Nghiên cứu đa dạng cây thuốc ngành ngọc lan (magnoliophyta) của đồng bào dân tộc Dao đỏ ở huyện Bắc Hà tỉnh Lào Cai (Luận văn thạc sĩ) - Pdf 48

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ VN

VIỆN SINH THÁI VÀ TÀI NGUYÊN SINH VẬT

VŨ VĂN QUÂN

NGHIÊN CỨU ĐA DẠNG CÂY THUỐC NGÀNH NGỌC LAN
(MAGNOLIOPHYTA) CỦA ĐỒNG BÀO DÂN TỘC DAO ĐỎ
Ở HUYỆN BẮC HÀ – TỈNH LÀO CAI

LUẬN VĂN THẠC SỸ SINH HỌC

Hà Nội, 2017


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ VN

VIỆN SINH THÁI VÀ TÀI NGUYÊN SINH VẬT

VŨ VĂN QUÂN

NGHIÊN CỨU ĐA DẠNG CÂY THUỐC NGÀNH NGỌC LAN
(MAGNOLIOPHYTA) CỦA ĐỒNG BÀO DÂN TỘC DAO ĐỎ
Ở HUYỆN BẮC HÀ – TỈNH LÀO CAI



LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi, các số liệu và
kết quả trong luận văn là trung thực và chưa được công bố ở bất kỳ công trình
nào.
Học viên

Vũ Văn Quân


MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN
LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
DANH MỤC BẢNG
DANH MỤC HÌNH
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

MỞ ĐẦU ........................................................................................................... 1
Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU ................................................................. 2
1.1. Tình hình nghiên cứu và sử dụng cây thuốc ở một số nước trên thế giới ..... 2
1.2. Tình hình nghiên cứu và sử dụng cây thuốc ở Việt Nam ............................. 8
1.3. Tình hình nghiên cứu tri thức và kinh nghiệm sử dụng cây thuốc của các
dân tộc thiểu số ở Việt Nam. ............................................................................ 11
1.4. Tình hình nghiên cứu tri thức và kinh nghiệm sử dụng cây thuốc của
đồng bào dân tộc Dao đỏ ở huyện Bắc Hà, tỉnh Lào Cai................................... 12
1.5.1. Điều kiện tự nhiên .................................................................................. 12
1.5.1.1. Vị trí địa lý, ranh giới, diện tích ........................................................... 12
1.5.1.2 Địa chất, địa hình.................................................................................. 12
1.5.1.3. Khí hậu, thủy văn ................................................................................ 13

3.3. Vấn đề sử dụng cây thuốc của đồng bào dân tộc Dao đỏ ở huyện Bắc Hà,
tỉnh Lào Cai...................................................................................................... 27
3.3.1. Sự đa dạng về tần số sử dụng của các bộ phận. ....................................... 27
3.3.2. Sự đa dạng về số lượng các bộ phận của từng loại được sử dụng. ........... 29
3.3.3. Một số bài thuốc truyền thống của đồng bào dân tộc Dao đỏ ở huyện
Bắc Hà, tỉnh Lào Cai. ....................................................................................... 29
3.4. Đề xuất các giải pháp bảo tồn các loài cây thuốc và nguồn tri thức bản địa
cho cộng đồng dân cư địa phương .................................................................... 35
3.4.1. Tình hình khai thác và sử dụng nguồn tài nguyên cây thuốc và các bài
thuốc ................................................................................................................ 35
3.4.2. Các mối đe dọa đối với tài nguyên cây thuốc ở huyện Bắc Hà, tỉnh Lào
Cai.................................................................................................................... 36
3.4.3. Các biện pháp bảo tồn tài nguyên cây thuốc ở Bắc Hà, tỉnh Lào Cai. ..... 36
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ .......................................................................... 38
Kết luận:........................................................................................................... 38
Kiến nghị.......................................................................................................... 38


DANH MỤC BẢNG
Bảng 3. 1 Số lượng họ, chi, loài cây thuốc ở hai lớp trong ngành Ngọc lan (Magnoliophita) . 20
Bảng 3.2: Các họ nhiều loài cây thuốc nhất ở huyện Bắc Hà ................................................. 21
Bảng 3.3: Các chi đa dạng nhất về cây thuốc của ngành Ngọc lan......................................... 22
Bảng 3.4: Dạng thân của các loài cây thuốc được đồng bào dân tộc Dao đỏ huyện Bắc Hà
đã sử dụng ............................................................................................................................ 23
Bảng 3.5: Thống kê các loài cây thuốc theo môi trường sống................................................ 25
Bảng 3.6: Các loài cây thuốc đang bị đe dọa được đồng bào dân tộc Dao đỏ tại huyện Bắc
Hà, tỉnh Lào Cai sử dụng ...................................................................................................... 26
Bảng 3.7: Sự đa dạng trong các bộ phận được sử dụng làm thuốc ......................................... 28
Bảng 3.8: Tổng hợp các bài thuốc thu thập được trong quá trình nghiên cứu ........................ 30
Bảng 3.9: Cây thuốc chữa tắc tia sữa, lưu thai ...................................................................... 31

MTS: Môi trường sống
G: Cây thân gỗ
B: Cây thân bụi
T: Cây thân thảo
L: Cây leo
K: Cây ký sinh
SĐ: Sách đỏ
EV: Nguy cấp
VU: Sẽ nguy cấp
IUCN: Danh lục các loài có nguy cơ bị đe dọa của hiệp hội bảo tồn thiên
nhiên quốc tế
NĐ 32: Nghị định 32 của chính phủ năm 2006
IA: Loài cấm khai thác và sử dụng vì mục đích thương mại
IIA: Hạn chế khai thác và sử dụng vì mục đích thương mai.


MỞ ĐẦU
Người Dao là một dân tộc có địa bàn cứ trú truyền thống ở Nam Trung
Quốc và lân cận ở các bắc phần tiểu vùng Đông Nam Á. Ở Việt Nam, người
Dao cư trú chủ yếu ở các bản làng miền rừng núi trải rộng khắp phía Bắc như
Cao Bằng, Hà Giang, Lào Cai, Yên Bái, Hòa Bình … Người Dao có nhiều
nhóm khác nhau phân biệt theo vùng. Mỗi nhóm người lại có những nét riêng
về văn hóa, phong tục tập quán và những bài thuốc mang đậm bản sắc của
dân tộc mình. Nhắc đến thuốc của người Dao, có lẽ nhiều người sẽ nghĩ ngay
đến thuốc tắm, bởi đây là bài thuốc được sử dụng phổ biến nhất. Nhưng ít ai
biết rằng, bên cạnh bài thuốc tắm nổi tiếng, người Dao đỏ còn nắm giữ nhiều
phương thuốc bí truyền khác có tác dụng chữa bệnh hiệu quả, bồi bổ, nâng
cao sức khỏe…
Từ thủa xa xưa cho đến ngày nay, đồng bào các dân tộc Dao trên đất
nước ta đã không ngừng tìm tòi nghiên cứu, sử dụng nguồn tài nguyên cây

TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Tình hình nghiên cứu và sử dụng cây thuốc ở một số nước trên thế
giới
Khi xã hội loài người hình thành chúng ta đã biết sử dụng các loài thực
vật để sinh tồn và chống chọi với thiên nhiên, bệnh tật, họ đã biết sử dụng các
loài cây cỏ trong tự nhiên để phục vụ cuộc sống của mình như sử dụng làm
thức ăn, nhà ở, làm thuốc, mồi săn bắt…Từ những kinh nghiệm đó, dần dần
hình thành một khoa học gọi là Thực vật dân tộc học. Khoa học này nghiên
cứu các mối quan hệ giữa các dân tộc khác nhau với các loài cây cỏ phục vụ
cho cuộc sống của họ. Mỗi quốc gia đều có những nền y học cổ truyền riêng,
đặc biệt trong đó có những kinh nghiệm tìm kiếm và sử dụng những cây thuốc
để phòng và trị bệnh ở người, vật nuôi. Những ghi chép đầu tiên về cây thuốc
được tìm thấy cách đây hơn 5 ngàn năm, đó là những nét khắc trên đất sét của
người Sumeria, thuộc Mesopotamia cổ xưa (là Irắc ngày nay), đề cập đến sử
dụng cây carum và cây húng tây. Cũng thời gian này, kinh nghiệm sử dụng
cây thuốc cũng bắt đầu hình thành và phát triển ở Trung Quốc và Ấn Độ. Tuy
nhiên, nhiều bằng chứng khảo cổ học cho thấy kinh nghiệm sử dụng cây
thuốc xuất hiện từ rất lâu đời. Rễ của cây Thục quỳ (Althea officinalis), cây
Lan dạ hương (Hyacinthus sp.) và cây Cỏ thi (Achillea millefolium) được cất
giữ quanh bộ xương người có niên đại vào thời kỳ đồ đá ở Irắc. Cho đến nay,
giá trị làm thuốc của ba loài thực vật kể trên vẫn được thừa nhận. Điều này
cho thấy, trên thực tế, thực vật được dùng làm thuốc xuất hiện trước khi có sự
ghi chép của sử sách.
Hiện nay, số loài cây thuốc được sử dụng trên thế giới ước tính từ
khoảng gần 70.000 loài [1]. Các vùng nhiệt đới trên thế giới, bao gồm lưu vực
sông Amazon của châu Mỹ, Đông Nam Á, Ấn Độ, Tây Phi,… là kho tàng
chứa đựng số lượng loài cây cỏ khổng lồ, cũng như giàu có về tri thức sử
dụng. Ở vùng nhiệt đới châu Á có khoảng 6.500 loài thực vật có hoa được
dùng làm thuốc, riêng ở Ấn Độ có 6.000 loài, ở Trung Quốc là 5.136 loài
[24].

cuốn sách đã thống kê 5.757 mục từ, trong đó đa số là các loại thảo dược.
Năm 1985, cuốn sách “Cây thuốc Trung Quốc” đã được xuất bản, cuốn sách
đã thống kê hầu hết các loài cây cỏ có tác dụng chữa bệnh ở Trung Quốc [86].
Và gần đây Li đã công bố hơn 1.000 loài cây thuốc được sắp xếp theo bảng
chữ cái Latinh [14].
Ấn Độ là một trong những quốc gia có nền văn minh lâu đời, cách đây
khoảng 5.000 năm dọc theo bờ sông ở miền Nam Ấn Độ. Trong bộ sử thi
Vedas được viết năm 1500 TCN, chứa đựng những kiến thức phong phú về
thảo dược thời kỳ đó. Theo những ghi chép còn sót lại cho thấy nền y học cổ
truyền được hình thành cách đây hơn 3000 năm. Chủ trương của người Ấn là
ngừa bệnh là chính, nếu phải điều trị bệnh thì các liệu pháp tự nhiên chủ yếu
thông qua thực phẩm và thảo mộc sẽ giúp loại bỏ gốc rễ căn bệnh. Trong đó,
nhiều loài cây được xem là những “cây thiêng” dành cho những vị thần đặc
biệt, chẳng hạn như cây Trái nấm (Aegle marmelos L.) là cây dành cho thánh
thần của người Hindu, thánh Lakshmi (Thánh mang lại sự giàu có và may
mắn), thánh Samhita (Vị thánh của sức khoẻ) và cây được trồng gần các đền
thờ [90]. Gần đây, y học cổ truyền Ấn Độ Ayurveda đã phát triển rất mạnh,
nhiều tri thức bản địa đã được nghiên cứu, đánh giá và sử dụng có hiệu quả,
trong đó có khoảng 2.000 cây cỏ làm thuốc. [25]. Dãy Hymalaya hùng vĩ của
đất nước Ấn Độ, là nơi có sự đa dạng về thực vật rất lớn, ở đây có khoảng
8.000 loài thực vật hạt kín, 44 loài thực vật hạt trần, trong đó có 1.748 loài
được sử dụng làm thuốc. Ngoài Hymalaya thì khu vực Hy Mã Lạp Sơn (IHR)
cũng là cái nôi cung cấp nguồn cây thuốc cho hàng triệu người dân Ấn Độ.
Ấn Độ được đánh giá là quốc gia rất phát triển về nghiên cứu thảo dược như
tổng hợp chất hữu cơ, tách chiết chứng minh cấu trúc, sàng lọc sinh học, thử
nghiệm độc tính và nghiên cứu tác dụng hóa học của các chất tới cơ thể con
người. Hiện nay, chính phủ khuyến khích sử dụng công nghệ cao trong trồng
3



Ở châu Phi Là một trong những Châu lục có điều kiện khí hậu nắng
nóng và có nhiều sa mạc đời sống kinh tế khó khăn và lạc hậu. Chính vì vậy,
người dân Châu Phi cũng đã biết sử dụng cây thuốc bản địa từ rất lâu đời để
tự chữa bệnh cho mình và cộng đồng. Qua những nghiên cứu mới đây cho
thấy việc sử dụng cây thuốc của người dân bản địa Châu Phi cũng hết sức
phong phú và đa dạng. Tại Kenya có 448 loài cây thuốc được người dân Mt.
Nyiru Turkana dùng để điều trị những bệnh khác nhau [12]. Tiến hành nghiên
cứu cây thuốc theo kinh nghiệm của người dân Zegie Peninsula, phía Tây Bắc
Ethiopia đã tìm thấy 67 loài cây thuốc thuộc 64 chi và 42 họ sử dụng để điều
trị các bệnh liên quan đến rối loạn tiêu hóa và nhiễm trùng [6]. Cũng ở đất
nước Ethiopia nhưng ở tộc người Bench, trong nghiên cứu cũng đã thống kê
được 35 loài thực vật được sử dụng làm thuốc [8]. Đặc biệt tại Châu Phi các
thầy lang có vai trò rất quan trọng trong việc sử dụng những bài thuốc cổ
4


truyền từ thực vật. Qua việc tiến hành điều tra về tri thức trong việc sử dụng
cây thuốc của các thầy lang trong khu vực nghiên cứu ở vùng Oshikoto,
Namibia đã tìm thấy 61 loài thuộc 25 họ được các thầy lang trong khu vực sử
dụng để điều trị các bệnh khác nhau như: tâm thần, nhiễm trùng, rắn cắn, tim
mạch [13]. Việc sử dụng liệu pháp điều trị bằng cây thuốc ở châu Phi mang
một dấu ấn mạnh mẽ giống như những thần dược.
Châu Mỹ với nền văn minh cổ đại như Maya, Aztec, Inca cũng có nền
y học cổ truyền phát triển và những kiến thức uyên thâm về tri thức bản địa.
Ở các nước Trung Mỹ khác như Cộng hòa Dominica và Nicaragua, chính phủ
đã mở ra các dự án dạy cho phụ nữ cách dùng các loại thảo dược tại địa
phương, để điều trị cho cộng đồng của họ. Còn ở Amazon khi nghiên cứu về
cây thuốc của Tacana – một dân tộc Bolivia ở đây đã thu thập được khoảng
450 loài thực vật trong đó có 33% được sử dụng làm thuốc. Tại tỉnh Loja,
Ecuador đã tìm ra 215 loài thực vật được người dân địa phương sử dụng để



kinh nghiệm rồi được truyền lại cho các thế hệ tiếp theo. Ngày nay với sự
phát triển vượt bậc của khoa học công nghệ đã tập trung nghiên cứu làm rõ
vai trò của thảo dược làm thuốc như thử hoạt tính, tách các hợp chất… Điều
này một lần nữa khẳng định vai trò to lớn của thảo dược trong điều trị bệnh
góp phần quan trọng trong việc chăm sóc bảo vệ sức khỏe của cộng đồng.
Cùng với phương thức chữa bệnh theo kinh nghiệm dân gian, các nhà
khoa học trên thế giới tiến hành tìm hiểu, nghiên cứu cơ chế và các hợp chất
hóa học trong cây có tác dụng chữa bệnh, đúc rút thành những cuốn sách có
giá trị. Các nhà khoa học công nhận rằng hầu hết các cây cỏ đều có tính kháng
sinh, đó là khả năng miễn dịch tự nhiên của thực vật. Tác dụng kháng khuẩn
do các hợp chất tự nhiên có mặt phổ biến trong thực vật như phenolic, antoxy,
các dẫn xuất quino, ancaloid, flavonoid, saponin… Cho đến nay, nhiều hợp
chất tự nhiên đã được giải mã về cấu trúc, những hợp chất này được chiết xuất
từ cây cỏ để làm thuốc. Dựa vào cấu trúc được giải mã, người ta có thể tổng
hợp nên các chất nhân tạo để chữa bệnh. Gotthall(1950) đã phân lập được
chất Glucosid barbaloid từ cây Lô hội (Aloe vera), chất này có tác dụng với vi
khuẩn lao ở người và vi khuẩn Baccilus subtilis. Lucas và Lewis (1994) đã
chiết xuất một hoạt chất có tác dụng với các loài vi khuẩn gây bệnh tả, lị, mụn
nhọt từ Kim ngân (Lonicera sp). Từ cây Hoàng liên (Coptis teeta), người ta đã
chiết xuất được berberin. Trong lá và rễ cây Hẹ (Allium odorum) có các hợp
chất sulfua, sapoin và chất đắng. Năm 1948, Shen-Chi-Shen phân lập được
một hoạt chất Odorin ít độc đối với động vật bậc cao nhưng lại có tác dụng
kháng khuẩn. Hạt của cây Hẹ cũng có chứa chất Alcaloid có tác dụng kháng
khuẩn gram+ và gram-, nấm. Reserpin và Serpentin là chất hạ huyết áp được
chiết xuất từ cây Ba gạc (Rauvolfa spp.). Đặc biệt, Vinblastin và Vincristin
vừa có tác dụng hạ huyết áp vừa có tác dụng làm thuốc chống ung thư, được
chiết xuất từ cây Dừa cạn. Digitalin được chiết xuất từ cây Dương địa hoàng
(Digitalis spp.), strophatin được chiết xuất từ cây Sừng dê (Strophanthus spp)

này. Ở Ghana, Mali, Nigeria và Zambia, 60% trẻ em có triệu chứng sốt rét
ban đầu được điều trị tại chỗ bằng thảo dược. Tỷ lệ dân số tin tưởng vào hiệu
quả sử dụng thảo dược và các biện pháp chữa bệnh bằng y học cổ truyền cũng
đang tăng nhanh ở các quốc gia phát triển. Ở châu Âu, Bắc Mỹ, và một số
nước khác, ít nhất 50% dân số sử dụng thực phẩm bổ sung hay thuốc thay thế
từ thảo mộc. Ở Đức, 90% dân số sử dụng các phương thuốc có nguồn gốc
thiên nhiên để chăm sóc sức khỏe. Ở Anh, chi phí hàng năm cho các loại
thuốc thay thế từ thảo mộc là 230 triệu đôla.
Theo số liệu của trung tâm thương mại quốc tế từ năm 1976, các nước
công nghiệp phát triển đã nhập khẩu hơn 300 triệu USD và đến năm 1980 con
số này đã tăng lên 551 triệu USD. Chỉ tính riêng 12 loại dược liệu có nhu cầu
sử dụng cao ở Mỹ là Bạch quả, Sâm Triều Tiên, Tỏi, Valeriana officinalis, …
từ năm 1998 đã đạt doanh số bán lẻ là 552 triệu USD. Đến năm 2003, thị
trường thảo dược toàn cầu đã vượt mức 60 tỷ USD hàng năm và con số này
vẫn tiếp tục tăng.
Tuy nhu cầu sử dụng cây thuốc của con người trong việc chăm sóc sức
khỏe ngày một tăng, nhưng nguồn tài nguyên thực vật đang bị suy giảm.
Nhiều loài thực vật đã bị tuyệt chủng hoặc đang bị đe dọa tuyệt chủng do các
hoạt động trực tiếp và gián tiếp của con người. Theo tổ chức Bảo tồn thiên
nhiên và tài nguyên thiên nhiên (IUCN) cho biết, trong tổng số 43.000 loài
thực vật mà cơ quan này lưu giữ thông tin có tới 30.000 loài được coi là đang
bị đe dọa tuyệt chủng ở các mức độ khác nhau. Trong đó có nhiều loài là cây
thuốc quý hiếm, có giá trị kinh tế cao. Chẳng hạn như ở Bangladesh, một số
cây thuốc quý như Tylophora indica để chữa hen, Zannia indica (thuốc tẩy
xổ)…trước đây mọc rất phổ biến, nay đã trở nên hiếm hoi. Loài Ba gạc
Rauvolfia serpentina vốn mọc rất tự nhiên ở Ấn Độ, Bangladesh, Thái
Lan…mỗi năm có thể khai thác hàng ngàn tấn nguyên liệu xuất khẩu sang thị
trường Âu, Mỹ làm thuốc chữa cao huyết áp. Tuy nhiên, do bị khai thác liên
tục nhiều năm nên nguồn gốc cây thuốc này đã bị cạn kiệt. Vì vậy một số
bang ở Ấn Độ đã đình chỉ khai thác loài Ba gạc này [9]. Ở Trung Quốc, loài

nhiều loài có triển vọng được sử dụng làm thuốc.
Trải qua lịch sử 4000 năm dựng nước và giữ nước, người Việt Nam đã
phải đấu tranh với thiên nhiên, bệnh tật và chiến tranh, dần dần đã tích luỹ
được kinh nghiệm và tri thức trong sử dụng cây thuốc. Trong cuốn sách “Nam
Dược Thần Hiệu” và “Hông Nghĩa Giác Tư Y Thư” của Tuệ Tĩnh đã mô tả
hơn 630 vị thuốc, 50 đơn thuốc chữa các loại bệnh trong đó 37 đơn thuốc
chữa bệnh thương hàn. Hai cuốn sách này được xem là những cuốn sách xuất
hiện sớm nhất về cây thuốc Việt Nam. Đến thế kỷ 18, Hải Thượng Lãn Ông
Lê Hữu Trác đã xuất bản bộ sách lớn “Y Tông Tâm Tĩnh” gồm 28 tập, 66
quyển đã mô tả khá chi tiết vệ thực vật, các đặc tính chữa bệnh [6].
Thời kỳ Pháp thuộc (1884 – 1945), nền y học cổ truyền của Việt Nam
chịu nhiều ảnh hưởng của dược học phương Tây. Các phương thức chữa bệnh
mới được mang đến qua quá trình khai thác thuộc địa, họ đã gián tiếp thúc
đẩy quá trình nghiên cứu thực vật của Việt Nam nói chung và nghiên cứu cây
thuốc nói riêng. Đặc biệt bộ sách “Thực vật chí đại cương Đông Dương” của
Lecomte xuất bản cuối thể kỷ XVIII đầu thể kỷ XIX đã mô tả và phân loại
8


hơn 7.000 loài thực vật. Bộ sách “Danh mục các sản phẩm ở Đông Dương”
của Ch. Crévost và A. Pétélot năm 1935 đã thống kê được 1.340 vị thuốc có
nguồn gốc thảo mộc được dùng trong y học của Đông Dương. Đến năm 1952
tác giả tái bản lại cuốn sách, bổ sung và đặt tên mới là “Những cây thuốc của
Campuchia, Lào và Việt Nam” gồm 4 tập, 1.050 trang và thống kê khoảng
1.480 loài thực vật. Tuy nhiên cuốn sách này chưa hoàn thiện về mô tả, phân
bố, thành phần hóa học và dược lý của các loại thảo mộc.
Sau cách mạng tháng Tám năm 1945, nhất là sau khi miền Bắc được
giải phóng năm 1954, các nhà khoa học Việt Nam có nhiều thuận lợi trong
việc sưu tầm, nghiên cứu nguồn tài nguyên cây thuốc. Đáng chú ý nhất là năm
1957, cuốn sách “Dược liệu học và các vị thuốc Việt Nam” gồm 3 tập đã

Trong số các nhóm thực vật này, rất nhiều loài có công dụng làm thuốc. Cũng
trong năm này, Vương Thừa Ân cho ra đời cuốn “Thuốc quý quanh ta” [26].
9


Nhiều cuốn sách có giá trị về tài nguyên cây thuốc được các nhà khoa
học của Viện Sinh thái và Tài nguyên Sinh vật, Viện Khoa học và Công nghệ
Việt Nam biên soạn. Trong đó, đáng chú ý là những cuốn sách “Tài nguyên
thực vật có tinh dầu ở Việt Nam” của tác giả Lã Đình Mỡi và cộng sự (2001 –
2002) các tác giả đã trình bày giá trị sử dụng làm thuốc của nhiều loài thực
vật có tinh dầu của Việt Nam. Năm 2005, Lã Đình Mỡi và cộng sự giới thiệu
tiếp công trình “Những cây chứa các hợp chất có hoạt tính sinh học” đây được
coi là những ghi chép đầu tiên, có hệ thống và tương đối hoàn chỉnh về nguồn
tài nguyên thực vật có chứa các chất có hoạt tính sinh học được sử dụng làm
thuốc ở nước ta.
Nguyễn Tiến Bân và cộng sự (2003, 2005) đã công bố bộ sách “Danh
lục các loài thưc vật Việt Nam”. Cuốn sách đã trình bày đầy đủ các thông tin
về tên khoa học, tên thường gọi, nhận dạng, phân bố, dạng sống – sinh thái và
công dụng. Bộ sách này rất có ý nghĩa cho việc tra cứu hệ thực vật nói chung
và tra cứu thành phần loài cây thuốc nói riêng.
Trong những năm qua, nhà nước Việt Nam đã có nhiều chính sách đầu
tư cho công tác điều tra, nghiên cứu về cây thuốc và kế thừa nền y học cổ
truyền, phục vụ cho nhu cầu chữa bệnh và chăm sóc sức khỏe của nhân dân.
Các ngành Y tế, Lâm nghiệp và Sinh học đã tiến hành nhiều đợt điều tra cơ
bản, đặc biệt là chương trình điều tra nghiên cứu cây thuốc của Viện Dược
liệu – Bộ Y tế đã tiến hành trên phạm vi toàn quốc. Theo kết quả điều tra của
Viện Dược liệu công bố năm 2004 thì ở nước ta có khoảng 3.948 loài cây
thuốc được ghi nhận, thuộc 307 họ của 9 ngành thực vật bậc cao và bậc thấp,
bao gồm cả nấm. Gần đây nhất, năm 2016 thì theo kết quả điều tra mới nhất
của Viện Dược liệu thì ở Việt Nam ghi nhận 5.117 loài, thuộc 1.823 chi, 360

trong một phạm vi hẹp (dân tộc, dòng họ, gia đình), vì vậy không được phát
huy để phục vụ cho xã hội và có nguy cơ thất thoát rất cao. Nhận thức được
tầm quan trọng này, trong khoảng 10 năm trở lại đây, nghiên cứu cây thuốc
dân tộc được đặc biệt quan tâm tại một số cơ sở của nước ta và đã thu được
nhiều kết quả khả quan.
Nhiều công trình điều tra về thành phần loài và kinh nghiệm sử dụng
cây thuốc của các dân tộc thiểu số ở nước ta đã được tiến hành trong những
năm vừa qua. Nhiều nghiên cứu về cây thuốc đã được phòng Thực vật dân tộc
học thuộc Viện sinh thái và Tài nguyên sinh vật thực hiện với các công đồng
dân tộc thiểu số như: H’ Mông, Dao, Tu Dí, Mường … tại một số tỉnh chủ yếu
ở Tây Bắc. Ngoài ra, còn nhiều các nghiên cứu của nhiều tác giả như: Nguyễn
Nghĩa Thìn và cộng sự. Kết quả của các nghiên cứu trên cho thấy các dân tộc
nước ta có nhiều tri thức quý giá và kinh nghiệm sử dụng cây thuốc độc đáo
để phòng và chữa bệnh.
Nhiều bài thuốc dân tộc có hiệu quả chữa trị cao đã được thu thập và
đưa vào nghiên cứu thực nghiệm. Đồng thời, đã phát hiện nhiều loài cây
thuốc mới; đặc biệt là các công dụng mới của nhiều loài cây thuốc. Như vậy,
nghiên cứu cây thuốc truyền thống của các dân tộc thiểu số đã góp phần sử
dụng hiệu quả hơn nguồn tài nguyên cây thuốc ở nước ta.
Cùng với việc điều tra thành phần loài, kinh nghiệm sử dụng cây thuốc
của các cộng đồng thiểu số; nghiên cứu sàng lọc các bài thuốc dân tộc sử
dụng rộng rãi góp phần chăm sóc sức khỏe cộng đồng và phát triển kinh tế xã
hội được chú trọng nghiên cứu trong những năm gần đây. Từ kinh nghiệm
truyền thống của các dân tộc đã có những nghiên cứu và sản xuất thành công
các loại thuốc chữa bệnh cho người dân. Có thể nhận thấy, nghiên cứu cây
thuốc dân tộc không chỉ góp phần sử dụng bền vững nguồn tài nguyên cây
thuốc của đất nước, mà còn là cơ sở để sản xuất các loại dược phẩm mới để
điều trị các bệnh hiểm nghèo. Tuy nhiên, hiện nay rất nhiều giống cây thuốc
quý phân bố chủ yếu ở các khu vực núi cao đang bị khai thác cạn kiệt và nguy
cơ dẫn đến tuyệt chủng. Vì vậy vấn đề cấp thiết đặt ra hiện nay là tư liệu hóa

1.5. Đặc điểm điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội khu vực nghiên cứu
1.5.1. Điều kiện tự nhiên
1.5.1.1. Vị trí địa lý, ranh giới, diện tích
Bắc Hà là một huyện Đông Bắc tỉnh Lào Cai, nằm ở độ cao khoảng
1.000 đến 1.500 m so với mực nước biển. Diện tích của huyện rộng
686,78 km2, ranh giới huyện Bắc Hà được xác định như sau:
Phía Bắc giáp với huyện Si Ma Cai;
Phía Nam giáp huyện Bảo Yên, Bảo Thắng;
Phía Đông giáp huyện Xín Mần (Hà Giang);
Phía Tây giáp huyện Mường Khương.
1.5.1.2 Địa chất, địa hình
a) Địa hình
Bắc Hà có địa hình đồi núi bị chia cắt mạnh, độ dốc trung bình 240 ÷
280. Địa hình được chia làm 3 vùng như sau: .
Vùng thấp: Độ cao từ 116 ÷ 600 m gồm 8 xã Bảo Nhai, Nậm Lúc, Cốc
Ly, Cốc Lầu, Bản Cái, Nậm Khánh, Nậm Đét, Bản Liền;
Vùng trung huyện: Độ cao từ 600 ÷ 1.000 m gồm 7 xã Lầu Thí Ngài,
Thải Giàng Phố, Na Hối, Tà Chải, thị trấn Bắc Hà, Bản Phố, Nậm Mòn;
Vùng cao: Độ cao từ 1.000 ÷ 1.800 m gồm 6 xã Lùng Phình, Lùng Cải,
12


Bản Già, Tả Củ Tỷ, Hoàng Thu Phố, Tả Văn Chư.
b) Địa chất
Trên cơ sở các tài liệu khoa học ngoài hiện trường cũng như các kết
quả và phân tích trong phòng thí nghiệm: Khu vực khảo sát nằm trong vùng
có cấu trúc địa chất tương đối đơn giản. Bao gồm các lớp:
Lớp 1: Lớp phủ; sét pha màu xám vàng; Lớp này phân bố rộng khắp
trên vùng. Tại khu vực nghiên cứu gặp tại các vị trí trũng thành tạo bởi quá
trình tích tụ do nước mưa mang đến, cũng như trong quá trình phong hoá

b) Thủy văn
Trên địa bàn huyện có sông Chảy và các suối nhỏ như suối Bắc Hà,
suối Bản Phố, suối Nậm Cáy,... Đây là nguồn nước chính để phục vụ các hoạt
động dân sinh và hoạt động sản xuất.
13


Đối với khu vực xã Lùng Phình do kết cấu địa tầng vùng núi Lùng
Phình có ảnh hưởng lớn đến chế độ nước của các khe suối nhỏ, hiện tượng
Kastơ xảy ra khá phổ biến ở Lùng Phình. Hoạt động Karstơ tạo ra các lỗ đùn
nước, khe lạch nhỏ nhưng lượng nước không đáng kể.
1.5.2. Điều kiện kinh tế - xã hội
1.5.2.1. Điều kiện về kinh tế
Trong những năm qua, thực hiện đường lối đổi mới cơ chế quản lý Nhà
nước, kinh tế huyện Bắc Hà duy trì được nhịp độ tăng trưởng cao và ổn định.
Giá trị sản xuất ước đạt 484,47 tỷ đồng, tổng thu ngân sách trên địa bàn huyện
đạt 19,083 tỷ đồng.
a)
Sản xuất nông - lâm nghiệp
+ Trồng trọt: Năm 2016 tổng sản lượng cây lương thực có hạt đạt
20.840 tấn, tăng 1.302 tấn so với năm 2015. Trong đó diện tích lúa ruộng
1.962 ha, năng suất 40,42 tạ/ha; lúa nương 400 ha với năng suất đạt 11 tạ/ha.
Diện tích trồng cây ngô đạt 4.510 ha với sản lượng đạt 12.903 tấn.
Cây chè và quế là các cây công nghiệp được trồng tại địa phương. Địa
phương đã tổ chức chăm sóc diện tích chè tập trung là 405 ha, trồng mới 36
ha cho sản lượng chè tươi 550 tấn tăng 100 tấn so với năm 2015. Diện tích
cây quế trên toàn huyện đạt 1.235 ha, trong đó diện tích cây cho sản phẩm là
635 ha, cây quế được trồng tập trung chủ yếu ở vùng thấp.
1.5.2.2. Điều kiện về xã hội
a)

15


Chương 2
MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU
2.1. MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI
2.1.1. Mục tiêu tổng quát
Nghiên cứu đa dạng cây thuốc thuộc ngành Ngọc lan (Magnoliophyta)
của đồng bào dân tộc Dao đỏ ở huyện Bắc Hà - tỉnh Lào Cai
2.1.2. Mục tiêu cụ thể
- Tập hợp và hệ thống các loài thực vật thuộc ngành Ngọc lan được
đồng bào dân tộc Dao đỏ, huyện Bắc Hà sử dụng làm thuốc. Đưa ra các giải
pháp bảo tồn một số loài cây có giá trị.
- Đánh giá mức độ đa dạng về thành phần các taxon, các bệnh được
chữa trị, các bộ phận sử dụng và dạng sống của những loài thực vật được
đồng bào dân tộc Dao đỏ, huyện Bắc Hà, tỉnh Lào Cai sử dụng làm thuốc.
2.2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Các loài thực vật thuộc ngành Ngọc lan được đồng bào dân tộc Dao đỏ,
huyện Bắc Hà, tỉnh Lào Cai sử dụng làm thuốc.
Thời gian thực hiện: Từ tháng 10 năm 2016 đến tháng 10 năm 2017.
2.3. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
- Tập hợp và hệ thống hóa các thông tin về tài nguyên cây thuốc tại
huyện Bắc Hà, tỉnh Lào Cai từ trước tới nay;
- Điều tra thu thập và xử lý mẫu ngoài thực địa cũng như trong phòng
thí nghiệm;
- Tình hình khai thác và bảo tồn cây thuốc tại ở huyện Bắc Hà, tỉnh Lào
Cai;
- Điều tra kinh nghiệm của các thầy lang tại khu vực nghiên cứu.
2.4. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status