VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN THỊ TUYẾT MAI
QUAN HỆ GIA ĐÌNH CỦA NGƯỜI DAO
Ở XÃ TRỊNH TƯỜNG, HUYỆN BÁT XÁT, TỈNH LÀO CAI
Chuyên ngành: Dân tộc học
Mã số: 62.31.03.10
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÀNH DÂN TỘC HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS.TS. NGUYỄN THỊ SONG HÀ
HÀ NỘI, 2017
1
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các kết
quả, số liệu nghiên cứu trong luận văn là trung thực và chưa từng được công
bố. Các thông tin, tài liệu trình bày trong luận văn đều được ghi rõ nguồn gốc.
Hà Nội, ngày
tháng
tháng
năm 2017
Tác giả
Nguyễn Thị Tuyết Mai
3
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
CT
Chỉ thị
CP
Chính phủ
CNH HĐH
Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Nxb
Nhà xuất bản
PGS.TS
1.2.2. Khái quát về xã Trịnh Tường ...................................................................23
1.3. Người Dao ở xã Trịnh Tường ......................................................................26
1.3.1. Lịch sử tộc người ......................................................................................26
1.3.2. Đặc điểm kinh tế - xã hội .........................................................................27
1.3.3. Một số đặc điểm về văn hóa .......................................................................29
1.3.4 Đặc điểm gia đình của người Dao ............................................................32
Tiểu kết chương 1 ................................................................................................34
Chương 2. QUAN HỆ GIỮA VỢ VÀ CHỒNG NGƯỜI DAO ...........................35
2.1. Quan hệ giữa vợ và chồng trong việc sinh con để duy trì nòi giống ........35
2.1.1. Quyền quyết định số con ..........................................................................35
2.1.2. Quyết định về sinh con trai, con gái .........................................................38
2.1.3. Giúp đỡ, chia sẻ vợ - chồng khi vợ mang thai và sinh đẻ .......................41
2.2. Quan giữa hệ vợ và chồng trong chăm sóc và giáo dục con cái ..............42
2.2.1. Chăm sóc con cái ......................................................................................42
2.2.2. Trong việc dạy dỗ con cái ........................................................................44
2.3. Trong phân công lao động và phát triển kinh tế gia đình ............................46
2.3.1. Đối với các hoạt động trong gia đình và các hoạt động cộng đồng .........46
2.3.2. Trong phân công lao động sản xuất và phát triển kinh tế gia đình ..........49
2.4. Trong thể hiện tâm lý tình cảm ...................................................................52
Tiểu kết chương 2 ................................................................................................55
Chương 3. QUAN HỆ GIỮA CÁC THẾ HỆ TRONG GIA ĐÌNH NGƯỜI DAO ...56
3.1. Quan hệ giữa cha mẹ và con cái ..................................................................56
3.1.1. Mức độ gần gũi giữa bố mẹ và con cái ....................................................56
3.1.2. Quan hệ giữa bố mẹ và con cái trong giáo dục ......................................58
3.2. Quan hệ giữa ông bà với con cháu ..............................................................67
3.2.2. Mối quan hệ trong đời sống vật chất ........................................................68
3.2.4. Mối quan hệ trong giáo dục ......................................................................71
3.3. Quan hệ giữa các thành viên trong các gia đình có bố mẹ đi làm ăn xa ........73
Tiểu kết chương 3 ................................................................................................76
KẾT LUẬN ..............................................................................................................78
đồng thời duy trì sự ổn định và phát triển của xã hội. Với những chức năng và vị tí
quan trọng của gia đình, năm 2012 Đảng và Nhà nước ta đã đề ra Chiến lược Phát
triển Gia đình Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến 2030, nhấn mạnh đến việc
phát huy những giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp của gia đình Việt Nam, xây
dựng gia đình Việt Nam “ấm no ấm, tiến bộ, hạnh phúc” để mỗi gia đình “thực sự
là tổ ấm của mỗi người, là tế bào lành mạnh của xã hội”.
Dao là một trong các tộc người thiểu số ở Việt Nam với số dân là 751.067
người (năm 2009), gồm nhiều nhóm khác nhau, cư trú chủ yếu ở các tinh miền núi
phía Bắc như Hà Giang, Lào Cai, Yên Bái, Tuyên Quang, Bắc Kạn, Cao Bằng,
Lạng Sơn, Quảng Ninh ... Gần đây còn có một bộ phận người Dao từ các tỉnh phía
Bắc di chuyển vào sinh sống tại một số tỉnh vùng Đông Nam Bộ và Tây Nguyên,
1
điều đó làm cho bức tranh phân bố tộc người Dao được mở rộng và đa dạng hơn.
Tại tỉnh Lào Cai, người Dao chiếm 14,4% dân số toàn tỉnh với 88,379 người, sinh
sống chủ yếu tại các vùng núi có độ cao trung bình từ 800 – 1000 m. Trong quá
trình phát triển của lịch sử tộc người, người Dao nói chung và người Dao tại xã
Trịnh Tường nói riêng đã hình thành một hệ thống các giá trị chuẩn mực trong cách
ứng xử, các mối quan hệ tốt đẹp trong gia đình để tạo nên đặc trưng riêng của văn
hóa tộc người nơi đây. Những chuẩn mực trong gia đình đã được cộng đồng người
Dao trân trọng, giữ gìn và lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác. Tuy nhiên, các
mối quan hệ trong gia đình lại thường bị chi phối bởi các yếu tố kinh tế, xã hội, văn
hóa, phong tục, tập quán, môi trường sống…Kể từ khi Đảng và Nhà nước thực hiện
công cuộc Đổi mới đất nước 1986 đến nay, dưới sự tác động của nền kinh tế thị
trường, quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và giao lưu, hội nhập, quan hệ giữa
các thành viên trong gia đình người Dao ở Việt Nam nói chung, người Dao ở xã
Trịnh Tường nói riêng cũng có những biến đổi nhất định, hình thành nên những ứng
xử mới để phù hợp hơn với xã hội.
được nhiều ngành khoa học xã hội chú ý như Dân tộc học/Nhân học, Xã hội học,
Văn hóa học…
Dưới góc nhìn của Dân tôc học/ Nhân học, các tác giả của cuốn sách “Nhân
học về thân tộc, dòng họ, hôn nhân và gia đình” đã đưa ra khái niệm về gia đình.
Gia đình là một tập hợp những người chung sống với nhau trong cùng mái nhà, liên
kết gắn bó với nhau bằng quan hệ hôn nhân và quan hệ huyết thống được chính thức
thừa nhận bởi luật pháp hay luật tục, có quan hệ kinh tế với nhau, có trách nhiệm
cùng nhau thực hiện các chức năng sinh học, kinh tế, văn hóa, xã hội, đạo đức, tín
ngưỡng… Gia đình là một phạm trù lịch sử, một thiết chế xã hội, thay đổi cùng với
sự phát triển của xã hội [13, tr.123].
Emily A.Schultz và Rober H. Lavanda trong cuốn sách “Nhân học - một
quan điểm về tình trạng nhân sinh” đã cho rằng: cơ cấu gia đình gồm 3 kiểu: gia
đình hạt nhân gồm 2 thế hệ cha mẹ và con cái chưa lập gia đình của họ; gia đình đa
thê gồm một người chồng và nhiều người vợ; gia đình mở rộng gồm 3 thế hệ - cha
mẹ, con cái đã kết hôn và cháu – sống chung với nhau. Từng loại gia đình cũng thay
đổi cấu trúc của nó theo thời gian. Cùng một gia đình có thể biến đổi qua những
dạng thức khác nhau vào mỗi thời điểm trong quá trình phát triển của nó, nó tạo ra
3
những cơ hội tương tác giữa các thành viên để từ đó hình thành các mối quan hệ
gữa các thành viên trong gia đình [62, tr. 322-342]. Theo Nguyễn Hữu Minh trong
công trình “Các mối quan hệ trong gia đình ở Việt Nam: Một số vấn đề cần quan
tâm”, các mối quan hệ trong gia đình thường được xem xét gồm có quan hệ theo
chiều ngang và quan hệ theo chiều dọc. Quan hệ theo chiều ngang, chủ yếu là quan
hệ vợ chồng. Quan hệ theo chiều dọc, chủ yếu là quan hệ cha mẹ – con cái và quan
hệ con cháu với ông bà (người cao tuổi) [47, tr.91].
Trong tác phẩm “Tradition and Change in the Asian Family - Truyền thống
và biến đổi trong gia đình Châu Á”, Lee –Jay and Moto Yada Cho đã chỉ ra rằng: