VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
LÊ THỊ LAN PHƯƠNG
BIỆN PHÁP ĐƯA NGƯỜI NGHIỆN VÀO CƠ SỞ
CAI NGHIỆN BẮT BUỘC TỪ THỰC TIỄN
THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI, NĂM 2017
VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
LÊ THỊ LAN PHƯƠNG
BIỆN PHÁP ĐƯA NGƯỜI NGHIỆN VÀO CƠ SỞ
CAI NGHIỆN BẮT BUỘC TỪ THỰC TIỄN
THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
Chuyên ngành: Luật Hiến pháp và luật Hành chính
Mã số: 60 38 01 02
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
nghiện vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại TP Đà Nẵng ................................... 36
Thực tiễn thực hiện các biện pháp đưa người nghiện vào cơ sở cai nghiện
bắt buộc từ năm 2015 đến nay ........................................................................ 40
Đánh giá chung về thực hiện các biện pháp đưa người nghiện vào cơ sở cai
nghiện bắt buộc ............................................................................................... 48
CHƯƠNG 3. QUAN ĐIỂM, GIẢI PHÁP VỀ VIỆC THỰC HIỆN CÁC
BIỆN PHÁP ĐƯA NGƯỜI NGHIỆN VÀO CƠ SỞ CAI NGHIỆN BẮT
BUỘC TẠI THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG ........................................................ 59
Quan điểm về việc thực hiện các biện pháp............................................. 59
Giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về các biện pháp đưa
người nghiện vào cơ sở cai nghiện bắt buộc ................................................... 67
KẾT LUẬN .................................................................................................... 79
TÀI LIỆU THAM KHẢO
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BCA
: Bộ công an
BLĐTB-XH : Bộ lao động thương binh – xã hội
MTTH
: Ma túy tổng hợp
PCMT
đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc của TAND
46
các quận, huyện Tp Đà Nẵng năm 2015
Thống kê số liệu quyết định áp dụng biện pháp
2.2.
đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc của TAND
các quận, huyện Tp Đà Nẵng năm 2016.
47
DANH MỤC CÁC BẢNG
Số hiệu
Tên hình
hình
2.1.
Thống kê lập hồ sơ cai nghiện công an TP. Đà
Nẵng
Trang
41
tác hại do tệ nạn ma tuý gây ra ảnh hưởng nghiêm trọng đến phát triển kinh tế,
xã hội và an ninh trật tự của đất nước, thì những đối tượng nghiện ma túy sau
khi cai nghiện tại gia đình, cộng đồng mà vẫn tiếp tục tái nghiện sẽ được đưa
vào các trung tâm cai nghiện bắt buộc tại địa phương. Những đối tượng này sau
1
khi đưa vào cơ sở sẽ được chữa bệnh, sinh hoạt, học nghề và cải tạo theo quy
định của pháp luật để sau này tái hòa nhập cộng đồng, họ có thể tự nuôi sống
bản thân bằng cái nghề mà họ đã được học khi đi cai. Theo thống kê, trên cả
nước có khoảng 123 trung tâm cai nghiện bắt buộc (Tháng 8/2016) và con số
này sẽ tăng dần trong vài năm tiếp theo. Tuy nhiên, vấn đề đưa người nghiện
đi cai nghiện bắt buộc trong các tỉnh, thành trên cả nước còn gặp nhiều vướng
mắc và thiếu sót. Một mặt các văn bản hướng dẫn còn nhiều bất cập, chưa sát
thực với tình hình của địa phương, mặt khác tình hình người nghiện và đặc thù
của mỗi địa phương là khác nhau nên chưa có sự áp dụng đồng nhất theo quy
định của pháp luật. Chính vì vậy, mỗi địa phương cần phải chủ động, linh hoạt
trong việc áp dụng đưa người nghiện vào cơ sở cai nghiện bắt buộc phù hợp
với điều kiện và đặc thù của mình để đảm bảo trật tự an ninh-xã hội và các vấn
đề khác trên địa bàn.
Đà Nẵng là đơn vị đi đầu trong cả nước thí điểm thành công đưa người
nghiện đi cai bắt buộc và là địa phương đầu tiên chủ động, linh hoạt tháo gỡ
những bất cập trong các văn bản hướng dẫn thi hành việc đưa người nghiện vào
cơ sở cai nghiện, phù hợp với tình hình của địa phương mà không vi phạm pháp
luật. Trong những năm qua, TP đã nổ lực không ngừng trong việc truy quét,
xác định và bắt tạm giam các đối tượng bị nghiện nhằm mục đích cai nghiện và
giữ vững nền trị an trên địa bàn. Ban đầu, công tác này còn gặp nhiều khó khăn
do vướng mắc về luật, các đối tượng thường xuyên di chuyển địa điểm và không
xác định được nơi cư trú. Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện, các cơ quan
pháp luật còn một số vướng mắc trong thực tiễn nhưng TP đã kịp thời ban hành
QĐ 28/2014/QĐ-UBND, chỉ thị số 37-CT/TU chủ động tháo gỡ và “phá rào”
để việc thực hiện đưa người vào cơ sở cai nghiện được diễn ra nhanh chóng
không mất nhiều thời gian, không phải chờ đợi văn bản hướng dẫn từ cấp
trên…tránh tình trạng người nghiện lẫn trốn hoặc gây ra những hành vi đe dọa
đến an ninh trật tự trên địa bàn. Cơ quan Công an, ngành Lao động-Thương
3
binh- Xã hội và Tòa án đã cùng nhau phối hợp thực hiện kiểm ra, rà soát, lập
hồ sơ, đề nghị cai nghiện và đưa ra quyết định áp dụng các biện pháp đối với
người nghiện. Công việc này được thực hiện đúng quy trình, thủ tục theo luật
định mà không có sự đùn đẩy trách nhiệm giữa các cơ quan với nhau. Hơn nữa,
các cán bộ thực hiện luôn ý thức được nhiệm vụ, trách nhiệm mình cần phải
làm trên tinh thần làm việc theo pháp luật, đúng chủ trương chính sách của
Đảng và nhà nước. Mặc khác việc tập huấn, trao đổi, kiến nghị thường xuyên
thực hiện giữa các ngành có liên quan trong TP, năng lực chuyên môn được
nâng cao qua thực tiễn áp dụng; điều này đã thúc đẩy công tác phòng chống tệ
nạn ma túy cũng như đưa người nghiện đi cai nghiện bắt buộc được thực hiện
nhanh và hiệu quả. Với tinh thần cai nghiện để trở thành người bình thường,
giảm bớt gánh nặng cho gia đình, xã hội người nghiện đã ý thức được cai nghiện
là điều nên làm. Thêm vào đó, sự quan tâm kịp thời của ban lãnh đạo TP, trung
tâm cai nghiện và các cơ sở được đầu tư cơ sở vật chất đàng hoàng, chỉnh chu,
chính sách, chế độ đảm bảo được nhu cầu sinh hoạt tối thiểu của các học viên
trong quá trình điều trị chữa bệnh; để sau khi trở về cộng đồng, các học viên ý
thức được tác hại, hậu quả của việc sử dụng ma túy, có tâm lý vững vàng không
bị thành phần xấu lôi kéo dụ dỗ… Làm được điều này,không chỉ các cơ quan
liên quan cố gắng thực hiện tốt nhiệm vụ, không chỉ học viên ý thức được việc
cai nghiện là bắt buộc, cần thiết; mà cần có sự trợ giúp của cộng đồng. Tức là
khoa học về đề tài này còn quá ít. Các đề tài liên quan đến lĩnh vực này chủ yếu
được nhìn nhận dưới góc độ là những bài tổng kết thường niên, hoặc những bài
viết mang tính chất tham khảo, rút kinh nghiệm…mà chưa đi vào thực tiễn ngọn
nguồn của vấn đề. Hiện nay, chưa có một đề tài nào nghiên cứu toàn diện và
quy mô về việc “đưa người nghiện đi cai nghiện bắt buộc”. Qua quá trình đọc
tài liệu, tham khảo, tác giả thấy rằng hầu hết các công trình nghiên cứu, các bài
viết, bài báo…chỉ dừng lại ở mức độ trao đổi, bình luận về lĩnh vực ma túy và
người nghiện ở các khía cạnh khác nhau. Nếu có thì phải chăng những bài viết
5
đó chỉ mang tính chất cộng đồng, tức là bàn luận về những vấn đề nổi trội hoặc
là trình bày những vấn đề thời sự liên quan đến người nghiện, biện pháp cai
nghiện với mục đích là thống kê và dự đoán, cảnh báo mức độ nghiêm trọng
chứ chưa nghiên cứu sâu để bàn luận và đưa ra giải pháp áp dụng thực tiễn.
Liên quan đến lĩnh vực này, đã có một số công trình nghiên cứu phải kể
đến như:
Luận văn thạc sĩ “Từ biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở chữa bệnh
đến biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc” (năm 2014) của tác giả Phạm
Tiến Thành bảo vệ thành công tại khoa luật- Đại học quốc gia Hà Nội. Luận
văn này đã chỉ ra được những biện pháp xử lý hành chính dựa trên quy định
của pháp luật, nhưng lại chưa nêu rõ việc xử lý hành chính đó có phù hợp hay
không, trong trường hợp nào cần phải đưa vào cơ sở cai nghiện, trường hợp
nào không? Phần lý luận còn mang tính pháp lý, chưa nêu được điểm nổi trội
và áp dụng vào thực tiễn.
Luận văn thạc sĩ “Đảm bảo quyền con người trong cơ sở cai nghiện bắt
buộc qua thực tiễn thành phố Hải Phòng” (năm 2016) của tác giả Nguyễn Quốc
Hiệu bảo vệ thành công tại khoa luật-Đại học quốc gia Hà Nội. Đây là đề tài
nêu cao tinh thần bảo vệ quyền con người mà trước đó chưa có một công trình
Báo cáo“ sơ kết 3 năm thực hiện quyết định 151 của thủ tướng chính phủ
về cai nghiện-phục hồi”, Bộ Lao động-Thương binh-Xã hội, Hà Nội, 2004
Tài liệu “Giới thiệu và hướng dẫn áp dụng mô hình cai nghiện có hiệu
quả, Cục phòng chống tệ nạn xã hội”, Hà Nội 2007.
Ngoài ra còn nhiều bài viết đăng trên các tạp chí về vấn đề này với những
cách tiếp cận khác nhau.
Như vậy, có thể thấy rằng, các công trình nghiên cứu, tài liệu đã được liệt
kê trên chỉ mới đề cập rất ít tới vấn đề người nghiện và cai nghiện mà chưa có
đề tài nào nghiên cứu tổng thể về lý luận và thực tiễn về biện pháp đưa người
nghiện vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, đặc biệt là trong phạm vi thực tiễn tại TP
7
Đà Nẵng. Tuy vậy, trong quá nghiên cứu các công trình đã được công bố đó, tác
giả đã tham khảo được nhiều các vấn đề về lý luận và thực tiễn rất có giá trị đối
với đề tài của mình trên cơ sở tiếp thu có chọn lọc những vấn đề đã được nêu ra
trong các công trình khoa học đó.
Do đó, tác giả hy vọng rằng, với đề tài này, trong quá trình nghiên cứu và
thực hiện đây sẽ là luận văn có tính khoa học nghiên cứu một cách có hệ thống
trên cả phương diện lý luận và thực tiễn cũng như góp phần nâng cao hiệu quả
việc thực hiện các biện pháp đưa người nghiện vào cơ sở cai nghiện bắt buộc
tại TP Đà Nẵng nói riêng và trên phạm vi cả nước nói chung góp phần ngăn
chặn, đẩy lùi tệ nạn ma túy và hạn chế thấp nhất số người nghiện còn tồn tại ở
ngoài cộng đồng.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu:
3.1. Mục đích nghiên cứu :
Luận văn nghiên cứu những vẫn đề lý luận, pháp luật về biện pháp đưa
người nghiện đi cai nghiện bắt buộc từ thực tiễn tại TP Đà Nẵng, từ đó đưa ra
các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện các biện pháp
tiễn để từ đó hoàn thiện hệ thống pháp luận trong việc áp dụng đối với các đối
tượng bị nghiện hiện nay.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Việc nghiên cứu luận văn sử dụng các phương pháp khoa học xã hội, bao
gồm phương pháp lịch sử, phương pháp logic, phương pháp hệ thống, phương
pháp liệt kê, phương pháp phân tích và tổng hợp để nghiên cứu cơ sở lý luận
khoa học, hoàn thiện hệ thống lý luận pháp lý. Các phương pháp được sử dụng
linh hoạt để đảm bảo hiệu quả và tính thuyết phục của việc nghiên cứu.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1. Ý nghĩa lý luận
Làm rõ khái niệm, nội dung về các biện pháp đưa người nghiện vào cơ sở
cai nghiện bắt buộc từ thực tiễn TP Đà Nẵng. Từ đó liên hệ dẫn chứng đến các
văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh về vấn đề này.
9
Hệ thống khái quát các quy định pháp luật về việc thực hiện các biện pháp
đưa người nghiện vào cơ sở cai nghiện bắt buộc để đánh giá cụ thể, chi tiết có
cơ sở thực tiễn góp phần hoàn thiện hệ thống khoa học pháp lý chuyên ngành,
cung cấp luận cứ cho khoa học cho việc tham khảo để sửa đổi, bổ sung hoàn
thiện pháp luật nói chung.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn :
Những luận điểm trên là cơ sở khoa học để sửa đổi, bổ sung hoàn thiện
sách pháp luật và nâng cao hiệu quả chính sách, pháp luật về thực hiện các biện
đưa đi cai nghiện bắt buộc ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay
Luận văn có thể được sử dụng để làm tài liệu tham khảo trong quá trình
nghiên cứu, giảng dạy về pháp luật ở bậc cao đẳng, đại học hoặc sau đại học về
nội dung đưa người đi cai nghiện tại cơ sở cai nghiện bắt buộc.
7. Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, nội dung chính của
thần kinh trung ương, có tác dụng giảm đau, gây cảm giác hưng phấn, dễ chịu;
dùng nhiều lần sẽ đưa đến tình trạng lệ thuộc vào ma túy.[29]
Theo định nghĩa của Tổ chức Liên Hợp Quốc, ma tuý được hiểu là “Các
chất có nguồn gốc tự nhiên hay tổng hợp, khi xâm nhập vào cơ thể sẽ làm thay
đổi trạng thái tâm sinh lý của người sử dụng”.
Tổ chức Y tế thế giới cũng đưa ra khái niệm như sau: “Ma túy là các chất
độc, khi xâm nhập vào cơ thể sẽ phá hủy các cơ quan nội tạng”.
Bộ luật Hình sự Việt Nam được Quốc Hội thông qua ngày 21/12/1999 và
11
có hiệu lực thi hành từ 1/6/2000 quy định về ma tuý theo hướng liệt kê như sau:
Ma tuý bao gồm nhựa thuốc phiện, nhựa cần sa, cao coca, lá, hoa, quả cây cần
sa, quả thuốc phiện khô, quả thuốc phiện tươi, heroine, cocaine, các chất ma
tuý khác ở thể lỏng hay thể rắn.
Luật Phòng, Chống ma tuý của Việt Nam được Quốc hội thông qua ngày
9/12/2000, sửa đổi bổ sung năm 2008, tại điều 2 khoản 1 khoản 2 khoản 3 cũng
góp phần làm rõ khái niệm ma túy thông qua định nghĩa về chất ma túy:
- Chất ma tuý là các chất gây nghiện, chất hướng thần được quy định trong
các danh mục do Chính phủ ban hành.
- Chất gây nghiện là chất kích thích hoặc ức chế thần kinh, dễ gây tình
trạng nghiện đối với người sử dụng.
- Chất hướng thần là chất kích thích, ức chế thần kinh hoặc gây ảo giác,
nếu sử dụng nhiều lần có thể dẫn tới tình trạng nghiện đối với người sử dụng.
Từ những định nghĩa được đưa ra trên đây, ta có thể khái quát một cách
chung nhất rằng: Ma túy dùng để chỉ các chất gây nghiện thuộc loại nguy hiểm
nhất: thuốc phiện, morphine, heroin, cocain, cần sa và một số thuốc tổng hợp
có tác dụng tương tự morphine được sử dụng trong điều trị y tế. Như vậy, ma
túy là chất gây nghiện có nguồn gốc tự nhiên hoặc nhân tạo, khi đưa vào cơ thể
làm thay đổi được trạng thái tâm sinh lý của người dùng và gây nghiện; ví dụ:
thuốc lá, thuốc lào…
- Phân loại theo tác dụng của chất ma túy đến hệ thần kinh trung ương:
Dựa trên tác dụng chủ yếu của chất ma túy đến hệ thần kinh trung ương của
con người, ta có thể chia thành 3 loại:
Nhóm thuốc an thần, ức chế hệ thần kinh trung ương: Thuốc phiện, những
chất chế ra từ thuốc phiện (heroine, morphine, cocaine, methadone và pethidine)
và thuốc ngủ (lumiau, valium, seconau phenobacbital, serepax, mogadon,
seduexen…). Tác động chủ yếu khi sử dụng là buồn ngủ, an thần, yên dịu, giảm
nhịp tim, giảm hô hấp…
Nhóm các chất gây kích thích: Bao gồm amphetamine và các dẫn xuất của
13
nó; có tác dụng làm tăng sinh lực, gây hưng phấn, tăng hoạt động của cơ thể,
tăng nhịp tim, hô hấp…
Nhóm các chất gây ảo giác: điển hình gồm LSD (Lysergic Acid
Diethylamide) hay còn gọi là ma túy gây ảo giác, ecstasy (thuốc lắc). Việc sử
dụng các chất này với lượng lớn có thể làm thay đổi nhận thức về hiện tại, về
môi trường xung quanh; khiến cho người dùng có thể nghe thấy, nhìn thấy
những sự việc không có thật (ảo thanh, ảo giác).
- Phân loại theo luật pháp ma túy được phân thành 2 loại:
Ma túy hợp pháp: là những loại ma túy thông dụng: rượu bia, thuốc lá (nicô-tin), ca-phê-in, thuốc ngủ an thần, thuốc giảm đau thông thường…
Ma túy bất hợp pháp: Theo luật pháp của Việt Nam, những chất ma túy
bất hợp pháp có thể kể đến là: thuốc phiện, cần sa, heroin, cocaine, thuốc lắc,
các chất gây nghiện kích thích dạng Amphetamins…
Dấu hiện nhận biết và đặc điểm của người nghiện ma túy
1.1.2.1. Quan niệm:
Người nghiện ma túy là những đối tượng tiềm ẩn gây nguy hiểm cho xã
đánh nhau, tự rạch tay, dung thuốc lá đốt chân
Dấu hiệu nhận biết sớm người nghiện heroin: Người nghiện ma túy
thường có giờ giấc sinh hoạt thất thường như: thức khuya, đêm ngủ ít, dậy
muộn, ngày ngủ nhiều…Họ có thói quen tụ tập, đi lại đàn đúm với người có
đời sống sinh hoạt buông thả như không lao động, không học hành… hoặc chơi
thân với người sử dụng heroin, thích ở một mình, ít hoặc ngại tiếp xúc với mọi
người (kể cả người thân trong gia đình). Đối với người sử dụng heroin nặng,
còn có biểu hiện giảm sút sức khoẻ rõ rệt, thường xuyên ngáp vặt, mắt lờ đờ,
da tái, môi thâm, cơ thể hôi hám, ngại tắm, ăn mặc lôi thôi lếch thếch…
Dấu hiệu của nghiện ma túy tổng hợp dạng kích thích:
Cơ thể của người nghiện bị tác động chủ yếu trên hệ thần kinh- hệ tim
mạch-hệ tiêu hóa. Họ xuất hiện những hiện tượng như nóng bừng mặt, xanh
xao, tím tái thiếu ô xy, sốt, đau đầu, nhịp tim nhanh, tăng huyết áp, buồn nôn,
15
nôn, mất men răng, thở hụt hơi, run, loạng choạng. Ngoài ra, người sử dụng
ATS có các biểu hiện bồn chồn, loạn khí sắc, mất ngủ, cáu kỉnh, hoảng sợ, lú
lẫn, trở nên thù địch, và các triệu chứng của rối loạn lo âu. Ý tưởng liên hệ,
hoang tưởng và các ảo giác có thể xảy ra.
Dấu hiệu nhận biết người sử dụng ma túy đá
Người sử dụng ma túy đá ít và không thường xuyên thường có những thay
đổi trong sinh hoạt và làm việc như ăn ngủ thất thường (lười ăn, chán ăn), không
quan tâm nhiều đến các sở thích trước đây, ít quan tâm đến người thân…Họ
thở nhanh, không cảm thấy đói, nhịp tim, huyết áp và thân nhiệt tăng, đồng tử
giãn. Bên cạnh đó, người nghiện còn có hiện tượng miệng khô, hôi, khó nuốt,
nếu dùng nhiều ngày sẽ có tình trạng mất nước và sốt cao. Dùng lần đầu có có
hiện tượng nhức đầu chóng mặt nôn ọe và nấc cụt.
Trong trường hợp sử dụng nhiều, thường xuyên, người nghiện thường mang
theo bên mình bình ga mini, bật lửa, ống hút, ống thủy tinh v.v… (khi họ dùng
khứu não làm tăng trí tưởng tượng, làm mất buồn rầu, sợ hãi, tạo nên trạng thái
lạc quan, nhìn màu thấy đẹp, nghe tiếng động thấy dễ chịu, mất cảm giác đói…
Nghiện Cocain kích thích thần kinh trung ương gây sảng khoái, khoái cảm, ảo
giác, giảm mệt mỏi, hết đói khát. Nghiện ma túy tổng hợp (Amphetamin:
Metham phetamin, Ecstancy…) gây các biểu hiện rối loạn tim mạch, dao động
huyết áp, đau mỏi cơ, gầy sút cân, rối loạn thần kinh thực vật, làm cùn mòn ý
thức, căng thẳng cảm xúc, mất ngủ, lo âu, giảm hoặc mất khả năng xét đoán.
Khái niệm, đặc điểm của cơ sở cai nghiện bắt buộc:
1.1.3.1. Khái niệm.
Cơ sở cai nghiện bắt buộc là nơi cách ly có thời hạn của những đối tượng
bị nghiện nhằm tách ra khỏi cộng đồng theo quy định của pháp luật để cải tạo
trở thành người bình thường.
Các cơ sở này được hình thành nhằm đưa các đối tượng nghiện hút sau
khi bị xử lý vi phạm hành chính mà vẫn tiếp tục tái nghiện tại cộng đồng vào
17