MỞ ĐẦU
1.Tính cấp thiết của đề tài
Viện kiểm sát nhân dân (VKSND) là cơ quan duy nhất có chức năng
thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp. Hoạt động thực hành
quyền công tố và kiểm sát khởi tố bị can là một trong những hoạt động thực
hiện chức năng của ngành trong lĩnh vực tố tụng hình sự được quy định tại
Điều 14 Luật tổ chức VKSND 2014, Điều 112 và Điều 113 Bộ luật tố tụng
hình sự (BLTTHS) 2003, Điều 165 và Điều 166 BLTTHS 2015. Nếu VKSND
thực hiện tốt hoạt động thực hành quyền công tố và kiểm sát khởi tố bị can thì
mọi hành vi phạm tội, người phạm tội mới được phát hiện, khởi tố, điều tra,
truy tố, xét xử kịp thời, nghiêm minh, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật,
không làm oan người vô tội, không bỏ lọt tội phạm và người phạm tội. Ngược
lại, nếu VKSND không thực hiện tốt nhiệm vụ, quyền hạn thì sẽ dẫn đến việc
oan sai, bỏ lọt tội phạm, gây khó khăn cho quá trình điều tra, truy tố, xét xử
sau này.
Trong những năm qua, ngành KSND đã có nhiều cố gắng thực hiện tốt
chức năng, nhiệm vụ được giao và đã đạt được nhiều thành tích đáng kể trong
hoạt động thực hành quyền công tố và kiểm sát khởi tố bị can. Tuy nhiên, bên
cạnh những kết quả đã đạt được thì hoạt động này vẫn còn nhiều hạn chế,
thiếu sót. Một số Kiểm sát viên (KSV) còn chưa nắm vững quy định của pháp
luật, chưa vận dụng linh hoạt và sáng tạo các quy định của pháp luật cùng với
kỹ năng nghiệp vụ dẫn đến tình trạng oan sai, bỏ lọt tội phạm vẫn còn diễn ra
ở một số địa phương. Bên cạnh đó, tuy BLTTHS đã quy định khá đầy đủ về
khởi tố bị can nhưng trong quá trình thực hiện vẫn còn một số bất cập, đặc
biệt là những quy định liên quan đến vai trò của Viện kiểm sát (VKS) trong
việc áp dụng những quy định này.
Từ thực tế nêu trên cho thấy, hoạt động thực hành quyền công tố và
kiểm sát khởi tố bị can là một trong những vấn đề cần được nghiên cứu, làm
rõ, trên cơ sở đó tạo ra nhận thức đúng đắn về vai trò, nhiệm vụ của VKS
trong việc khởi tố bị can, đề ra một số giải pháp để nâng cao chất lượng hoạt
quyền công tố và kiểm sát điều tra các vụ án hình sự, Đề tài khoa học cấp
trường, Hà Nội (2008), tr. 13-22, Th.S. Phạm Quang Luyện.
2
- Công tác điều tra của Viện kiểm sát nhân dân, thực trạng và phương
hướng đổi mới, Đề tài khoa học cấp Bộ, Hà Nội (2010), tr. 67-73, Viện Khoa
học Kiểm sát.
- Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về thực hành quyền công tố và kiểm
sát điều tra các vụ án hình sự của Viện kiểm sát nhân dân (trên cơ sở các số
liệu thực tiễn địa bàn thành phố Hà Nội), Luận văn Thạc sĩ Luật học, Hà Nội
(2013), Cao Việt Cường.
(iii)Nhóm tài liệu là bài viết trên các tạp chí khoa học luật:
-Một số vấn đề lý luận, thực tiễn về khởi tố bị can, Tạp chí Tòa án –
Tòa án nhân dân tối cao, số 7/2006, tr.22-24.
- Áp dụng các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự về việc quyết định
khởi tố bị can, thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố vụ án hình sự, khởi tố
bị can, Tạp chí Kiểm sát – Viện kiểm sát nhân dân tối cao, số 02/2007, tr.2246, Tiến sĩ Trần Quang Tiệp.
- Một số vấn đề về khởi tố bị can và phê chuẩn quyết định khởi tố bị
can, Tạp chí Kiểm sát – Viện kiểm sát nhân dân tối cao, số 02/2007, tr.18-21,
Tiến sĩ Đỗ Văn Đương.
- Cần sửa đổi, bổ sung một số quy định của Bộ luật tố tụng hình sự về
khởi tố bị can, thay đổi, bổ sung quyết định phê chuẩn quyết định khởi tố bị
can, Tạp chí Kiểm sát – Viện kiểm sát nhân dân tối cao, số 23/2008, tr.13-17,
Nguyễn Tiến Sơn.
- Bàn về thẩm quyền của Viện kiểm sát trong việc quyết định khởi tố bị
can, Tạp chí Kiểm sát – Viện kiểm sát nhân dân tối cao, số Tân Xuân
(02/2009), tr.35-38, Nguyễn Ngọc Khánh.
Những bài viết, công trình nghiên cứu trên chỉ đề cập đến hoạt động
Đề tài được nghiên cứu trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa
Mác – Lenin, tư tưởng Hồ Chí Minh, các quan điểm và đường lối của Đảng,
Nhà nước về cải cách tư pháp. Đề tài sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ
thể như phân tích, so sánh, tổng hợp, quy nạp, diễn dịch, logic.
5. Ý nghĩa của đề tài
Đề tài đã góp phần làm rõ một số vấn đề lý luận và thực tiễn về thực
hành quyền công tố và kiểm sát việc khởi tố bị can; đưa ra một số giải pháp
4
để nâng cao chất lượng hoạt động thực hành quyền công tố và kiểm sát việc
khởi tố bị can nhằm phục vụ cho công tác nghiệp vụ của ngành.
6. Kết cấu khóa luận
Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, phần nội dung chính của khóa
luận bao gồm 3 chương:
Chương 1:Một số vấn đề lý luận về thực hành quyền công tố và kiểm
sát việc khởi tố bị can
Chương 2:Thực trạng công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát
việc khởi tố bị can
Chương 3: Giải pháp nâng caochất lượng hoạt động thực hành quyền
công tố và kiểm sát việc khởi tố bị can
5
CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỰC HÀNH QUYỀN
CÔNG TỐ VÀ KIỂM SÁT VIỆC KHỞI TỐ BỊ CAN
1.1.Khái niệm, đối tượng, phạm vi của hoạt động thực hành quyền
công tố và kiểm sát việc khởi tố bị can
cơ bản đó là khái niệm về thực hành quyền công tố trong quá trình khởi tố bị
can và khái niệm kiểm sát việc khởi tố bị can. Việc làm rõ khái niệm thực
hành quyền công tố và kiểm sát việc khởi tố bị can được thực hiện qua làm rõ
các khái niệm sau đây:
Thứ nhất, về khái niệm thực hành quyền công tố trong việc khởi tố bị
can. Để tìm hiểu khái niệm thực hành quyền công tố trước hết chúng ta cần
tìm hiểu khái niệm Quyền công tố bởi vì khái niệm thực hành quyền công tố
thuộc nội dung của khái niệm quyền công tố (quyền công tố rộng hơn).
Quyền công tố là một khái niệm pháp lý gắn liền với bản chất Nhà
nước, nó tồn tại trong bất kỳ các kiểu Nhà nước nào. Quyền công tố đến nay
đã trở thành một chế định pháp lý độc lập được thừa nhận chung trong tố tụng
hình sự của các nhà nước pháp quyền. Ở nước ta, quyền công tố xuất hiện
cùng với sự ra đời của Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa năm 1945.
Tháng 7 năm 1967, sau khi nghe báo cáo công tác của ngành Kiểm sát nhân
dân trước Ủy ban Thường vụ Quốc hội, đồng chí Trường Chinh, Chủ tịch Ủy
ban Thường vụ Quốc hội đã nhấn mạnh “Không có cơ quan nhà nước nào có
thể thay thế ngành Kiểm sát để sử dụng quyền công tố” [18].
Từ điển Luật học giải thích quyền công tố là “quyền của Nhà nước
truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội” [12]. Quyền buộc tội
của Nhà nước đối với người phạm tội thể hiện ở quyền của Nhà nước áp dụng
các biện pháp cần thiết để tìm ra người phạm tội và truy cứu trách nhiệm hình
sự đối với người đó ra trước Tòa án để xét xử và thực hiện việc buộc tội tại
phiên tòa. Ở nước ta, quyền công tố được Nhà nước giao cho VKSND thực
hiện và chỉ được thực hiện trong tố tụng hình sự.
Thuật ngữ thực hành quyền công tố lần đầu tiên được quy định tại Điều
138 Hiến pháp năm 1980, sau đó là Điều 137 Hiến pháp năm 1992; Nghị
quyết số 51/2001/QH10 về sửa đổi, bổ sung Hiến pháp năm 1992; Điều 107
Hiến pháp năm 2013; BLTTHS các năm 1988, 1990 (sửa đổi, bổ sung), 2003,
2015; Luật tổ chức VKSND các năm 1981, 1988 (sửa đổi, bổ sung), 2002,
thì “kiểm sát” là hoạt động của VKSND nhằm kiểm tra, giám sát việc tuân
thủ pháp luật của các cơ quan nhà nước.
Với cách giải thích khái niệm “kiểm sát” của hai cuốn từ điển trên thì
kiểm sát gồm hai loại hình hoạt động cơ bản: giám sát và kiểm tra. Hoạt động
giám sát là hoạt động theo dõi các hoạt động của các đối tượng bị giám sát và
khi cần thiết thì sử dụng các biện pháp tác động phù hợp để yêu cầu người, cơ
quan bị giám sát có hành vi vi phạm pháp luật sửa chữa vi phạm đó. Hoạt
8
động kiểm tra là hoạt động xem xét, đánh giá hoạt động của con người, cơ
quan bị kiểm tra [2].
Như vậy, kiểm sát hoạt động tư pháp là một trong những hình thức
kiểm soát quyền lực tư pháp của Nhà nước để kiểm sát tính hợp pháp của các
hành vi, quyết định của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong hoạt động tư pháp. Ở
nước ta, quyền kiểm sát hoạt động tư pháp được Nhà nước giao cho VKS thực
hiện.
Tại Khoản 1 Điều 4 Luật Tổ chức VKSND năm 2014 quy định: "Kiểm
sát hoạt động tư pháp là hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân để kiểm sát
tính hợp pháp của các hành vi, quyết định của cơ quan, tổ chức, cá nhân
trong hoạt động tư pháp" .
Khái niệm kiểm sát việc khởi tố bị can có nguồn gốc từ thuật ngữ
“Kiểm sát việc tuân theo pháp luật”. Tuy nhiên, kiểm sát việc tuân theo pháp
luật có phạm vi rộng hơn. Từ khái niệm về kiểm sát hoạt động tư pháp nêu
trên, có thể hiểu rằng“Kiểm sát việc khởi tố bị can là việc VKSND sử dụng
tổng hợp các quyền hạn thuộc nội dung kiểm sát được quy định trong
BLTTHS để kiểm sát tính hợp pháp của các hành vi, quyết định của cơ quan,
tổ chức, cá nhân trong quá trình khởi tố bị can nhằm đảm bảo việc khởi tố bị
can của cơ quan có thẩm quyền là có căn cứ, hợp pháp, đúng người, đúng tội
thẩm phán TANDTC, Thông tư liên tịch…
1.1.3. Phạm vi
Theo nghĩa thông thường, phạm vi là khoảng được giới hạn của một
hoạt động, một vấn đề hay một cái gì. Phạm vi của công tác thực hành quyền
công tố và kiểm sát việc khởi tố bị can được hiểu là giới hạn hoạt động mà
VKSND tiến hành để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội và
kiểm sát việc tuân theo pháp luật đối với hành vi, quyết định tố tụng của các
chủ thể nhằm đảm bảo cho việc khởi tố bị can kịp thời, đúng pháp luật. Xác
định phạm vi thực hành quyền công tố và kiểm sát việc khởi tố bị can cũng là
xác định thời điểm bắt đầu và thời điểm kết thúc của công tác thực hành
quyền công tố và kiểm sát việc khởi tố bị can. Hoạt động thực hành quyền
công tố và kiểm sát việc khởi tố bị can thực hiện trong phạm vi gắn liền với
các hoạt động tố tụng của chủ thể có thẩm quyền theo luật định liên quan đến
việc khởi tố bị can.
10
1.2. Nội dung hoạt động thực hành quyền công tố và kiểm sát việc
khởi tố bị can
1.2.1. Nghiên cứu hồ sơ đề nghị phê chuẩn quyết định khởi tố bị
can, quyết định thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố bị can
Theo quy định tại Khoản 4 Điều 126 và Khoản 2 Điều 127 BLTTHS
2003thì thời hạn VKS nghiên cứu hồ sơ là 03 ngày kể từ ngày nhận được
quyết định khởi tố bị can, quyết định thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố
bị can. Tại BLTTHS 2015 có bổ sung về trường hợp VKS yêu cầu bổ sung
chứng cứ, tài liệu thì trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày nhận được chứng cứ,
tài liệu bổ sung, VKS phải ra quyết định phê chuẩn hoặc quyết định hủy bỏ
quyết định khởi tố bị can, quyết định thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố
bị can.Khi nghiên cứu hồ sơ đề nghị phê chuẩn quyết định khởi tố bị can,
Để hoạt động thực hành quyền công tố và kiểm sát việc khởi tố bị can
được chặt chẽ, đúng với yêu cầu của pháp luật, trước hết VKS phải xác định
được hành vi của bị can qua việc nghiên cứu hồ sơ, tài liệu liên quan để đảm
bảo tính có căn cứ của việc khởi tố bị can. Về kiểm tra tính có căn cứ thì qua
các tài liệu nêu trên, KSV cần xác định xem có đầy đủ chứng cứ để chứng
minh người hoặc pháp nhân bị khởi tố chính là người hoặc pháp nhân đã thực
hiện hành vi phạm tội hay không. Muốn vậy, KSV cần xác định hành vi phạm
tội của bị can xem có đủ 4 yếu tố cấu thành tội phạm theo quy định của BLHS
hay không. Ngoài ra còn phải xác định các yếu tố về năng lực trách nhiệm
hình sự và các tình tiết khác loại trừ khả năng phải chịu trách nhiệm hình sự.
Đối với bị can là pháp nhân, phải xác định điều kiện truy cứu trách nhiệm
hình sự của pháp nhân thương mại theo Điều 75 và Điều 76 BLHS 2015.
Bảo đảm tính hợp pháp của việc khởi tố bị can cũng là nội dung quan
trọng mà VKS phải quán triệt. Để kiểm tra tính hợp pháp thì trước hết KSV
cần kiểm tra xem hình thức của quyết định khởi tố bị can đã đúng theo mẫu
ban hành hay chưa, sau đó là kiểm tra về nội dung xem đã đầy đủ, chính xác
các nội dung quy định tại Khoản 2 Điều 126 BLTTHS 2003(các thông tin về
thời gian, địa điểm ra quyết định; họ tên, chức vụ người ra quyết định; họ tên,
ngày, tháng, năm sinh; quốc tịch, dân tộc, tôn giáo, giới tính, chỗ ở, nghề
nghiệp của bị can; bị can bị khởi tố về tội gì, theo điều, khoản nào của BLHS;
thời gian, địa điểm phạm tội và những tình tiết khác của tội phạm. Bị can bị
khởi tố về nhiều tội khác nhau thì quyết định khởi tố bị can phải ghi rõ từng
tội danh và điều, khoản của BLHS được áp dụng) hay chưa;đối với bị can là
pháp nhân cần kiểm tra xem đã đầy đủ các nội dung về thời gian, địa điểm ra
quyết định; họ tên, chức vụ người ra quyết định; tên và địa chỉ của pháp nhân
12
theo quyết định thành lập của cơ quan có thẩm quyền; tội danh, điều khoản
13
khởi tố. KSV thụ lý giải quyết vụ án có thể hỏi cung bị can, lấy lời khai người
làm chứng, người bị hại để làm rõ căn cứ khởi tố bị can trước khi báo cáo
Viện trưởng, Phó Viện trưởng hoặc KSV được Viện trưởng uỷ quyền xem xét,
quyết định việc phê chuẩn hay huỷ bỏ quyết định khởi tố bị can. Biên bản ghi
lời khai những người này do KSV lập được chuyển cho cơ quan đã khởi tố để
đưa vào hồ sơ vụ án.
Ba là, nếu thấy ngoài bị can đã bị khởi tố còn có người khác đã thực
hiện hành vi phạm tội trong vụ án chưa bị khởi tố thì VKS ra văn bản yêu cầu
cơ quan có thẩm quyền ra quyết định khởi tố bị can đối với người đó; trong
trường hợp sau khi nhận hồ sơ và kết luận điều tra mà phát hiện có người
khác đã thực hiện hành vi phạm tội trong vụ án mà chưa bị khởi tố thì VKS
xem xét, quyết định việc khởi tố bị can theo quy định tại Khoản 5 Điều 126
BLTTHS 2003.
Bốn là, nếu thấy việc khởi tố bị can rõ ràng là không có căn cứ thì KSV
thụ lý vụ án báo cáo Viện trưởng, Phó Viện trưởng hoặc KSV được Viện
trưởng uỷ quyền ra quyết định huỷ bỏ quyết định khởi tố bị can. Trường hợp
người bị khởi tố bị can đang bị tạm giữ mànếu hết thời hạn tạm giữ vẫn không
đủ căn cứ phê chuẩn quyết định khởi tố bị can đối với người đó thì KSV thụ
lý vụ án báo cáo Viện trưởng, Phó Viện trưởng hoặc KSV được Viện trưởng
uỷ quyền ra quyết định huỷ bỏ quyết định khởi tố bị can và yêu cầu cơ quan
đã khởi tố bị can trả tự do ngay cho người bị tạm giữ.
1.2.3. Yêu cầu khởi tố bị can
Khi thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra các vụ án hình
sự, tùy từng trường hợp VKS thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn tự mình khởi tố
bị can hoặc yêu cầu CQĐT khởi tố bị can theo quy định của BLTTHS. Theo
quy định của BLTTHS và cả trên thực tế thì việc khởi tố bị can do CQĐT
thực hiện là chủ yếu còn VKS chỉ trực tiếp khởi tố trong một số trường hợp.
định là tội phạm chưa bị khởi tố thì VKS trực tiếp ra quyết định khởi tố bị can
nếu đã yêu cầu nhưng CQĐT không thực hiện. Quy định đó cho thấy vai trò
của VKS trong hoạt động thực hành quyền công tố và kiểm sát khởi tố bị can
nói riêng và trong giai đoạn điều tra nói chung đã được nâng lên một bước.
Qua đó, quy định này cũng là một cách thức đểtăng cường trách nhiệm công
tố của VKS trong giai đoạn điều tra, góp phần xử lý nhanh chóng và kịp thời
các hành vi phạm tội và tạo điều kiện thuận lợi cho các hoạt động tố tụng tiếp
theo.
15
1.2.5. Yêu cầu thay đổi, bổ sung hoặc trực tiếp ra quyết định thay
đổi, bổ sung quyết định khởi tố bị can
Trong hoạt động tiến hành tố tụng hình sự, thay đổi quyết định khởi tố
bị can là sự kiện pháp lý do CQĐT, VKS có thẩm quyền quyết định bằng cách
thay quyết định khởi tố bị can đã được ban hành và có hiệu lực pháp luật bằng
một quyết định khởi tố bị can về tội danh khác trong BLHS.
Bổ sung quyết định khởi tố bị can là một sự kiện pháp lý do CQĐT,
VKS có thẩm quyền quyết định bằng việc bổ sung vào quyết định khởi tố bị
can đã ban hành và có hiệu lực pháp luật bằng một hoặc một số tội danh
mớicần phải điều tra làm rõ với bị can đã được làm rõ mà khi khởi tố bị can
chưa có căn cứ để quyết định như vậy [1].
Theo Khoản 1 Điều 180 BLTTHS 2015 thì “Cơ quan điều tra, Viện
kiểm sát thay đổi quyết định khởi tố bị can khi thuộc một trong các trường
hợp:
a) Khi tiến hành điều tra nếu có căn cứ xác định hành vi của bị can
không phạm vào tội đã bị khởi tố;
b) Quyết định khởi tố ghi không đúng họ, tên, tuổi, nhân thân của bị
can.”
một tội danh đã khởi tố đối với bị can thì không phải thay đổi quyết định khởi
tố bị can. Nếu thấy cần tạm giam bị can theo thời hạn của tội phạm quy định
tại khoản của điều luật có khung hình phạt nặng hơn hoặc chuyển vụ án để
điều tra, truy tố theo thẩm quyền thì phải ghi rõ lý do này trong lệnh tạm giam
hoặc trong quyết định chuyển vụ án.
1.3. Mối quan hệ giữa Viện kiểm sát và các chủ thể có liên quan
trong quá trình thực hành quyền công tố và kiểm sát khởi tố bị can
1.3.1. Mối quan hệ giữa Viện kiểm sát và Cơ quan điều tra trong quá
trình thực hành quyền công tố và kiểm sát khởi tố bị can
1.3.1.1. Mối quan hệ phối hợp
Trong tố tụng hình sự, CQĐT và VKS tuy có chức năng, nhiệm vụ khác
nhau nhưng đều có mục đích chung là phát hiện, xử lý nghiêm minh, kịp thời
các hành vi phạm tội, do đó, sự phối hợp giữa các cơ quan tiến hành tố tụng là
tất yếu, khách quan.
Khi tiến hành tố tụng hình sự, CQĐT và VKS vừa tiến hành các hoạt
động tố tụng độc lập, vừa có mối quan hệ trong từng chế định tố tụng. Trong
quá trình khởi tố bị can, CQĐT có chức năng nhiệm vụ thực hiện hoạt động
khởi tố bị can, còn VKS có chức năng, nhiệm vụ thực hành quyền công tố và
17
kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động khởi tố bị can. Sự phối hợp
giữa CQĐT và VKS trong khởi tố bị can là sự hợp tác trong việc thực hiện
chức năng, nhiệm vụ của VKS và của CQĐT nhằm mục đích bảo đảm hoạt
động khởi tố bị can đúng người, đúng tội và đúng pháp luật. Việc phối hợp
dựa trên căn cứ quy định của BLTTHS về nhiệm vụ, quyền hạn của CQĐT và
VKS trong đấu tranh phòng chống tội phạm và bảo vệ nhà nước, tổ chức, xã
hội và cá nhân. Về hình thức phối hợp có thể theo quy chế hai bên ký kết,
theo chương trình kế hoạch công tác hoặc đột xuất thông qua việc giải quyết
Giữa VKS và CQĐT trong tố tụng hình sự nói chung và trong quá trình
khởi tố bị can nói riêng có mối quan hệ tố tụng đặc biệt, trong đó VKS có
quyền giám sát, yêu cầu, hủy bỏ các quyết định, hành vi không có căn cứ và
trái pháp luật của CQĐT và ĐTV. Quyền này của VKS có hiệu lực rất cao và
CQĐT phải chấp hành nên có thể nói nó mang tính chế ước của VKS đối với
CQĐT. Tính chế ước của VKS nhằm bắt buộc CQĐT, ĐTV thực hiện đúng
các quy định của pháp luật về khởi tố bị can, không bỏ lọt tội phạm và không
làm oan người vô tội, ngăn ngừa, loại bỏ các vi phạm pháp luật trong quá
trình giải quyết vụ án hình sự, bảo đảm các lợi ích hợp pháp của người tham
gia tố tụng [16].
Sự chế ước chỉ được thực hiện một chiều giữa VKS đối với CQĐT. Có
nghĩa là VKS là cơ quan chế ước, còn CQĐT là cơ quan bị chế ước. Quyền
chế ước của VKS chỉ được tiến hành đối với hoạt động của CQĐT, có nghĩa
là đối tượng của sự chế ước chính là quyết định, hành vi của CQĐT và
ĐTV,Cán bộ điều tra trong quá trình tố tụng còn những nội dung khác như tổ
chức, kỷ luật nội bộ…không phải là đối tượng chịu sự điều chỉnh của VKS
[16].
Mối quan hệ chế ước của VKS với CQĐT trong quá trình khởi tố bị can
được thể hiện qua việc VKS phê chuẩn hoặc hủy bỏ quyết định khởi tố bị can,
quyết định thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố bị can; VKS yêu cầu bổ
sung chứng cứ, tài liệu làm căn cứ để quyết định phê chuẩn quyết định khởi tố
bị can, quyết định thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố bị can.
Tuy nhiên quyền chế ước của VKS cũng có giới hạn nhất định, nếu
CQĐT không nhất trí với quyết định của VKS cùng cấp thì cùng với việc
chấp hành quyết định, CQĐT đề nghị Viện trưởng VKS cấp trên trực tiếp xem
xét quyết định.
19
quyết định, yêu cầu của VKS. Theo đó, tại Điều 168 BLTTHS 2015 đã quy
20
định “Cơ quan, tổ chức, cá nhân phải nghiêm chỉnh thực hiện quyết định, yêu
cầu của Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt
động điều tra, Viện kiểm sát trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự; trường
hợp không chấp hành mà không vì lý do bất khả kháng hoặc không do trở
ngại khách quan thì bị xử lý theo quy định của pháp luật.”
21
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG THỰC HÀNH QUYỀN
CÔNG TỐ VÀ KIỂM SÁT KHỞI TỐ BỊ CAN
2.1. Những kết quả đạt được trong công tác thực hành quyền công
tố và kiểm sát việc khởi tố bị can
Trong những năm gần đây, ngành KSND đã có nhiều cố gắng và từng
bước có những tiến bộ mới trong việc đẩy mạnh, nâng cao chất lượng thực
hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp, đấu tranh phòng, chống
tội phạm, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của công
dân.
Công tác thực hành quyền công tố trong việc khởi tố bị can được các
VKS các cấp tổ chức thực hiện khá hiệu quả. Thông qua hoạt động xét phê
chuẩn, VKS đã phát hiện trực tiếp hủy bỏ nhiều quyết định khởi tố bị can
không đúng pháp luật, không có căn cứ của CQĐT hoặc yêu cầu CQĐT thay
đổi quyết định khởi tố bị can cho phù hợp với hành vi phạm tội của bị can;
yêu cầu bổ sung tội danh và khởi tố thêm bị can trong nhiều vụ án. Công tác
kiểm sát cũng được thực hiện khá chặt chẽ ngay từ đầu, nhất là đối với những
khách sạn Tuấn Sơn, Từ Sơn, Bắc Ninh bị cơ quan điều tra bắt tại chỗ 104
người (khởi tố 91 bị can), thu giữ hơn 5 tỷ đồng; vụ một số đối tượng ở xã
Kim Sơn, Lục Ngạn, Bắc Giang tụ tập gây rối đập phá tài sản của trường bắn
quốc gia, gây thiệt hại hơn 4 tỷ đồng và gây thương tích cho một số cán bộ,
chiến sĩ; vụ Nguyễn Văn Hiếu điều khiển mô tô đâm vào tổ tuần tra của Đại
đội 16 Trung đoàn Cảnh sát Cơ động đang làm nhiệm vụ trên đường Thăng
Long, Nội Bài làm một cán bộ công can tử vong…Nhiều vụ tai nạn giao
thông đường bộ xảy ra làm chết và bị thương nhiều người như vụ tai nạn xe
khách trên Quốc lộ 14 lao xuống sông Sê-rê-pok thuộc địa bàn thành phố
Buôn Ma Thuột, tỉnh Đăk Lak làm 34 người chết và 22 người bị thương; vụ
tai nạn trên quốc lộ 20 (Lâm Đồng) làm 7 người chết, 1 người bị thương; vụ
tai nạn trên Quốc lộ 1A (Khánh Hòa) làm 12 người chết, 50 người bị
thương…Nhiều vụ án mua bán, tàng trữ, vận chuyển ma túy trái phép với số
lượng rất lớn và đặc biệt lớn (chủ yếu là heroin) đã được đưa ra truy tố, xét xử
như vụ Vàng A Khua là kẻ có quyết định truy nã đặc biệt về tội vận chuyển
trái phép chất ma túy tại xã Hang Kia, huyện Mai Châu, tỉnh Hòa Bình vào
ngày 05-02-2010, Vàng A Khua đã chống trả quyết liệt và dùng súng tiểu liên
AK bắn vào lực lượng truy bắt khiến 3 chiến sĩ công an hy sinh; vụ Lê Quang
Đông (Hòa Bình) tàng trữ vận chuyển trái phép 140 bánh heroin và 180 viên
ma túy đá; vụ Tráng A Tàng và Tràng A Nếnh (Mộc Châu, Sơn La) vẫn
chuyển trái phép 265 bánh heroin; vụ vận chuyển 600 bánh heroin qua đường
hàng không tại sân bay Tân Sơn Nhất và hàng trăm vụ vận chuyển, mua bán
23
hàng chục bánh heroin [18], vụ siêu lừa Huỳnh Thị Huyền Như chiếm đoạt
hơn 4000 tỷ đồng của Vietinbank; vụ thảm sát ở Quảng Ninh do Doãn Trung
Dũng thực hiện hành vi phạm tội giết người, cướp tài sản, vụ thảm sát ở Lào
Cai do Tấn Láo Lở thực hiện hành vi, Lở đã giết chết chị Tẩn Thị Mẩy cùng
Điều này chứng tỏ hoạt động phê chuẩn quyết định khởi tố bị can chưa đảm
bảo tính chặt chẽ, chất lượng chưa cao.
Vẫn còn để xảy ra các trường hợp khởi tố bị can sau này được xác định
là bị oan dẫn đến việc phải đình chỉ điều tra hoặc đình chỉ vụ án. Các trường
hợp bị oan đều nghiêm trọng, ảnh hưởng đến danh dự, nhân phẩm, sức khỏe,
tài sản của người bị oan; có một số vụ đặc biệt nghiêm trọng gây bức xúc
trong dư luận, gây mất lòng tin của nhân dân đối với công lý, giảm sút uy tín
của cơ quan bảo vệ pháp luật, điển hình như vụ 10 năm tù oan của ông
Nguyễn Thanh Chấn (Bắc Giang), vụ ông Huỳnh Văn Nén chịu 17 năm 6
tháng tù oan, vụ ông Phan Văn Lá (Long An) với 22 năm tù oan, án oan Hàn
Đức Long (Bắc Giang) với 4 lần tuyên án tử hình…Số người bị oan chủ yếu
thuộc loại án giết người, cướp tài sản, hiếp dâm trẻ em không quả tang mà
quá trình điều tra gặp nhiều khó khăn và loại án về kinh tế do chủ quan của
người tiến hành tố tụng nhận thức không đúng, chưa phân biệt được vi phạm
pháp luật và hành vi phạm tội đã hình sự hóa các quan hệ dân sự, kinh tế
thành các tội lừa đảo, lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản; có một số
trường hợp làm oan khác là do người tiến hành tố tụng áp dụng pháp luật đơn
thuần, chỉ chú ý đến hậu quả xảy ra, không xem xét lỗi và điều kiện khách
quan dẫn đến hành vi vi phạm trong các trường hợp như gây thương tích nhẹ,
vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ…[17]. Bên
cạnh đó, nhiều vụ việc chịu sức ép của dư luận nên còn nôn nóng, chưa kịp
làm rõ bản chất vụ án đã khởi tố, bắt giam dẫn đến một số trường hợp phải
đình chỉ do bị can không phạm tội, điển hình như vụ 07 thanh niên bị bắt
giam oan trong vụ giết người, cướp tài sản xảy ra năm 2013 tại tỉnh Sóc
Trăng.
Ngoài các trường hợp bị oan nêu trên, tình trạng khởi tố, điều tra, đình
chỉ điều tra, đình chỉ vụ án do hành vi không cấu thành tội phạm, do miễn
trách nhiệm hình sự có dấu hiệu làm oan người vô tội vẫn xảy ra. Chẳng hạn
như: vụ Trần Văn Đề (Bình Phước) bị khởi tố, bắt giam về “Tội không chấp