất khác nhau.
Nhƣ vậy, GDTC là một loại giáo dục có nội dung đặc trƣng là dạy học động tác
và giáo dục các tố chất vận động của con ngƣời. Trong hệ thống giáo dục, nội dung đặc
trƣng của GDTC đƣợc gắn liền với trí dục, đạo đức, mỹ dục và lao động. Trong hệ
thống ấy thì GDTC là một trong những nhân tố giáo dục toàn diện nhân cách.
* Mối quan hệ giữa GDTC và TDTT
Nếu so sánh khái niệm GDTC và TDTT ta thấy chúng có mối quan hệ rất chặt
chẽ với nhau. GDTC là hình thức cơ bản sử dụng những giá trị văn hoá thể chất trong hệ
thống giáo dục.
Thực tiễn, GDTC trong xã hội là con đƣờng để truyền thụ những giá trị văn hoá
thể chất từ thế hệ này cho thế hệ khác đồng thời cũng là một trong những con đƣờng
làm tăng thêm những giá trị văn hoá, vì thế hệ mới không tiếp thu một cách đơn giản
những gì đã có trƣớc đó, họ sẽ phát triển chúng lên để đạt tới những thành tựu mới.
1.2.3. Khái niệm phong trào TDTT
Phong trào TDTT là một phong trào xã hội mà trong đó con ngƣời hoạt động
thống nhất để sử dụng và phát triển những di sản văn hoá thể chất. Trên thế giới phong
trào TDTT trở thành một trong những phong trào phát triển rộng rãi nhất, điển hình là
các câu lạc bộ, liên đoàn, hiệp hội và sự phát triển đó tuỳ thuộc vào nền kinh tế của mỗi
nƣớc.
Ở nƣớc ta có sự phát triển phong trào TDTT quần chúng gắn liền với sự nghiệp
xây dựng đất nƣớc thực hiện các nguyên tắc phát triển toàn diện cân đối và xu hƣớng
sức khoẻ thống nhất giữa hình thức tổ chức nhà nƣớc và quần chúng.
1.2.4. Khái niệm Thể thao
Trong thuật ngữ khoa học, ngƣời ta phân biệt khái niệm thể thao theo nghĩa rộng
và nghĩa hẹp.
Thể thao theo nghĩa hẹp: Thể thao (TT) là một hoạt động thi đấu. Hoạt động thi
đấu đƣợc hình thành trong quá trình phát triển lịch sử loài ngƣời chủ yếu trong lĩnh vực
VHTC dƣới dạng các cuộc thi nhằm trực tiếp biểu lộ những thành tích cao để phô diễn,
để so sánh và đánh giá những khả năng nhất định (sức mạnh, sức nhanh...).
xảo phong phú và những lĩnh vực tri thức liên quan để điều khiển mọi hoạt động của cơ
thể trong không gian và thời gian, biết sử dụng các kỹ năng, kỹ xảo vận động trong
những điều kiện sống và hoạt động khác nhau của con ngƣời.
1.3. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU CỦA LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP
GIÁO DỤC THỂ CHẤT
Mỗi lĩnh vực tri thức với tƣ cách là một bộ môn khoa học vốn sẵn có đối tƣợng
nghiên cứu cụ thể của mình: chủ thể và khách thể nghiên cứu. Nó phân biệt với các môn
khoa học khác bởi các đặc điểm của đối tƣợng nghiên cứu. Những tri thức tích luỹ đƣợc
trong quá trình nghiên cứu sẽ đƣợc sắp xếp thành một hệ thống nhất định và trở thành
một môn học riêng biệt - Trở thành đối tƣợng của giảng dạy.
Khách thể nghiên cứu: là các nhân tố sƣ phạm cần phải đƣợc nghiên cứu, nhƣ hệ
thống các bài tập thể chất, các phƣơng tiện và phƣơng pháp giảng dạy...
Chủ thể nghiên cứu: là con ngƣời thuộc mọi lứa tuổi và phản ứng của họ trong
khi thực hiện bài tập thể chất.
Nói tóm lại, trong công tác nghiên cứu của sƣ phạm, khách thể nghiên cứu không
thể tồn tại tách rời với chủ thể, mà ngƣợc lại tạo thành mối liên hệ thống nhất.
1.3.1. Đối tƣợng nghiên cứu của lý luận Thể dục thể thao
Nhằm xác định các quy luật chung GDTC với tƣ cách là một quá trình sƣ phạm
nhằm phát triển và hoàn thiện thể chất cho con ngƣời. Các quy luật chung này vốn là
đặc tính chuyên biệt của TDTT đối với mọi lứa tuổi, từ trẻ em đến ngƣời lớn tuổi, từ
ngƣời mới tập đến vận động viên.
Môn lý luận này đƣợc coi nhƣ là một lĩnh vực chuyên ngành của giáo dục học đại
cƣơng. Khác với các môn khoa học khác, lý luận TDTT nhận thức các quy luật chung
10
trong hệ thống GDTC, qua đó tiến hành việc điều khiển quá trình phát triển thể chất một
cách có chủ định và giáo dƣỡng thể chất cho con ngƣời. Chính điều đó đã xác định tính
đặc thù của đối tƣợng TDTT. Đồng thời nó còn nghiên cứu các mối liên hệ có tính quy
luật của TDTT đối với đạo đức, trí tuệ, thẩm mỹ và giáo dục lao động. Đó là sự gắn liền
khái quát thành lý luận và phƣơng pháp GDTC.
Cơ sở tƣ tƣởng của học thuyết giáo dục toàn diện. Những tƣ tƣởng tiến bộ về nội
dung và các con đƣờng phát triển con ngƣời toàn diện đã đƣợc các nhà triết học, các nhà
giáo dục, thầy thuốc của các nƣớc thuộc các thời đại khác nhau trình bày và chứng
minh. Những tƣ tƣởng ấy ngày nay đã đi vào lịch sử nhƣ là những học thuyết kinh điển
và tiến bộ, những quan điểm giáo dục cơ bản của các thời đại khác nhau.
Học thuyết Mác - Lênin về giáo dục Cộng sản chủ nghĩa không những đã chỉ rõ
quyền đƣợc phát triển toàn diện của con ngƣời, mà còn khám phá ra nội dung của nó và
đã chứng minh đƣợc con đƣờng thực hiện học thuyết ấy. Trên thế giới chƣa có một
11
phƣơng pháp lý luận nào có thể vách ra đƣợc con đƣờng đúng đắn đi đến chân lý hơn
phƣơng pháp luận chủ nghĩa Mác - Lênin. Và do đó học thuyết về giáo dục cộng sản
chủ nghĩa đã trở thành cơ sở vững chắc của lý luận TDTT.
Các cơ sở lý luận và tƣ tƣởng có tính chất nguyên tắc của lý luận TDTT Việt Nam
dựa trên những quan điểm triết học Mác- Lênin và các tƣ tƣởng Sƣ phạm của những
ngƣời sáng lập ra chủ nghĩa đó. Đồng thời cƣ xử tƣ tƣởng của lý luận TDTT Việt Nam
còn đƣợc định hƣớng bởi các Nghị quyết và cƣơng lĩnh của Đảng Cộng sản Việt Nam
cũng nhƣ những chỉ thị và lời dạy của Hồ chủ tịch về các vấn đề giáo dục nói chung và
giáo dục thể chất nói riêng, dựa trên những cơ sở đó mà nghiên cứu giáo dục thể chất
nƣớc ta.
1.4.2. Các giai đoạn của lịch sử lý luận thể dục thể thao
Giai đoạn 1
Tiếp thu những tri thức có tính chất kinh nghiệm về ảnh hƣởng của các động tác
nhờ kết quả thực tiễn hàng ngày.
Tích luỹ tri thức mang tính chất kinh nghiệm ấy nâng lên thành ý thức đƣợc hiệu
quả của việc tập luyện và nhận thức đƣợc các phƣơng tiện và sự truyền đạt kinh nghiệm.
=>Đó là một trong những tiền đề làm xuất hiện các bài tập thể chất và cùng với nó
là GDTC ra đời.
Ở Việt Nam- sau ngày cách mạng thành công, đặc biệt sau ngày hoà bình lập lại
1954, TDTT mới có điều kiện phát triển mạnh mẽ. Đặc trƣng của giai đoạn này là phát
triển mạnh mẽ khoa học về TDTT dƣới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Nhiều công trình nghiên cứu đƣợc tiến hành trên cơ sở phƣơng pháp luận biện chứng và
duy vật.
1.5. MỐI QUAN HỆ CỦA LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP TDTT VỚI CÁC
MÔN KHOA HỌC KHÁC
Trong quá trình phát triển lịch sử của mình, thực tiễn của hoạt động TDTT đã tạo
điều kiện cho việc xuất hiện hàng loạt các bộ môn khoa học chuyên ngành đi sâu nghiên
cứu bản chất của hiện tƣợng TDTT, nhằm khám phá một cách toàn diện các quy luật
của quá trình đó, cung cấp những tri thức về phƣơng pháp và phƣơng tiện có hiệu quả
nhất để tác động đúng hƣớng đối với sự phát triển của con ngƣời và do đó soi đƣờng đi
cho thực tiễn.
Ngày nay đã hình thành một tổ hợp các bộ môn khoa học mà đối tƣợng là nhằm
nghiên cứu chính bản thân TDTT, cũng nhƣ các hiện tƣợng có liên quan trực tiếp đến
quá trình đó. Về phần mình, lý luận và phƣơng pháp TDTT khi giải quyết các vấn đề
chuyên môn sƣ phạm lại phải dựa vào các khoa học khác nhƣ Triết học, Tâm lý - Giáo
dục học, Sinh lý học, Sinh cơ...
Triết học đặt cơ sở phƣơng pháp luận cho lý luận TDTT, đó là chủ nghĩa duy vật
biện chứng và duy vật lịch sử. Nhờ đó mà các nhà khoa học mới có thể đánh giá một
cách khách quan sự tác động của các quy luật xã hội trong lĩnh vực văn hoá thể chất mới
có thể đi sâu vào bản chất của vấn đề, phân tích và khám phá ra quy luật phát triển của
TDTT. Trên cơ sở phƣơng pháp luận khoa học, các nhà chuyên môn đề ra các phƣơng
pháp tiến bộ nhất về GDTC và huấn luyện thể thao.
Lý luận và phƣơng pháp TDTT có liên quan chặt chẽ với giáo dục học đại cƣơng,
vận dụng một cách sáng tạo các thành tựu của nó vào trong lĩnh vực GDTC cho thanh,
thiếu niên. Mối quan hệ này đƣợc biểu hiện trong việc thống nhất nhiệm vụ giáo dục và
giáo dƣỡng thể chất, biến các nguyên tắc và phƣơng pháp chung thành nguyên tắc và
phƣơng pháp cụ thể mang tính đặc thù của TDTT.
Lý luận và phƣơng pháp vận dụng các kết quả nghiên cứu của tâm lý học đại
loài vật vậy nhƣ đi, chạy, nhảy...
Với lập luận này, trên thực tế họ đã phủ nhận vai trò của lao động và tƣ duy - một
hiện tƣợng mới về chất đã làm cho con ngƣời vƣợt hẳn lên trên tất cả các loài vật. Và
nhƣ vậy họ đã xuyên tạc mối quan hệ khăng khít giữa xã hội và giáo dục, xuyên tạc cả
nội dung giáo dục nữa. Vậy thì TDTT đƣợc hình thành và phát triển nhƣ thế nào?
Chúng ta hãy xem xét ở các góc độ khách quan và chủ quan để hiểu đƣợc vấn đề này
nhƣ sau:
2.1.1.1 Xét về mặt khách quan
Thời kỳ cổ sơ, con ngƣời đã sống thành từng bầy, sinh hoạt, lao động tập thể kiếm
ăn và chống chọi với thiên nhiên, dã thú. Trong một giai đoạn lịch sử lâu dài, phƣơng
thức sống bằng săn bắt, hái lƣợm là một cuộc "đọ sức", "thi đấu" giữa ngƣời với thiên
nhiên, với thú rừng về sức mạnh, sức nhanh, sức bền, sự khéo léo và cả ý chí nữa để tồn
tại, phát triển và bảo vệ chính bản thân mình.
Chính cuộc sống đó đã thúc đẩy mạnh mẽ mọi hoạt động cơ bản của con ngƣời,
đem lại cho họ những hiểu biết thực tế về thế giới xung quanh. Ngay việc sản xuất và sử
dụng công cụ lao động cũng đòi hỏi con ngƣời phải có thể lực. Đồng thời qua thực tế
cuộc sống đó, năng lực phối hợp vận động của con ngƣời cũng đƣợc phát triển.
2.1.1.2. Xét về mặt chủ quan
Sự xuất hiện của TDTT là kết quả của sự phát triển về mặt nhận thức xã hội của
con ngƣời. Khác hẳn với hoạt động bản năng của động vật, hoạt động của con ngƣời
hoàn toàn có ý thức. Nhờ vậy mà thế hệ sau đã học tập thế hệ trƣớc và kế thừa qua các
hình thức truyền thụ những tri thức, kỹ năng và kỹ xảo vận động.
Chính trong quá trình lao động và do yêu cầu của lao động mà con ngƣời đã nhận
thức đƣợc sự cần thiết của TDTT, sự cần thiết phải chuẩn bị trƣớc và chủ yếu về mặt
thể lực cho công việc lao động của mình. Những kinh nghiệm đƣợc lặp lại nhiều lần
trong cuộc sống thực tế đã làm cho con ngƣời nhận thức hiện tƣợng tập luyện.
Từ kinh nghiệm sử dụng công cụ lao động hàng ngày con ngƣời nhận thức đƣợc
rằng kết quả lao động phụ thuộc và sự tập luyện và sự chuẩn bị trƣớc những động tác
tƣơng tự với những động tác lao động. Và thế là bài tập thể chất sơ khai thƣờng đƣợc
lấy ngay từ những động tác lao động thực tế (chạy, nhảy, ném, leo trèo, mang vác...).
Hình thức và nội dung của TDTT với các nhiệm vụ xây dựng chủ nghĩa xã hội
(CNXH) và bảo vệ Tổ quốc. Nó có mối quan hệ chặt chẽ hữu cơ với các mặt giáo dục
tiến bộ khác. Kết hợp chặt chẽ giữa tính dân tộc và tính hiện đại, đảm bảo tính cân đối
giữa thể chất và tinh thần, giữa thể lực và trí lực của mỗi nhân cách.
2.2. CÁC KHUYNH HƯỚNG CƠ BẢN CỦA THỂ DỤC THỂ THAO
17
2.2.1. Chuẩn bị thể lực chung
Nhằm vào việc củng cố và tăng cƣờng sức khoẻ, nâng cao sức đề kháng đối với
bệnh tật và ngoại cảnh, tiếp thu đƣợc càng nhiều càng tốt các kỹ năng, kỹ xảo vận động,
phát triển các phẩm chất thể lực cơ bản, tạo cơ sở cho thể lực chung và cho huấn luyện
chuyên môn sau này.
Để chuẩn bị thể lực chung, tất cả các phƣơng tiện tập luyện bao gồm các BTTC
khác nhau, các yếu tố thiên nhiên và vệ sinh có lợi cho sức khoẻ đều đƣợc sử dụng.
Chuẩn bị thể lực chung đƣợc tiến hành trong tất cả các giai đoạn của GDTC, song
thƣờng là trong lĩnh vực GDTC ở trƣờng học, trong công tác TDTT quần chúng và
trong các hình thức cá nhân sử dụng các BTTC.
2.2.2. Chuẩn bị thể lực nghề nghiệp
Đó là quá trình chuyên môn hoá của GDTC, nhằm chuẩn bị thể lực cho các loại
hoạt động cụ thể về lao động, quân sự, thể thao... Trong đó ngƣời ta sử dụng chủ yếu
các bài tập thích hợp với các loại hoạt động nghề nghiệp. Việc chuẩn bị thể lực nghề
nghiệp sẽ có tác dụng tăng nhanh quá trình tiếp thu và hình thành các kỹ năng kỹ xảo
vận động, nâng cao năng suất lao động, làm tăng sức đề kháng của cơ thể đối với ảnh
hƣởng của các nhân tố không có lợi của ngoại cảnh.
2.2.3. Huấn luyện thể thao (HLTT)
Là một khuynh hƣớng đặc biệt của văn hoá thể chất. Nhiệm vụ của HLTT là nhằm
đạt đƣợc thành tích cao trong môn thể thao tự chọn. Trong quá trình GDTC, HLTT đƣợc
sử dụng rộng rãi ở các giai đoạn hoàn thiện các khả năng chức phận của cơ thể và cả
trong giai đoạn mà các thành tích thể thao trở thành tiêu chuẩn đánh giá trình độ huấn
- Thể dục nhƣ trong trƣờng thể dục và quân sự.
- Giảng dạy kỹ thuật, nhằm giới thiệu với các em thiếu niên, nhi đồng các nguyên
lý cơ bản của toàn bộ quá trình sản xuất, đồng thời thời dạy cho các em có những kỹ
năng sử dụng đƣợc tất cả các công cụ sản xuất đơn giản.
Nhƣ vậy, Các Mác và Ăng-ghen không những xác định rằng giáo dục toàn diện là
điều tất yếu, mà còn phân tích một cách khoa học quy luật phát triển của xã hội và đã
chứng minh rằng vấn đề con ngƣời phải đƣợc phát triển toàn diện là do quy luật phát
triển của xã hội quyết định.
Nhƣng trong xã hội có giai cấp, những ngƣời lao động không có điều kiện và
phƣơng tiện cần thiết để phát triển toàn diện năng lực của mình. Tình trạng thoái hoá về
thể chất và tinh thần của họ luôn luôn bị đe doạ. Các Mác đã nhấn mạnh rằng: giáo dục
trong tƣơng lai sẽ "kết hợp lao động sản xuất với trí dục và thể dục, đó không những là
biện pháp để tăng thêm sức sản xuất của xã hội mà còn là biện pháp duy nhất để đào tạo
con ngƣời phát triển toàn diện".
Học thuyết về giáo dục toàn diện,đặc biệt cần sự yêu đời và sảng khoái, cần có
thể thao lành mạnh, thể dục, bơi lội, tham quan, các loại bài tập thể lực, những hứng thú
phong phú về tinh thần, học tập..., tất cả các hoạt động ấy với nhau". Lê-nin còn khẳng
định tính biện chứng của sự phát triển hài hoà giữa thể chất và tinh thần, rằng "tinh thần
khoẻ mạnh phụ thuộc vào một thân thể khoẻ mạnh".
2.3.3. Những chỉ thị của Đảng và Chủ tích Hồ Chí Minh về thể dục thể thao
Trung thành với học thuyết Mác-Lênin, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh từ trƣớc
đến nay rất chú ý đến giáo dục toàn diện cho thế hệ thanh thiếu niên, rất quan tâm đến
TDTT, coi đó là một mục tiêu quan trọng trong sự nghiệp giáo dục cộng sản chủ nghĩa
cho thanh thiếu niên.
Bác Hồ là ngƣời khai sinh, sáng tạo nền TDTT cách mạng của nƣớc ta. Tƣ tƣởng
bao trùm của Bác trong việc đặt nền tảng xây dựng nền TDTT mới của nƣớc ta là sự
khẳng định có tính cách mạng của công tác TDTT, là nhu cầu khách quan của một xã
hội phát triển, là nghĩa vụ của mọi ngƣời dân yêu nƣớc. Mục tiêu cao đẹp của TDTT là
bảo vệ, tăng cƣờng sức khoẻ của nhân dân, góp phần cải tạo nòi giống làm cho dân
cƣờng, nƣớc thịnh. Những ý tƣởng đó đƣợc xuyên suốt trong các lời huấn thị, bài viết và
mình, sức khoẻ của con ngƣời đƣợc coi là vốn quý nhất.
Tƣ tƣởng con ngƣời không thể tồn tại bên ngoài cơ thể sống, hay tƣ tƣởng đạo đức
luôn tồn tại gắn liền với một cơ thể nhất định. Nếu cơ thể phát triển bình thƣờng, khoẻ
mạnh thì thần kinh tốt, tinh thần minh mẫn. Cơ thể khoẻ mạnh là tiền đề vật chất để phát
huy cao độ nghị lực, dũng khí cách mạng của mình, cống hiến đƣợc nhiều hơn, lâu dài
hơn cho đất nƣớc. Sống cuộc sống vui tƣơi, lạc quan yêu đời hơn. Nhƣ Bác Hồ đã dạy:
"Luyện tập thể dục, bồi bổ sức khoẻ là bổn phận của mỗi ngƣời dân yêu nƣớc".
Ngoài ra trong quá trình luyện tập TDTT còn là quá trình hình thành và phát triển,
thử thách nhiều phẩm chất tốt đẹp:
- Ý thức tổ chức kỷ luật trong các buổi tập, thái độ chấp hành quy tắc, luật lệ thi
đấu.
- Tính kiên trì, chịu khó trong tập luyện, ý chí vƣợt khó gian khổ, bởi vì quá trình
tập luyện TDTT nâng cao thành tích và hoàn thiện thể chất là một quá trình phấn đấu
gian khổ, phải có ý chí kiên cƣờng mới vƣợt qua đƣợc. Nó đòi hỏi ngƣời tập nghiêm
khắc với bản thân mình, nhất là chế độ sinh hoạt và tập luyện hàng ngày, chống lại lối
sống bê tha, phóng túng trong sinh hoạt. Quá trình tập luyện TDTT còn là quá trình rèn
luyện tinh thần dũng cảm, linh hoạt, mƣu trí... Những phẩm chất đó rất cần thiết rất cần
cho con ngƣời năng động và sáng tạo.
- Sự thống nhất giữa quyền lợi cá nhân và tập thể trong tập luyện, đặc biệt là trong
thi đấu đòi hỏi ngƣời tập phải tự chủ, phải phối hợp chặt chẽ giữa kỹ thuật và chiến
20
thuật, cá nhân với đồng đội mới có thể giành đƣợc thành tích cao, mới mang lại vinh dự
cho tập thể và bản thân.
- Thông qua tập luyện và thi đấu, biểu diễn TDTT còn tăng cƣờng tình đoàn kết
hữu nghị, sự hiểu biết lẫn nhau giữa các tập thể, các địa phƣơng các dân tộc và giao lƣu
quốc tế.
2.4.2. Tác dụng đối với trí dục
Cơ thể ngƣời là một khối thống nhất, trí lực và thể lực đều do hệ thống thần kinh
Khi nói đến lao động sản xuất thì ngƣời ta nghĩ ngay đến vấn đề khoa học kỹ thuật
và thể lực. Các Mác đã chỉ rõ rằng, sức lao động hoặc năng lực lao động là tổng hợp của
những năng lực thể chất và tinh thần tồn tại trong một cơ thể, một cá thể đang sống.
TDTT ảnh hƣởng đến lao động sản xuất đƣợc thể hiện trong khuynh hƣớng cơ bản
của nó là chuẩn bị thể lực chung và chuẩn bị thể lực nghề nghiệp. Các bài tập có tác
dụng nâng cao thể lực toàn diện, hình thành các kỹ năng, kỹ xảo vận động cơ bản hoặc
21
động tác có liên quan đến các thao tác lao động nghề nghiệp, nhằm giúp con ngƣời thích
ứng nhanh chóng với các điều kiện lao động phức tạp, nặng nhọc.
2.5. MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ CỦA THỂ DỤC THỂ THAO
2.5.1. Mục đích của thể dục thể thao
Mục đích của TDTT là nhằm "tăng cƣờng thể chất, nâng cao trình độ TDTT và
làm phong phú thêm đời sống văn hoá tinh thần cho nhân dân; góp phần tích cực vào sự
nghiệp "nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực và bồi dƣỡng nhân tài" để xây dựng, bảo vệ
Tổ quốc và giao lƣu quốc tế"..
Mục đích này của TDTT có tính chất khách quan vì nó phản ánh đƣợc yêu cầu có
tính quy luật của xã hội là con ngƣời cần phải đƣợc chuẩn bị đầy đủ về các mặt thể chất
và tinh thần để có đủ điều kiện tham gia vào các hoạt động của xã hội.
Lao động - là điều kiện cần thiết đầu tiên để tồn tại của con ngƣời, chính là yếu tố
chủ đạo trong sự hình thành mục đích TDTT. Thời đại CNH-HĐH nền sản xuất là
những yêu cầu có tính nguyên tắc đối với sự biểu hiện và hoàn thiện các năng lực thể
chất con ngƣời.
2.5.2. Nhiệm vụ của thể dục thể thao
2.5.2.1. Nhiệm vụ bảo vệ và tăng cường sức khoẻ
Sức khoẻ là tài sản thiêng liêng, là vốn quý nhất của mỗi con ngƣời và cộng đồng
xã hội. Sức khoẻ phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau nhƣ tập luyện TDTT, dinh
dƣỡng, vệ sinh, môi trƣờng và xã hội...
“Sức khoẻ” là trạng thái thoải mái của con ngƣời về các mặt thể chất, tinh thần và
quốc, mở rộng mối giao lƣu quốc tế.
23
CHƢƠNG 3. CÁC PHƯƠNG TIỆN GIÁO DỤC THỂ CHẤT VÀ ĐẶC ĐIỂM GIẢNG DẠY THỂ DỤC
THỂ THAO
3.1. CÁC PHƯƠNG TIỆN CỦA GIÁO DỤC THỂ CHẤT
Phƣơng tiện là công cụ để giải quyết các nhiệm vụ đặt ra, phƣơng tiện trả lời câu
hỏi bằng cái gì ?
GDTC là một quá trình Sƣ phạm nên ngƣời ta sử dụng cả những phƣơng tiện của
giáo dục nói chung nhƣ: lời nói và trực quan. Trong GDTC ngƣời ta sử dụng nhiều loại
phƣơng tiện khác nhau. Để giải quyết các nhiệm vụ đặc thù của GDTC, ngƣời ta sử
dụng nhóm phƣơng tiện chuyên môn bao gồm: Bài tập thể chất và các nhân tố môi
trƣờng tự nhiên (nƣớc, không khí, ánh sáng) và các điều kiện vệ sinh trong đó bài tập
thể chất là phƣơng tiện chuyên môn cơ bản nhất.
3.1.1 Bài tập thể chất
Đặc điểm chung: bài tập thể chất (BTTC) là hành động vận động đƣợc lựa chọn
sử dụng phù hợp với quy luật của GDTC để giải quyết nhiệm vụ của GDTC. Bài tập thể
chất là những hoạt động chuyên biệt do con ngƣời sáng tạo ra một cách có ý thức, có
chủ đích. Dấu hiệu bản chất nhất của bài tập thể chất là sự lặp lại. Chỉ có thông qua lặp
lại nhiều lần 1 hành động vận động nào đó mới có thể hình thành kỹ xảo vận động và
làm phát triển các tố chất thể lực.
Nguồn gốc của bài tập thể chất
Bài tập thể chất ra đời từ cổ xƣa nó gắn liền với lao động. Nhân tố quan trọng nhất
làm nảy sinh bài tập thể chất là điều kiện đời sống vật chất và hoạt động của con ngƣời
mà trƣớc hết là hoạt động lao động. Hầu hết các bài tập thể chất có liên quan trực tiếp
đến các tác động của lao động, ngoài lao động thì các hoạt động quân sự, nghệ thuật, tôn
giáo cũng ảnh hƣởng đến sự hình thành và phát triển của bài tập thể chất.
có ý thức. Đó là những hành vi vận động có chủ đích, liên quan đến nhiều quá trình tâm
lý: biểu tƣợng vận động, hoạt động tƣ duy, xúc cảm... có ảnh hƣởng mạnh mẽ đến sự
biểu hiện ý chí, tình cảm, tính cách.
- Về sinh lý: nội dung của bài tập thể chất là những biến đổi các chức năng sinh lý
của cơ thể khi thực hiện các bài tập làm cho cơ thể chuyển sang hoạt động ở mức cao
hơn so với yên tĩnh. Vì vậy, thông qua sự tác động của bài tập thể chất mà hoàn thiện
đƣợc chức năng cơ thể ngƣời tập. Tuỳ theo đặc điểm của bài tập mà sự biến đổi sinh lý
có thể cao hay thấp.
Ví dụ: khi cơ thể hoạt động với công suất tối đa và thời gian đủ dài thì thông khí
phổi có thể tăng lên tới 30 lần, lƣu lƣợng phút của tim tăng lên 10 lần, hấp thụ oxy tối đa
có thể tăng lên 20 lần và kèm theo quá trình mệt mỏi
Những biến đổi sinh lý đó kích thích quá trình hồi phục và thích nghi của cơ thể
trong và sau lúc thực hiện bài tập. Nhờ vậy bài tập thể chất đã trở thành một nhân tố có
tác dụng mạnh mẽ tăng cƣờng khả năng chức phận và hoàn thiện cấu trúc cơ thể.
Khi xem xét nội dung bài tập thể chất theo quan điểm sƣ phạm thì điều quan
trọng không chỉ là những biến đổi sinh lý, sinh hoá hoặc các biến đổi khác diễn ra trong
cơ thể mà chủ yếu là những hiệu quả do bài tập thể chất mang lại, nhằm tạo ra tiền đề
cho sự phát triển các năng lực của con ngƣời trong đó có kỹ năng, kỹ xảo vận động và
các tố chất thể lực.
3.1.2.2 Hình thức của Bài tập thể chất: là cấu trúc bên trong và bên ngoài của nó.
Hình thức phụ thuộc vào nội dung của nó.
Cấu trúc bên trong là mối quan hệ tác động giữa các quá trình sinh lý, sinh hoá, là
sự phối hợp lẫn nhau giữa các quá trình đó khi thực hiện bài tập.
Cấu trúc bên ngoài là hình dạng có thể nhìn thấy đƣợc, biểu hiện đặc trƣng ở mối
quan hệ giữa các thông số không gian, thời gian và lực của động tác tạo thành bài tập.
3.1.2.3 Mối quan hệ giữa nội dung và hình thức: hình thức và nội dung của BTTC
có mối liên hệ hữu cơ với nhau, trong đó nội dung là mặt quyết định và cơ động hơn, nó
đóng vai trò chủ đạo trong mối quan hệ với hình thức. Nội dung thay đổi thì hình thức
cũng thay đổi theo. (Ví dụ: tốc độ thay đổi thì biên độ và tần số động tác có thể thay đổi)
Hình thức cũng có ảnh hƣởng tới nội dung. Hình thức chƣa hoàn thiện sẽ cản trở