Công tác phòng bệnh, chẩn đoán và điều trị một số bệnh trên đàn lợn con theo mẹ nuôi tại trang trại ông Hùng, huyện Cẩm Khê tỉnh Phú Thọ. - Pdf 46

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

MA THANH CƢỜNG
Tên đề tài:
"CÔNG TÁC PHÕNG BỆNH, CHẨN ĐOÁN VÀ ĐIỀU TRỊ MỘT SỐ
BỆNH TRÊN ĐÀN LỢN CON THEO MẸ NUÔI TẠI TRANG TRẠI
ÔNG HÙNG, HUYỆN CẨM KHÊ - TỈNH PHÖ THỌ”

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo
: Chính quy
Chuyên ngành : Chăn nuôi thú y
Khoa
: Chăn nuôi thú y
Khóa học
: 2013 – 2017

Thái Nguyên, năm 2017


ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

MA THANH CƢỜNG
Tên đề tài:
"CÔNG TÁC PHÕNG BỆNH, CHẨN ĐOÁN VÀ ĐIỀU TRỊ MỘT SỐ
BỆNH TRÊN ĐÀN LỢN CON THEO MẸ NUÔI TẠI TRANG TRẠI
ÔNG HÙNG, HUYỆN CẨM KHÊ - TỈNH PHÖ THỌ”


đề tài này.
Em xin cảm ơn tập thể lớp CNTY – K45 – N02, gia đình và bạn bè luôn
giúp đỡ, chia sẻ, động viên và khích lệ em trong suốt thời gian học tập và rèn
luyện tại trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên.
Trong thời gian thực tập vì chưa có kinh nghiệm thực tế, chỉ dựa vào
kiến thức đã học nên khóa luận không tránh khỏi sai sót. Kính mong nhận
được sự nhận xét, góp ý của thầy cô để hoàn thiện kiến thức cho công việc
sau này.
Em xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày tháng năm
Sinh viên

Ma Thanh Cƣờng


ii

DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.1: Lịch tiêm phòng bệnh cho lợn con ................................................. 21
Bảng 4.1. Kết quả thực hiện công tác vệ sinh phòng bệnh cho lợn con theo mẹ . 28
Bảng 4.2. Kết quả áp dụng quy trình phòng bệnh cho .................................... 30
lợn con ............................................................................................................. 30
Bảng 4.3. Kết quả chẩn đoán lâm sàng và phát hiện một số bệnh thường gặp ở
lợn con theo mẹ (n= 346) ........................................................................ 31
Bảng 4.4. Hiệu quả điều trị một số bệnh ở lợn con theo mẹ ........................... 34


iii

MỤC LỤC

mẹ .................................................................................................................... 31
4.4. Hiệu quả điều trị một số bệnh ở lợn con theo mẹ .................................... 34
4.5. Đề xuất các biện pháp phòng bệnh an toàn cho lợn con theo mẹ ............ 35
Phần 5. KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ ............................................................. 38
5.1. Kết luận .................................................................................................... 38
5.2. Đề nghị ..................................................................................................... 38
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................ 40


1

Phần 1
MỞ ĐẦU
1.1. Đặt vấn đề
Nước ta là một nước có nền nông nghiệp lâu đời. Trong những năm gần
đây, việc chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế đã kéo theo sự phát triển của một
số ngành trong đó có ngành chăn nuôi.
Lợn là vật nuôi phổ biến với người nông dân Việt Nam. Quá trình hội
nhập kéo theo chuyển đổi chăn nuôi từ quy mô nông hộ, nhỏ lẻ sang quy mô
trang trại, tập trung. Tuy nhiên, các trang trại ở Việt Nam quy mô nhỏ, những
tiêu chuẩn kỹ thuật về chuồng trại thiếu đồng bộ, gây khó khăn cho việc vệ
sinh, sát trùng. Bên cạnh đó, việc áp dụng các biện pháp vệ sinh trong phòng
trị bệnh không phù hợp cho việc áp dụng kỹ thuật tiên tiến trong quản lý
chăm sóc theo đàn.
Mặt khác, để đáp ứng nhu cầu con giống cho chăn nuôi thì việc nuôi
lợn nái sinh sản là cần thiết. Tuy nhiên, những khó khăn gặp phải rất nhiều do
công tác quản lý, vệ sinh thú y phòng bệnh, tình hình bệnh dịch phát sinh, ô
nhiễm môi trường,... gây ảnh hưởng lớn đến đàn lợn nhất là lợn con.
Nhằm hạn chế những thiệt hại đối với đàn lợn con, em tiến hành thực
hiện đề tài: “Công tác phòng bệnh, chẩn đoán và điều trị một số bệnh trên

môi trường thoáng mát vào mùa hè và tránh gió lùa vào mùa đông.
Trại xây khép kín vì vậy thức ăn phục phụ cho sinh hoạt đều do công
nhân tự trồng lấy. Ngoài ra còn sử dụng cá nuôi trong áo, các sản phẩm thịt từ
chăn nuôi lợn và hoa quả từ vườn cây.
- Thời tiết và khí hậu
Xã Hương Lung nằm ở khu vực nhiệt đới gió mùa có khí hậu nóng vào
mùa hè, lạnh vào mùa đông.
Qua số liệu thống kê ngày 24/07/2016 (trạm khí tượng thủy văn Phú Thọ):
Nhiệt độ trung bình là 23oC, thấp nhất là 15,3oC, cao nhất là 28,7oC.


3

Lượng mưa trung bình là 1.800 mm. Mưa nhiều vào tháng 6, tháng 7
làm vật nuôi dễ mắc bệnh.
Độ ẩm bình quân là 85-87%.
Với điều kiện khí hậu này rất thuật lợi cho sự sinh trưởng và phát triển
của gia súc, gia cầm. Nhưng bên cạnh đó là điều kiện tốt cho vi sinh vật gây
bệnh lây lan dịch bệnh.
* Điều kiện cơ sở vật chất
Trại có nhà điều hành điều khiển mọi hoạt động sảm xuất, có các dãy
nhà là nơi ở cho công nhân, kỹ sư. Ngoài ra còn có nhà bếp và các công trình
phụ phục phụ sinh hoạt khác.
Khu sảm xuất: trại có quy mô 1200 lợn nái. Chia làm 6 chuồng nuôi
gồm: 1 chuồng bầu có 1056 ô, mỗi ô có kích thước 2,4m x 0,65m/ô; 3 chuồng
đẻ, mỗi chồng chia làm 2 bên có tường ngăn cách ở giữa, mỗi bên có 52 ô
chuồng, mỗi ô có kích thước 2,4m x 1,6m/ô và một khu chuồng cách ly, một
chuồng đực. Ngoài ra còn nhà để phân, dãy nhà gồm: phòng ăn K, phòng sát
trùng, nhà nghỉ trưa, kho thức ăn, kho thuốc và phòng vật tư.
Chuồng nuôi được xây dựng khép kín: đầu chuồng có hệ thống giàn

Nông Lâm Thái Nguyên tạo điều kiện cho sinh viên năm cuối thực tập tại
cơ sở. Đây là lực lượng lao động tiên tiến góp phần thúc đẩy sự phát triển
của trại.
- Nguồn vốn của trại
Trang trại là của tư nhân được thành lập từ năm 2009 có nguồn vốn xây
dựng chủ yếu từ gia đình.
Trang trại nuôi lợn nái sinh sản cho Công ty Cổ phần thức ăn chăn nuôi
Việt Nam (một chi nhánh của tập đoàn CP Thái Lan).
Trại hoạt động trên hình thức chủ trại xây dựng cơ sở vật chất, thuê
công nhân lao động, còn công ty cung cấp giống, kỹ sư, thức ăn, thuốc thú y
và các trang bị kỹ thuật phục phụ sảm xuất.


5

2.1.2. Đối tượng và các kết quả sảm xuất của Trại trong 3 năm
* Đối tượng sảm xuất của trại
- Trại chủ yếu chăn nuôi lợn nái hậu bị, lợn nái sinh sản, lợn đực giống
và chăn nuôi lợn con.
* Kết quả sản xuất của trại
- Mỗi năm trại cung cấp hàng nghìn con lợn nái thương phẩm cho các
trang trại khu vực phía Bắc và hộ chăn nuôi.
Loại lợn

Năm 2014

Lợn đực giống

Năm 2015


19.737

20.506

20.388

Lợn nái sinh sản
Lợn hậu bị

2.2. Cơ sở khoa học và những kết quả nghiên cứu trong và ngoài nƣớc có
liên quan đến nội dung của đề tài
2.2.1. Cơ sở khoa học
2.2.1.1. Đặc điểm sinh lý ở lợn con
Khi lợn con sinh ra do việc thay đổi môi trường sống đột ngột, đồng thời
cơ thể chưa hoàn thiện các cơ quan sinh lý, sinh hóa nhất là cơ quan tiêu hóa
nên khả năng phòng vệ với tác động bên ngoài rất yếu.
* Về sinh trưởng
Theo Trần Văn Phùng và cs (2004) [14]: Lợn con ở giai đoạn này có
khả năng sinh trưởng, phát dục rất nhanh. So với khối lượng lúc sinh thì khối
lượng 10 ngày tuổi tăng gấp 2 lần, 21 ngày tuổi gấp 4 lần, 30 ngày tuổi gấp 56 lần, 60 ngày tuổi gấp 12-14 lần.


6

Tốc độ sinh trưởng của gia súc non rất cao, nên nếu sữa mẹ không đảm
bảo chất lượng hoặc khẩu phần ăn thiếu đạm sẽ làm sinh trưởng chậm lại và
tăng trọng theo khối lượng giảm xuống, làm giảm khả năng chống đỡ bệnh tật
(Phạm Sỹ Lăng và cs, 2003) [11].
Lợn con bú sữa sinh trưởng nhanh nhưng không đều, nhanh ở 21 ngày
tuổi đầu, sau đó giảm dần. Nguyên nhân do sau 21 ngày chất lượng sữa mẹ

bú sữa đầu của lợn mẹ nên khả năng miễn dịch của lợn con phụ thuộc vào
lượng kháng thể hấp thu được từ sữa đầu lợn mẹ.
Theo Chu Đức Thắng và cs (2008) [20]: Nhất thiết phải cho lợn con bú
sữa đầu để có sức đề kháng chống lại bệnh. Trong sữa đầu có hàm lượng
Albumin và γ - globulin cao hơn sữa bình thường, đây là chất chủ yếu cho lợn
con có sức đề kháng vì thế cần chú ý cho lợn con sơ sinh bú sữa trong 3 ngày
đầu đảm bảo toàn bộ số con trong ổ được bú hết lượng sữa đầu của mẹ.
Ngoài ra sắt có vai trò quan trong trong việc tạo máu. Việc thiếu sắt dẫn
đến thiếu máu làm giảm sức đề kháng dẫn đến dễ mắc bệnh nên cần tiêm bổ
sung sắc cho lợn con vào những ngày đầu khi sinh.
2.2.1.2. Quy trình vệ sinh thú y
Vệ sinh có vai trò quan trọng với sự phát triển lợn con.
* Khái niệm vệ sinh:
Vệ sinh thú y là việc đáp ứng các yêu cầu nhằm bảo vệ sức khỏe động vật,
sức khỏe con người, môi trường và hệ sinh thái (theo Luật thú y, 2015) [16].
2.2.1.3. Quy trình phòng bệnh cho lợn con
Quy trình phòng bệnh là sử dụng các biện pháp kỹ thuật nhằm hạn chế
tối đa sự xâm nhập của vi khuẩn, vi sinh vật đến vật nuôi.
Theo Dr. Anan Lertwilai và cs (2016) [10]: Quy trình phòng bệnh nhằm
ngăn chặn mầm bệnh từ bên ngoài và bên trong trại, người chăn nuôi cần
kiểm soát được các yếu tố bên ngoài mang mầm bệnh vào như phương tiện


8

vận chuyển, dụng cụ và các yếu tố nảy sinh bệnh trong trại như vệ sinh sát
trùng, xử lý nước thải và xác vật nuôi chết.
Quy trình phòng bệnh cho vật nuôi gồm:
- Phòng bệnh bên ngoài
Công nhân, kỹ thuật trước khi vào trại làm việc phải tắm sát trùng và

bệnh
Thiếu sắt

2 - 3 ngày

Tiêu

Vắc xin/
thuốc/chế
phẩm
Fe + B12

Đƣờng
đƣa
Tiêm

Liều
lƣợng
(ml/con)
1
1

Nova-amcoli

Tiêm

Diacoxin 5%

Uống


Tiêm bắp

2

Lợn nái

10 tuần chửa

Dịch tả

Coglapest

Tiêm bắp

2

sinh sản

12 tuần chửa

LMLM

Aftopor

Tiêm bắp

2

chảy


aftopor, vắc xin giả dại begonia.


10

2.2.1.4. Các phương pháp chẩn đoán bệnh
Chẩn đoán là phán đoán bệnh thông qua các triệu chứng.
Theo Phạm Ngọc Thạch và cs (2009) [19]: Một chẩn đoán đầy đủ phải
làm rõ các nội dung:
- Vị trí có bệnh trong cơ thể
- Tính chất bệnh
- Hình thức và mức độ những rỗi loạn trên cơ thể
- Nguyên nhân bệnh
Để có thể điều trị có hiệu quả cao, đúng cách, dùng đúng thuốc thì ta cần
kết hợp nhiều phương pháp chẩn đoán khác nhau. Bao gồm:
- Căn cứ vào các phương pháp gồm:
+ Chẩn đoán trực tiếp: căn cứ vào triệu chứng chủ yếu đi đến kết luận
chẩn đoán.
+ Chẩn đoán phân biệt: sau thu thập các triệu chứng có trên con vật
bệnh, cần liên hệ đến những bệnh có cùng triệu chứng đó, loại những bệnh
không phù hợp, bệnh cuối cùng có nhiều khả năng nhất chính là bệnh con vật
mắc phải.
+ Chẩn đoán bệnh qua kết quả điều trị: khi chẩn đoán không đủ để kết
luận chính xác bệnh thì cần phải có hướng nghi ngờ đó là bệnh gì, từ đó tiến
hành điều trị. Nếu điều trị khỏi thì kết luận đúng bệnh đã nghi ngờ.
- Căn cứ vào thời gian chẩn đoán:
+ Chẩn đoán sớm: là chẩn đoán được kết luận ngay từ thời kỳ đầu của
quá trình bệnh. Chẩn đoán sớm rất có lợi cho điều trị và phòng bệnh.
+ Chẩn đoán muộn: là kết luận chẩn đoán vào thời kỳ cuối của bệnh,
thậm chí gia súc chết, mổ khám mới có kết luận chẩn đoán.

huyết hoặc nhiễm độc đường ruột, viêm ruột ở lợn con, nhất là sau khi sinh,


12

thậm chí chỉ vài giờ. Có đến 48% trường hợp bị tiêu chảy ở lợn con là do
E.coli gây ra.
E.coli thường gây bệnh tiêu chảy cho lợn con theo mẹ, lợn cai sữa và
viêm vú trên lợn nái (do độc tố E.coli).
Theo Lê Văn Ta ̣o (2007) [18], vi khuẩ n E. coli gây bê ̣nh ở lơ ̣n là vi
khuẩ n tồ n ta ̣i trong môi trường , đường tiêu hoá của vâ ̣t chủ . Khi môi trường
quá ô nhiễm do vệ sinh chuồng trại kém

, nước uố ng thức ăn bi ̣nhiễm vi

khuẩ n, điề u kiê ̣n ngoa ̣i cảnh thay đổ i , lơ ̣n giảm sức đề kháng dễ bi ̣cảm nhiễm
E. coli, bê ̣nh sẽ nổ ra.
Theo Phan Địch Lân và cs (1997) [12], chuồng trại ẩm, lạnh tác động
vào cơ thể lợn gây rối loạn thần kinh từ đó gây rối loạn tiêu hóa.
Vì vậy mà khâu vệ sinh, chăm sóc có mô ̣t ynghĩa
to lớn trong phòng bệnh
.
́
- Triệu chứng và bệnh tích:
Lợn con theo mẹ mắc bệnh thường nằm co rúm lại, run rẩy hoặc nằm
một góc, da xung quanh đuôi và hậu môn dính phân, phân lỏng đến sệt
thường màu kem. Ngoài ra phân lợn tiêu chảy cũng thấy màu vàng trắng,
trắng xám, màu vàng xanh mùi hôi thối và tanh. Lợn mắc bệnh thường mất
nước do tiêu chảy, sụt cân nhanh, mắt lõm vào, da khô. Lợn con còi, bú kém,
đi lại không vững và nếu không điều trị kịp thời chết rất nhanh. Khi lợn chết

phát như tiêu chảy, viêm khớp dẫn đến chết. Bệnh có tỷ lệ chết cao nếu không
điều trị kịp thời.
- Chẩn đoán:
Dựa trên tiền sử bệnh trong trại, dấu hiệu lâm sàng và phương pháp
phòng trị.
Mổ khám thấy lợn có bệnh tích phổi gan hóa trên thùy phổi trước.


14

Một số phản ứng sử dụng như kết hợp bổ thể, ELISA, miễn dịch huỳnh
quang.
- Điều trị:
Bệnh có thể sử dụng nhiều thuốc khác nhau để điều trị, trại thường sử
dụng với phác đồ:
Tylogeta: 1 ml/10 kg TT. Tiêm bắp ngày/lần.
Hitamox LA: 1 ml/10 kg TT. Tiêm bắp ngày/lần.
Nếu lợn ho nhiều, thở gấp sử dụng thêm bromhexin: 1ml/10kg TT.
Điều trị 3-5 ngày.
* Bệnh viêm bao khớp do Streptococcus (Streptococcosis).
Triệu chứng đặc trưng viêm khớp trên lợn con theo mẹ và lợn cai sữa khi
vệ sinh kém và nuôi trong chuồng cũ làm tổn thương da vùng khớp chân.
- Nguyên nhân: do một loại vi khuẩn có tên Streptococcus suis gây ra. Vi
khuẩn tồn tại rất lâu trên lợn nái ở hạch amidan và cơ quan hô hấp, ngoài ra
còn trên da và âm đạo. Đây là nguồn lây bệnh quan trọng cho lợn con khi
đang theo mẹ. Lợn con bị nhiễm bệnh khi cắt rốn, cắt đuôi, bấm nanh không
tốt hoặc bị trầy xước đầu gối trong quá trình vận động. Vi khuẩn này tồn tại ở
những cơ quan lây nhiễm và khi lợn con bị stress làm giảm sức đề kháng thì
vi khuẩn này xâm nhập vào đường máu gây nhiễm trùng huyết, viêm khớp,
viêm màng não.

lông xù, chậm lớn và có hiện tượng nôn.
Niêm mạc thành ruột non bị tổn thương làm lợn bị tiêu chảy dẫn đến mất
nước. Tỷ lệ chết rất thấp nhưng nếu có sự lây nhiễm kế phát của vi khuẩn tỷ lệ
chết tăng cao. Lợn mắc bệnh còi cọc, chậm lớn và phát triển không đều.
- Chẩn đoán:
Dựa vào triệu chứng lâm sàng và điều trị kháng sinh ít hiệu quả.
Lấy phân lợn tiêu chảy xét nghiệm tìm noãn nang bằng phương pháp phù
nổi.


16

- Điều trị:
Trại điều trị bệnh bằng thuốc: toltrazoril 5% 1ml/liều. Pha uống 1-2
ngày.
2.2.2. Tổng quan các nghiên cứu trong và ngoài nước
2.2.2.1. Tình hình nghiên cứu trong nước
Việc nghiên cứu về sinh trưởng, phát triển, cũng như công tác phòng và
điều trị bệnh giai đoạn lợn con theo mẹ được nhiều tác giả trong và ngoài
nước quan tâm. Đặc điểm của giai đoạn này là lợn con sinh ra không được
cung cấp nguồn dinh dưỡng trực tiếp như khi còn trong bào thai, bộ máy tiêu
hóa lợn con chưa hoàn thiện, môi trường sống thay đổi, lượng sắt do mẹ cung
cấp giảm dần, lợn con dễ mắc bệnh đặc biệt là bệnh đường tiêu hóa.
Theo Trần Cừ (1996) [5], cần tập cho lợn con ăn sớm, vừa bổ sung
thêm chất dinh dưỡng, vừa có tác dụng bổ sung thêm chất tiết dịch vị, tăng
hàm lượng HCL và enzyme, vừa kích thích sự phát triển của dạ dày và ruột để
thích ứng kịp thời với chế độ ăn sau cai sữa.
Theo Nguyễn Quang Linh (2005) [13], lợn con trong giai đoạn bú sữa
có khả năng sinh trưởng và phát dục rất nhanh. Từ lúc sơ sinh đến khi cai sữa
trọng lượng của lợn con tăng 10 - 12 lần. So với các gia súc khác thì tốc độ

máu để duy trì và thúc đẩy quá trình phát triển của gia súc.
Theo Đặng Minh Phước và cs (2006) [15], bổ sung chế phẩm axit hữu
cơ có thành phần axit lactic, formic, photphoric với tỷ lệ 0,3 – 0,5% vào thức
ăn lợn con sau cai sữa ở giai đoạn 42 – 56 ngày tuổi đã có tác dụng cải thiện
tăng khối lượng từ 4,75% - 10,29%. Tiêu tốn thức ăn/kg tăng khối lượng giảm
từ 7,57% - 8,11%. Tỷ lệ tiêu chảy giảm từ 33,78% - 49,23% so với đối chứng.
Công ty Pig Việt Nam (1998) [3], đã khẳng định rằng: Dù cho lợn nái
ăn tốt và nhiều sữa vẫn nên cho lợn con dùng cám tập ăn sớm để tăng khối
lượng sau cai sữa, thêm vào đó giúp lợn con làm quen với cám khô sau khi


18

cai sữa 3 - 4 tần tuổi, cho lợn con tập ăn sớm ở 7 ngày tuổi, dùng loại máng
ăn nhỏ, nhẹ, dễ cọ rửa, cho lợn con ăn bằng cách rải một ít cám phía trước,
tạo cho chúng niềm vui thích và mong muốn được ăn, không để máng ăn trực
tiếp dưới bóng đèn sưởi và gần vòi uống.
Cho lợn tập ăn 3 - 4 lần/ ngày, dần tăng lượng cám lên, cung cấp nước
uống thường xuyên cho lợn con.
Công ty Cargill tại Việt Nam (2003) [1], đưa ra lý do mà các nhà chăn
nuôi cần phải cho lợn tập ăn sớm từ 7 - 10 ngày là:
+ Sau 21 ngày tiết sữa, lượng sữa mẹ bắt đầu giảm dần. Nên chỉ đáp
ứng được 95% nhu cầu dinh dưỡng cho lợn con.
+ Cho lợn tập ăn sớm, thức ăn tập ăn sớm sẽ kích thích hệ tiêu hóa lợn
con sớm phát triển. Điều đó giúp lợn con khi cai sữa sẽ ăn, tiêu hóa và hấp thu
tốt thức ăn và làm giảm được sự hao hụt lợn mẹ.
+ Tránh được nguy cơ lợn mẹ bị yếu chân, bại liệt và giảm số con đẻ ở
những lứa đẻ tiếp theo.
+ Rút ngắn được thời gian chờ phối của lợn nái, làm giảm chi phí thức
ăn cho lợn nái trong thời gian này.


1000C trong 15 phút, còn độc tố không chịu nhiệt (Heat labiletoxin – LH) bị
vô hoa ̣t ở nhiê ̣t đô ̣ 600C trong 15 phút.
Glawischning E. (1992) [24], xác định Clostridium perfringens type A
và type C là một trong những nguyên nhân gây tiêu chảy và đã gây thiệt hại
kinh tế lớn cho người chăn nuôi.
Akita (1993) [22], đã nghiên cứu sản xuấ t kháng thể đă ̣c hiê ̣u qua lòng
đỏ trứng gà dùng trong phò ng và chữa bê ̣nh tiêu chảy ở lơ ̣n con . Cùng với sự
phân lâ ̣p và nghiên cứu các yế u tố gây bê ̣nh của

E.coli, viê ̣c nghiên cứu và

sản xuất các chế phẩm phòng tiêu chảy ở lợn cũng được các nhà khoa học
trên thế giới đă ̣c biê ̣t quan tâm.



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status