Ðề cương môn LL&PP GDTC- HỆ VHVL – GV Lâm Tuyết Thúy
CHƯƠNG 1
NHHỮNG VẤN ÐỀ CHUNG VỀ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP GDTC
1. MỐT SỐ KHÁI NIỆM CƠ BẢN
1.1 Văn hóa thể chất (thể dục thể thao)
Hiện tượng văn hóa thể chất có từ lâu đời, nhưng trên thế giới thuật ngữ này
mới được sử dụng từ cuối thế kỷ 19. Để hiểu rõ văn hóa thể chất, trước hết cần
phải hiểu được khái niệm: văn hóa và để hiểu sâu hơn khái niệm văn hóa, cần
làm rõ khái niệm tự nhiên.
Trong quá trình phát triển của xã hội loài người đã nảy sinh một loại hoạt
động đặc biệt tác động và cải tạo phần tự nhiên ngay trong con người, hoạt động
đó được gọi là văn hóa thể chất.
Như vậy, văn hóa thể chất (TDTT) được hiểu là sự luyện tập cơ thể, cải tạo
cơ thể bằng sự vận động tích cực của cơ bắp. Đối tượng của TDTT là điều khiển
quá trình phát triển thể chất của con người. Để phân tích sâu hơn, khái niệm thể
dục thể thao có 3 cách tiếp cận:
Thể dục thể thao là một loại hoạt động.
Thể dục thể thao là tổng hợp các giá trị về vật chất và tinh thần được sáng tạo
trong xã hội.
Thể dục thể thao là kết quả của hoạt động
Văn hóa thể chất là bộ phận của nền văn hóa chung của nhân loại, là
tổng thể các giá trị vật chất và tinh thần của xã hội , được sáng tạo nên và sử
dụng hợp lý nhằm hoàn thiện thể chất cho con người.
1.2 Giáo dục thể chất
Giáo dục thể chất là một quá trình sư phạm nhằm hoàn thiện hình thái,
chức năng cơ thể con người. Đặc điểm nổi bật của giáo dục thể chất là quá trình
1
Ðề cương môn LL&PP GDTC- HỆ VHVL – GV Lâm Tuyết Thúy
hình thành kỹ năng kỹ xảo vận động và phát triển các tố chất thể lực. Tổng hợp
quá trình đó xác định khả năng thích nghi thể lực của con người.
Giáo dục thể chất được chia làm hai mặt riêng biệt dạy học động tác và
luật phát triển tuần tự theo lứa tuổi và quy luật về thời kỳ phát triển nhạy cảm …
1.3.2 Quá trình phát triển thể chất đồng thời là qúa trình tự nhiên và quá
trình xã hội
1.3.2.1 Quá trình tự nhiên
Các qui luật tự nhiên sinh học
+ Quy luật về tính di truyền và tính khả biến;
+ Quy luật về mối quan hệ giữa cấu trúc và chức năng của cơ thể;
+ Quy luật về sự thống nhất giữa môi trường và cơ thể;
+ Quy luật phát triển tuần tự theo lứa tuổi;
+ Quy luật phát triển theo giới tính ;
+ Quy luật về thời kỳ phát triển nhạy cảm
1.3.2.2 Quá trình xã hội
- Yếu tố bẩm sinh và di truyền là những tiền đề cho sự phát triển thể chất.
Điều kiện sống, chế độ dinh dưỡng, môi trường … là những nhân tố ảnh
hưởng tới sự phát triển thể chất một cách tự phát.
- Giáo dục đặc biệt là giáo dục thể chất đóng vai trò quyết định nhịp độ,
xu hướng và trình độ phát triển thể chất.
Vậy giáo dục thể chất là quá trình được thực hiện có tổ chức, có kế hoạch
điều khiển sự phát triển thể chất theo một mục đích định trước. Đó là quá trình
tự giác sử dụng những phương pháp khoa học tổng hợp, hợp lí để điều khiển
phát triển hình thái và chức năng cơ thể mà bẩm sinh di truyền không có được.
1.4 Thể thao
3
Ðề cương môn LL&PP GDTC- HỆ VHVL – GV Lâm Tuyết Thúy
Xét về mặt lịch sử, khái niệm thể thao ra đời muộn hơn khái niệm giáo
dục thể chất (thể dục).
Hiểu Thể thao theo 2 nghĩa:
- Nghĩa hẹp: TT là hoạt động đơn thuần thi đấu- hoạt động được hình
thành trong qúa trình phát triển lịch sử, chủ yếu trong lĩnh vực TDTT dưới dạng
các cuộc thi, nhằm trực tiếp biểu lộ những thành tích cao để so sánh, đánh giá
Trang bị cho cán bộ thể dục thể thao môït hệ thống những tri thức cơ sở về
chuyên môn và nghiệp vụ.
Hình thành các quan điểm và niềm tin rất cơ bản về nghề nghiệp thể dục thể
thao.
Lý luận thể dục thể thao dường như nối liền các môn lý luận chung trong
chương trình học tập với các môn chuyên sâu. Việc các nhà chuyên môn thể dục
thể thao có thể tiến xa, vươn tới đỉnh cao môn chuyên sâu của mình hay không,
phần lớn phụ thuộc vào mức độ tiếp thu một cách sâu rộng các lý luận cơ bản và
các lý thuyết chung.
Hình thành thế giới quan và nhân sinh quan đối với cán bộ TDTT..
2.2 Đối tượng nghiên cứu của Lý luận và phương pháp thể dục thể thao
Mỗi lĩnh vực tri thức với tư cách là một bộ môn khoa học cụ thể vốn sẵn
có đối tượng nghiên cứu cụ thể của mình : chủ thể và khách thể nghiên cứu. Nó
phân biệt với các môn khoa học khác bởi các đặc điểm của đối tượng nghiên
cứu. Những tri thức tích lũy được trong quá trình nghiên cứu sẽ được sắp xếp
thành một hệ thống nhất định và trở thành một môn học riêng - trở thành đối
tượng của giảng dạy.
2.2.1 Đối tượng nghiên cứu của Lý lụân thể dục thể thao
5
Ðề cương môn LL&PP GDTC- HỆ VHVL – GV Lâm Tuyết Thúy
Đối tượng nghiên cứu của Lý lụân thể dục thể thao là xác định các quy
luật chung về giáo dục thể chất với tư cách là một quá trình sư phạm nhằm hoàn
thịên con người. Các quy luật chung này vốn là đặc tính của thể dục thể thao đối
với mọi lứa tuổi, từ trẻ em đến người lớn tuổi, từ người mới tập đến vận động
viên.
2.2.2 Đối tượng nghiên cứu của phương pháp giáo dục thể chất
Là xác định các quy luật riêng về giáo dục thể chất và thực hiện các quy
luật chung trong quá trình sư phạm theo các khuynh hướng cụ thể . Bên trong
mỗi một phương pháp ấy lại chứa đựng những phương pháp cụ thể. Tính đa
dạng của các phương pháp này phù hợp với các loại hình khác nhau của người
nhân tố khách quan cơ bản để xây dựng mục đích giáo dục thể chất (TDTT) là:
Những yêu cầu của nền sản xuất xã hội đòi hỏi con người phát triển toàn diện về
thể chất và tinh thần,
Những yêu cầu củng cố quốc phòng của đất nước.
Mục đích của nền TDTT Việt Nam: Tăng cường thể chất nhân dân, nâng
cao trình độ TT, góp phần làm phong phú đời sống văn hoá và giáo dục con
nguời để phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc.
2. NHIỆM VỤ CHUNG CỦA NỀN TDTT VI?T NAM
Để đạt đượïc mục đích trên, nền TDTT nước ta có những nhiệm vụ chung
sau đây:
2.1 Nâng cao thể chất và sức khoẻ của nhân dân
- Thúc đẩy sự phát triển thể hình lành mạnh.
Sự hoàn thiện về thể hình và tư thế thân thể làm cho ngoại hình thêm đẹp
phần nào cũng phản ánh mức hoàn thiện về chức năng. Ngày nay, người ta còn
coi đó cũng thể hiện một phần của bộ mặt tinh thần, văn minh của một dân tộc.
Mặc khác, một cơ thể cường tráng lại là cơ sởû vật chất của các năng lực chức
năng.
- Phát triển toàn diện các năng lực thể chất
Năng lực thể chất bao giờ cũng gắn chặt chẽ với chức năng của cơ thể. Do
đó, phát triển toàn diện các năng lực thể chất cũng là một nhân tố quan trọng
8
Ðề cương môn LL&PP GDTC- HỆ VHVL – GV Lâm Tuyết Thúy
thúc đẩy sự cải tiến về hình thái chức năng và ngược lại. Đồng thời, năng lực thể
chất còn là điều kiện tất yếu, đầu tiên cho sự tiếp thu, nâng cao trình độ thể thao
sau này.
- Nâng cao năng lực thích ứng của cơ thể
Tập luyện lâu dài, có hệ thống trong các điều kiện đa dạng, thay đổi về thời
tiết, khí hậu, địa thế… sẽ có lợi cho nâng cao năng lực thích ứng trước các điều
kiện tự nhiên khác nhau. Mặt khác cũng tăng cường khí huyết lưu thông và khả
năng tạo máu, đẩy nhanh quá trình trao đổi chất, do đó nâng cao sức đề kháng
tập thể, tính kỷ luật, trung thực…
Ba nhiệm vụ trên có quan hệ mật thiết với nhau, cần kết hợp chặt chẽ trong
quá trình thực hiện. Chúng cần được quán triệt phù hợp với từng bộ phận trong
mỗi lĩnh vực hoạt động. Giữa chúng có những nét chung và khác biệt. Mỗi
nhiệm vụ có ưu thế, tính chất, mức độ yêu cầu và cách thức thực hiện cũng có
chỗ khác nhau. Do vậy, trong khi thực hiện các nhiệm vụ TDTT trên , từng bộ
phận, từng người cần nắm rõ chức năng chuyên môn, cụ thể của mình, không
thểû lẫn lộn, thay thế hoặc bỏ qua.
10
Ðề cương môn LL&PP GDTC- HỆ VHVL – GV Lâm Tuyết Thúy
CHƯƠNG 3
CÁC PHƯƠNG TIỆN GIÁO DỤC THỂ CHẤT
Để thực hiện mục đích và nhiệm vụ của thể dục thể thao, người ta phải sử
dụng những phương tiện nhất định : Các bài tập thể chất - phương tiện chủ yếu
nhất, các yếu tố thiên nhiên và vệ sinh. Mỗi phương tiện đều có đặc điểm riêng
và có những ưu thế nhất định.
Trong chương trình này sẽ tập trung trình bày về phương tiện bài tập thể
chất.
1.BÀI TẬP THỂ CHẤT
1.1 ĐẶC TÍNH CHUNG
1.1.1. Khái niệm bài tập thể chất:
Bài tập thể chất là những hành vi vận động của con người, được lựa
chọn để giải quyết các nhiệm vụ của giáo dục thể chất.
Khái niệm bài tập thể chất có liên quan đến khái niệm hoạt động của con
người, như hoạt động lao động, học tập, vui chơi, chính trị, văn hóa … hoạt
động được kết hợp nên từ các hành động như hành động tư duy, hành động ý
chí, hành động vận động. Thông qua hoạt động con người biểu thị nhu cầu cảm
xúc và thái độ tích cực đối với thế giới bên ngoài. Tuy nhiên, không phải tất cả
những hành động ( động tác) đều được gọi là bài tập thể chất. Dấu hiệu quan
trọng nhất của tập thể chất là sự phù hợp giữa hình thức và nội dung của BTTC
Mối quan hệ giữa hình thức và nội dung của bài tập thể chất
Hình thức và nôïi dung của bài tập thể chất có mối liên hệ hữu cơ với
nhau. Trong đó nội dung là mặt quyết định và cơ động hơn.
12
Ðề cương môn LL&PP GDTC- HỆ VHVL – GV Lâm Tuyết Thúy
Về phần mình, hình thức cũng ảnh hưởng đến nội dung. Hình thức của bài
tập chưa hoàn thiện sẽ cản trở sự phát huy tối đa các khả năng chức phận của cơ
thể. Ngược lại, hình thức bài tập hoàn thiện sẽ tạo điều kiện thụân lợi cho việc
sử dụng có hiệu quả các năng lực thể chất.
Như vậy, giữa nội dung và hình thức của bài tập thể chất có mối quan hệ
biện chứng. Nhưng giữa chúng có thể tồn tại mâu thuẫn (hoặc không tương ứng
nhất định).
1.1.4 Các nhân tố xác định sự tác động của bài tập thể chất
Hịêu quả sử dụng phương tiện đó như thế nào thì lại phụ thuộc vào những
yếu tố sau:
- Đặc điểm cá nhân của người tập
- Đặc điểm bài tập
- Đặc điểm điều kiện bên ngoài
- Đảm bảo các nguyên tắc và phương pháp tập luyện
2. KỸ THUẬT CỦA BÀI TẬP THỂ CHẤT
2.1 Khái niệm
Kỹ thuật của bài tập thể chất là cách thức sắp xếp, tổ chức và thực hiện hệ
thống các cử động của hành động vận động mà nhờ đó nhịêm vụ vận động được
thực hịên một cách hợp lý và có hiệu quả cao.
2.2 Các phần của kỹ thuật động tác
- Phần nguyên lý của kỹ thuật (hay còn được gọi là phần cơ bản của kỹ
thụât), là một tổ hợp các đặc tính về cấu trúc động học, dùng lực mà nếu thiếu
hoặc sai lệch thì nhiệm vụ vận động sẽ không thực hiện được. Phần này hầu như
không có sự khác nhau giữa các cá nhân .
13
tiến hành giáo dục thể chất, người ta vận dụng tất cả các nguyên tắc giáo dục
chung. Tuy nhiên, khi phản ánh tính đặc trưng của mình, giảng dạy động tác
trong quá trình giáo dục thể chất có nội dung, phương tiện và cách thức thực
hiện riêng.
1. NGUYÊN TẮC TỰ GIÁC VÀ TÍCH CỰC
1.1 Bản chất và căn cứ
Thực tế đã chứng minh rằng, hiệu quả của quá trình sư phạm nói chung và
giáo dục thể chất nói riêng phụ thuộc rất nhiều vào thái độ tự giác tích cực của
người học đối với nhiệm vụ học tập.
Theo quan điểm sư phạm, giáo dục thể chất là một hoạt động đặc thù của
con người được điều khiển bởi mục đích tự giác. Là một họat động được điều
khiển bởi mục đích tự giác nên hoạt động giáo dục thể chất chỉ có thể thực hiện
được khi con người có khả năng điều khiển hành động của bản thân bởi mục
đích đã được ý thức.
- Quá trình học tập để hình thành, hoàn thiện kỹ năng, kỹ xảo vận động
là một quá trình nhận thức.
- Quá trình tập luyện để nâng cao khả năng chức phận, phát triển các tố
chất thể lực là quá trình khổ luyện, khắc phục mệt mỏi, khắc phục khó khăn.
- Xét từ góc độ tâm – sinh lý,
1.2 Nội dung của nguyên tắc thể hiện ở môït số yêu cầu cơ bản sau:
1.2.1 Giáo dục thái độ tự giác và hứng thú đối với mục đích tập luyện chung
và nhiệm vụ tập luyện cụ thể của từng buổi tập.
15
Ðề cương môn LL&PP GDTC- HỆ VHVL – GV Lâm Tuyết Thúy
Giáo dục động cơ tập luyện cho người tập: Từ những động cơ ngẫu nhiên,
không sâu sắc, cảm tính đến những động cơ sâu sắc, có ý nghĩa xã hội.
+ Động cơ trực tiếp
+ Đông cơ gián tiếp
Phải làm cho người tập nhận thức được nhiệm vụ, mục đích các buổi tập,
hiểu được ý nghĩa cụ thể của các nhiệm vụ cần thực hiện, hiểu được tính tất
2.1.1 Trực quan là tiền đề cần thiết để tiếp thu động tác
Xây dựng biểu tượng vận động là tiền đề tâm lý quan trọng cho việc hình thành
bất kỳ một hành động vận động nào. Không có biểu tượng vận động về động tác
thì không thể thực hiện được hành động. Điều kiện để hình thành biểu tượng vận
động là các thông tin từ các giác quan.
Để hình dung ra động tác thì trong quá trình dạy học phải sử dụng tổng hợp các
phương tiện và phương pháp trực quan. Có hai loại trực quan.
+ Trực quan trực tiếp
+ Trực quan gián tiếp
Trong qúa trình giảng dạy, thực hiện nguyên tắc này chú ý đến vai trò chủ đạo
của các cơ quan phân tích. Ở mỗi giai đoạn tập luyện khác nhau, thị giác và cảm
giác vận động cơ có vai trò khác nhau. Mức độ sử dụng trực quan còn phụ thuộc
vào đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi nữa. Hiểu được vấn đề này, giáo viên sẽ dễ
dàng tiến hành nguyên tắc đối đãi cá biệt.
2.1.2 Trực quan là điều kiện để hoàn thiện kỹ thuật động tác
17
Ðề cương môn LL&PP GDTC- HỆ VHVL – GV Lâm Tuyết Thúy
Bản chất tâm lý của quá trình tập luyện nhằm hoàn thiện một kỹ thuật động tácù
là một quá trình điều chỉnh.
Nếu trong giai đọan đầu trực quan là tiền đề để tiếp thu động tác thì giai đoạn
sau trực quan sẽ hoàn thiện động tác ở mức cao hơn.
- Trong rất nhiều bài tập, đặc biệt là các bài tập thể thao, sự phát triển các
giác quan có ý nghĩa quyết định thành tích. Trong trường hợp này trực quan là
tác động làm hoàn thiện các cơ quan cảm thụ của cơ thể, xây dựng lên cảm giác
chuyên môn .
Điều đó chỉ có được khi vận động viên tập luyện đạt trình độ điêu luyện,
và chỉ có điêu luyện mới có khả năng đạt được thành tích cao trong thi đấu. Do
vậy, cần đặc biệt chú ý phát triển cảm giác cơ bắp cho người tập, có thể sử dụng
các biện pháp như loại trừ thị giác.
2.2 Các yêu cầu khi thực hiện nguyên tắc.
Đảm bảo tính kế thừa
Đảm bảo tính tuần tự
4. NGUYÊN TẮC HỆ THỐNG
3.4 Tính liên tục và sự luân phiên hợp lý giữa tập luyện và nghỉ ngơi
Đảm bảo tính liên tục:
Dưới ảnh hưởng của tập luyện (LVĐ) trong cơ thể diễn ra những biến đổi
thích nghi về hình thái và chức năng đồng thời hình thành những đường liên hệ
thần kinh tạm thời. Đó là cơ sở của việc nâng cao năng lực vận động. Tuy nhiên,
để nâng cao được năng lực vận động cần phải có “hiệu quả tích luỹ” của những
biến đổi này.
19
Ðề cương môn LL&PP GDTC- HỆ VHVL – GV Lâm Tuyết Thúy
Trên thực tế giáo dục thể chất, đảm bảo tính liên tục thể hiện ở sự duy trì
chế độ tập luyện không dưới 2-3 buổi/tuần.
Luân phiên hợp lý giữa tập luyện và nghỉ ngơi
Liên tục, thường xuyên không có nghĩa là tập luyện không có quãng nghỉ.
Ngược lại, quãng nghỉ là một thành phần của lượng vận động như đã xét. Chính
sự luân phiên hợp lý giữa tập luyện và nghỉ ngơi là điều kiện để đảm bảo tính
liên tục.
Có 3 quãng nghỉ cơ bản thường được áp dụng:
Quãng nghỉ vượt mức : là quãng nghỉ mà buổi tập sau được tiến hành đúng vào
giai đoạn hồi phục vượt mức, tức là vào lúc năng lực vận động của cơ thể tăng
cao, trên nền của hiệu quả của buổi tập trước.
- Quãng nghỉ đầy đủ: là quãng nghỉ mà buổi tập sau được tiến hành vào
giai đoạn hồi phục tương đối.
- Quãng nghỉ ngắn: là quãng nghỉ mà buổi tập sau được tiến hành vào
giai đoạn mà dự trữ năng lượng, năng lực hoạt động chưa phục hồi về mức ban
đầu.
3.5 Tính tuần tự và mối quan hệ hợp lý giữa các mặt của GDTC và HLTT
Có thể tóm tắt một số yêu cầu của tính tuần tự như sau:
hơn. Để tiếp tục gây ra những biến đổi tốt trong cơ thể – cơ sở của sự phát triển
về trình độ thể lực, hình thái thì lượng vận động phải thay đổi theo hướng tăng.
Trong giới hạn sinh lý nhất định, những biến đổi tốt trong cơ thể dứơi tác
động của các bài tập thể lực tỷ lệ thuận với khối lượng và cường độ.
Trong giáo dục các phẩm chất ý chí cũng tồn tại quy luật tương tự.
21
Ðề cương môn LL&PP GDTC- HỆ VHVL – GV Lâm Tuyết Thúy
5.2 Thực hiện nguyên tắc
• Các yêu cầu khi phức tạp hoá nhiệm vụ và
nâng cao lượng vận động:
Quán triệt nguyên tắc thích hợp
Quán triệt tính hệ thống: đảm bảo tính tuần tự, tính kế thừa, tính thường xuyên
và sự luân phiên hợp lý giữa các buổi tập.
- Việc chuyển sang nhiệm vụ mới phức tạp hơn về độ khó và nặng hơn
về lượng vận động cần phải tính đến mức độ củng cố của kỹ xảo đã hình thành
và sự thích nghi với lượng vận động.
- Thời gian thích nghi phụ thuộc vào độ lớn của lượng vận động, đặc
điểm cá nhân, tính chất chuyên môn … Khi các điều kiện khác như nhau thì
lượng vận động càng lớn thì thời gian thích nghi càng dài.
• Các hình thức tăng dần lựơng vận động:
Hình thức tăng theo đường thẳng dốc
Hình thức tăng theo bậc thang
Hình thức tăng theo làn sóng
22
Ðề cương môn LL&PP GDTC- HỆ VHVL – GV Lâm Tuyết Thúy
CHƯƠNG 5
CÁC PHƯƠNG PHÁP GIÁO DỤC THỂ CHẤT
1. CƠ SỞ CẤU TRÚC CỦA CÁC PHƯƠNG PHÁP GIÁO DỤC THỂ
CHẤT
khối lượng càng lớn bao nhiêu thì những biến đổi thích nghi càng đáng kể và
vững chắc bấy nhiêu và cường độ càng lớn bao nhiêu sẽ tạo nên các quá trình
hồi phục và “hồi phục vượt mức” mạnh bấy nhiêu.
Khối lượng có ảnh hưởng gián tiếp, còn cường độ ảnh hưởng trực tiếp đến
thành tích thể thao.
Ngoài khối lượng và cường độ, lượng vận động còn phụ thuộc vào các
yếu tố tâm lý.
Lượng vận động còn được phân thành :
+ Lượng vận động bên ngoài.
+ Lượng vận động bên trong.
Thông thường lượng vận động bên ngoài và bên trong tương ứng với
nhau, Tuy nhiên, không phải lúc nào cũng vậy. Lượng vận động bên trong không
chỉ phụ thuộc vào lượng vận động bên ngoài mà còn phụ thuộc vào đặc điểm và
trạng thái của người tập.
1.1.2 Quãng nghỉ và sự kết hợp giữa vận động và các quãng nghỉ
Lập kế hoạch và điều chỉnh lượng vận động thông qua khối lượng và
cường độ là vấn đề cơ bản của phương pháp giáo dục thể chất. Tuy nhiên, khi
xây dựng phương pháp nhằm đạt đến hiệu qủa của giáo dục thể chất cần chú ý
24
Ðề cương môn LL&PP GDTC- HỆ VHVL – GV Lâm Tuyết Thúy
đến một yếu tố nữa, đó là quãng nghỉ và sự kết hợp giữa các quãng nghỉ và vận
động.
Căn cứ vào mức độ hồi phục sau vận động mà các quãng nghỉ được chia
thành 3 loại:
Quãng nghỉ đầy đủ là quãng nghỉ mà lượng vận động tiếp theo được thực hiện
vào thời điểm khả năng vận động thể lực đã hồi phục về mức ban đầu.
Quãng nghỉ ngắn là quãng nghỉ mà lượng vận động tiếp theo được thực hiện
vào thời điểm các chức năng riêng lẻ hoặc toàn bộ cơ thể chưa kịp hồi phục về
mức ban đầu.
Quãng nghỉ vượt mức là quãng nghỉ mà lượng vận động tiếp theo được thực