Nghiên cứu tính đa dạng cây thuốc ngành Ngọc lan (Magnoliophyta) ở khu rừng Mường Phăng – Điện Biên (LV thạc sĩ) - Pdf 44

i

LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn này, tôi nhận được sự hướng dẫn khoa học của
TS. Vũ Tiến Chính. Nhân dịp này tôi xin bầy tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất đến
các thầy cô.
Tôi xin chân thành cảm ơn PGS. TS. Trần Thế Bách – Viện Sinh thái và
Tài nguyên sinh vật và tôi xin trân trọng cảm ơn các cán bộ Phòng thực vật–
Viện sinh thái và tài nguyên sinh vật, Ban lãnh đạo và phòng đào tạo sau đại
học-Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật tạo mọi điều kiện giúp đỡ tôi trong
suốt quá trình nghiên cứu.
Tôi xin cảm ơn sự giúp đỡ của UBND xã Mường Phăng, ban quản lý khu
du tích lịch sử rừng Tướng Giáp – Huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên đã tạo điều
kiện cho tôi hoàn thiện đề tài.
Cuối cùng, tôi xin bầy tỏ lòng biết ơn đến gia đình, bạn bè đồng nghiệp
đã động viên, ủng hộ tôi trong suốt thời gian học tập.
Hà Nội, ngày 6 tháng 10 năm 2015
HỌC VIÊN

Lê Bá Duy


iii

MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ........................................................................................................................1
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU ......................................................................2
1.1. Tình hình nghiên cứu và sử dụng cây thuốc ở một số nước trên thế giới ..............2
1.2. Tình hình nghiên cứu và sử dụng cây thuốc ở Việt Nam ..................................7
1.3. Tình hình nghiên cứu thực vật ở khu vực nghiên cứu .....................................12
1.4. Tình hình nghiên cứu tri thức và kinh nghiệm sử dụng cây thuốc ở khu vực


4.2 Một số nhóm bệnh được chữa trị bằng cây ở khu vực nghiên cứu ..................33
4.2.1 Đa dạng các nhóm bệnh ............................................................................................... 33
4.3 Các loài trong Sách đỏ Việt Nam (2007) ............................................................49
4.4. Một số bài thuốc truyền thống của đồng bào dân tộc ở khu vực nghiên cứu ......49
4.5. Đề xuất các giải pháp bảo tồn các loài cây thuốc và nguồn trí thức bản địa
cho cộng đồng dân cư địa phương ............................................................................51
4.5.1. Tình hình khai thác và sử dụng nguồn tài nguyên cây thuốc và các bài
thuốc dân tộc ................................................................................................................................... 51
4.5.2. Các mối đe dọa đối với tài nguyên cây thuốc và việc sử dụng cây thuốc ở
khu vực nghiên cứu ....................................................................................................................... 51
4.5.3. Đề xuất các giải pháp bảo tồn .................................................................................. 52
KẾT LUẬN .................................................................................................................55
KIẾN NGHỊ ................................................................................................................56


1

MỞ ĐẦU
Việt Nam là một trong những Trung tâm đa dạng sinh học của thế giới,
với hệ động, thực vật rất phong phú. Theo thống kê chưa đầy đủ thì nước ta có
khoảng 15.000 loài thực vật có mạch đã được mô tả [29], trong đó có đến 1/3 số
cây cỏ đã và đang được sử dụng làm thuốc chữa bệnh [12],[13],[14].
Trải qua hơn 4000 năm lịch sử hình thành và phát triển, nhân dân ta đã
không ngừng tìm tòi, tích lũy kinh nghiệm về mọi mặt trong đời sống. Đặc biệt
là sử dụng các cây cỏ quanh mình để chăm sóc sức khỏe cho bản thân, gia đình
và cả cộng đồng. Do sự khác biệt về phong tục tập quán, về hệ thực vật mà mỗi
dân tộc ở mỗi vùng lại có những kinh nghiệm, kiến thức trong việc sử dụng cây
thuốc để chữa bệnh khác nhau.
Trong những năm gần đây, dưới sự áp lực của phát triển kinh tế, bùng nổ

phục vụ cho cuộc sống của mình (như cây làm thức ăn, làm nhà ở, cây làm
thuốc, cây lấy tinh dầu…). Các loài cây và các bài thuốc gia truyền gắn liền với
đời sống các dân tộc. Sự phát triển của loài người, mỗi dân tộc, mỗi Quốc gia
đều có những nền y học cổ truyền riêng. Những ghi chép đầu tiên về cây thuốc
được tìm thấy cách đây hơn 5 ngàn năm, từ những nét khắc trên đất sét của
người Sumeria, thuộc Mesopotamia cổ xưa (là Irắc ngày nay), đề cập đến sử
dụng cây carum và cây húng tây. Cũng thời gian này, kinh nghiệm sử dụng cây
thuốc cũng được bắt đầu hình thành và phát triển ở Trung Quốc và Ấn Độ. Cho
đến nay giá trị làm thuốc của hai loài thực vật kể trên vẫn được thừa nhận. Tuy
nhiên, nhiều bằng chứng khảo cổ học cho thấy kinh nghiệm sử dụng cây thuốc
xuất hiện từ rất lâu đời. Rễ của cây Thục quỳ (Althea officinalis), cây Lan dạ
hương (Hyacinthus sp.) và cây Cỏ thi (Achillea millefolium). Điều này cho thấy,
trên thực tế, thực vật được dùng làm thuốc xuất hiện trước khi có sự ghi chép
của sử sách.
Sử dụng cây thuốc được các quốc gia trên thế giới tiến hành ở các mức độ
khác nhau tùy thuộc vào sự phát triển của dân tộc đó. Nền y học Trung Quốc
được xem là cái nôi của y học cổ truyền, các bài thuốc được xem như hình thành
sớm nhất từ đây. Từ năm 3216 trước công nguyên, Thần Nông – một nhà dược
học tài năng đã chú ý tìm hiểu tác động của cây cỏ đến sức khỏe con người. Ông
đã thử nghiệm tác dụng các loài cây thuốc trên chính bản thân bằng uống, nếm
rồi ghi chép tất cả những hiều biết vào cuốn sách “Thần nông bản thảo” gồm
365 vị thuốc rất có giá trị. Trong đó, nhiều bài thuốc vẫn được sử dụng cho tới
ngày nay như cây Gai mèo (Cannabis sp) để chống nôn, cây Đại phong tử


3

(Hydnocarpus kurzii) làm thuốc chữa bệnh phong [9],[10],[34]. Vào thời Tam
Quốc, danh y Hoa Đà, sử dụng Đàn hương, Tử đinh hương để chế hương nang
(túi thơm) để phòng chống và chữa trị bệnh lao phổi và bệnh lỵ. Ông còn dùng


“A Physical Directory”, sau đó vài năm, ông lại xuất bản cuốn “The English
Physician” [9],[10]. Đây là cuốn dược điển có giá trị và là một trong những cuốn
sách hướng dẫn đầu tiên dành cho nhiều đối tượng sử dụng, người không chuyên
có thể sử dụng để làm cẩm nang chăm sóc sức khỏe. Cho đến nay, cuốn sách
này vẫn được tham khảo và trích dẫn rộng rãi.
Thầy lang và những bài thuốc cổ truyền từ thực vật đóng vai trò quan trọng
đối với sức khỏe của hàng triệu người. Tỷ lệ người làm nghề thuốc cổ truyền và
các bác sĩ được đào tạo ở các trường Đại học có liên quan tới toàn bộ dân số
của các nước châu Phi. Ước tính số lượng thầy lang ở Tanzania có khoảng
30.000 – 40.000 người, trong đó, bác sĩ làm nghề y chỉ có khoảng 600 người.
Tương tự ở Malawi có khoảng gần 20.000 người làm nghề thuốc cổ truyền
nhưng số lượng bác sĩ rất ít. Nền y học cổ truyền ở các quốc gia châu Phi có ảnh
hưởng lớn đến sức khỏe cộng đồng.
Cùng với phương thức chữa bệnh theo kinh nghiệm dân gian, các nhà khoa
học trên thế giới tiến hành tìm hiểu, nghiên cứu cơ chế và các hợp chất hóa học
trong cây có tác dụng chữa bệnh, đúc rút thành những cuốn sách có giá trị. Các
nhà khoa học công nhận rằng hầu hết các cây cỏ đều có tính kháng sinh, đó là
khả năng miễn dịch tự nhiên của thực vật. Tác dụng kháng khuẩn do các hợp
chất tự nhiên có mặt phổ biến trong thực vật như phenolic, antoxy, các dẫn xuất
quino, ancaloid, flavonoid, saponin, … Cho đến nay, nhiều hợp chất tự nhiên đã
được giải mã về cấu trúc, những hợp chất này được chiết xuất từ cây cỏ để làm
thuốc. Dựa vào cấu trúc được giải mã, người ta có thể tổng hợp nên các chất
nhân tạo để chữa bệnh. Gotthall (1950) đã phân lập được chất Glucosid
barbaloid từ cây Lô hội (Aloe vera), chất này có tác dụng với vi khuẩn lao ở
người và vi khuẩn Baccilus subtilis. Lucas và Lewis (1994) đã chiết xuất một
hoạt chất có tác dụng với các loài vi khuẩn gây bệnh tả, lị, mụn nhọt từ Kim
ngân (Lonicera sp). Từ cây Hoàng liên (Coptis teeta), người ta đã chiết xuất
được berberin. Trong lá và rễ cây Hẹ (Allium odorum) có các hợp chất sulfua,
sapoin và chất đắng. Năm 1948, Shen-Chi-Shen phân lập được một hoạt chất

thực vật có hoa được dùng làm thuốc. Mức độ sử dụng thuốc thảo dược ngày
càng cao.
Khoảng 80% dân số ở các quốc gia đang phát triển sử dụng các phương
pháp y học cổ truyền để chăm sóc sức khỏe, trong đó chủ yếu là cây cỏ. Trung


6

Quốc là nước đông dân nhất thế giới, có nền y học dân tộc phát triển nên trong
số cây thuốc đã biết hiện nay có tới 80% số loài (khoảng trên 4.000 loài) là được
sử dụng theo kinh nghiệm cổ truyền của các dân tộc ở đất nước này. Ở Ghana,
Mali, Nigeria và Zambia, 60% trẻ em có triệu chứng sốt rét ban đầu được điều
trị tại chỗ bằng thảo dược. Tỷ lệ dân số tin tưởng vào hiệu quả sử dụng thảo
dược và các biện pháp chữa bệnh bằng y học cổ truyền cũng đang tăng nhanh ở
các quốc gia phát triển. Ở châu Âu, Bắc Mỹ, và một số nước khác, ít nhất 50%
dân số sử dụng thực phẩm bổ sung hay thuốc thay thế từ thảo mộc. Ở Đức, 90%
dân số sử dụng các phương thuốc có nguồn gốc thiên nhiên để chăm sóc sức
khỏe. Ở Anh, chi phí hàng năm cho các loại thuốc thay thế từ thảo mộc là 230
triệu đôla.
Theo số liệu của trung tâm thương mại quốc tế từ năm 1976, các nước
công nghiệp phát triển đã nhập khẩu hơn 300 triệu USD và đến năm 1980 con số
này đã tăng lên 551 triệu USD. Chỉ tính riêng 12 loại dược liệu có nhu cầu sử
dụng cao ở Mỹ là Bạch quả, Sâm Triều Tiên, Tỏi, Valeriana officinalis, … từ
năm 1998 đã đạt doanh số bán lẻ là 552 triệu USD. Đến năm 2003, thị trường
thảo dược toàn cầu đã vượt mức 60 tỷ USD hàng năm và con số này vẫn tiếp tục
tăng. (Đề án phát triển ngành dược và xây dựng hệ thống cung cấp thuốc của
Việt Nam giai đoạn 2007 – 2015 và tầm nhìn đến 2020).
Tuy nhu cầu sử dụng cây thuốc của con người trong việc chăm sóc sức
khỏe ngày một tăng, nhưng nguồn tài nguyên thực vật đang bị suy giảm. Nhiều
loài thực vật đã bị tuyệt chủng hoặc đang bị đe dọa tuyệt chủng do các hoạt động

riêng đang là mối quan tâm hàng đầu của nhiều quốc gia nhằm phục vụ cho mục
đích chăm sóc và bảo vệ sức khỏe của con người.
1.2. Tình hình nghiên cứu và sử dụng cây thuốc ở Việt Nam
Việt Nam được công nhận là một trong những trung tâm đa dạng và
phong phú nhất thế giới, bởi vì có đặc điểm địa lý, khí hậu nhiệt đưới gió mùa
nòng và ẩm cũng như tác động của di cư thực vật từ miền Nam Trung Quốc,
Ấn Độ và các khu vực Himalaya Malaysia-Indonesia.
Ước tính, nước ta có khoảng 15.000 loài thực vật bậc cao có mạch [29] ,
800 loài rêu, 600 loài nấm và hơn 2.000 loài tảo [22],[23],[36]. Trong tổng số
gần 4000 loài cây thuốc đã được ghi nhận ở Việt Nam, có tới 90% là cây thuốc


8

mọc tự nhiên, tập tung chủ yếu trong các quần xã rừng và chỉ có khoảng 10%
là cây thuốc trồng. Theo số liệu thống kê của ngành Y tế, mỗi năm ở Việt
Nam tiêu thụ từ 30 - 50 ngàn tấn các loại dược liệu khác nhau để sử dụng trong
y học cổ truyền làm nguyên liệu ngành cho công nghiệp Dược và xuất khẩu.
Trong đó, trên 2/3 khối lượng này được khai thác từ nguồn cây thuốc mọc tự
nhiên và trồng trọt. Riêng từ nguồn cây thuốc tự nhiên đã cung cấp tới trên 20
ngàn tấn mỗi năm. Khối lượng dược liệu này trên thực tế mới chỉ bao gồm từ
hơn 200 loài được khai thác và đưa vào thương mại có tính phổ biến hiện
nay. Bên cạnh đó, còn nhiều loài dược liệu khác vẫn được thu hái, sử dụng tại
chỗ trong cộng đồng và hiện chưa có những con số thống kê cụ thể.
Trong cuốn sách “Nam Dược Thần Hiệu” và “Hông Nghĩa Giác Tự Y Thư”
của Tuệ Tĩnh đã mô tả hơn 630 vị thuốc, 50 đơn thuốc chữa các loại bệnh trong
đó 37 đơn thuốc chữa bệnh thương hàn. Hai cuốn sách này được xem là những
cuốn sách xuất hiện sớm nhất về cây thuốc Việt Nam. Đến thế kỷ 18, Hải
Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác đã xuất bản bộ sách lớn “Y Tông Tâm Tĩnh”
gồm 28 tập, 66 quyển đã mô tả khá chi tiết vệ thực vật, các đặc tính chữa bệnh.

phần hóa học, công dụng và liều dùng.
Năm 1980 Đỗ Huy Bích, Bùi Xuân Chương đã giới thiệu 519 loài cây
thuốc, trong đó có 150 loài mới phát hiện “Sổ tay cây thuốc Việt Nam”.[6]
Đề cập đến cây thuốc trong hệ thực vật Việt Nam,Võ Văn Chi là người đầu tiên
có tâm huyết, năm 1976 trong luận án khoa học của mình, ông đã thống kê có
1360 loài cây thuốc thuộc 192 họ trong ngành hạt kín ở miền Bắc Việt Nam.
Năm 1991, trong một báo cáo tham gia hội thảo quốc gia về cây thuốc lần thứ II
ở thành phố Hồ Chí Minh, tác giả đã giới thiệu một danh sách các loài cây thuốc
ở Việt Nam có 2 280 loài cây thuốc, thuộc 254 họ trong 8 ngành. Năm 1997 tác
giả giới thiệu “ Từ điển cây thuốc Việt Nam” giới thiệu 3.200 loài cây thuốc,
đây là một công trình có ý nghĩa khoa học và thực tiễn rất lớn phục vụ cho
ngành dược và các nhà thực vật học [12]. Đặc biệt năm 2012, tác giả đã tái bản
có bổ sung công trình trên với 4.470 loài cây thuốc [13].
Các kết quả điều tra dược liệu của Viện Dược liệu từ năm 1961 đến 1985
đã phát hiện 1.863 loài cây thuốc, trong 1033 chi, 236 họ, 101 bộ, 17 lớp, 11
ngành được xếp loại theo hệ thống của nhà thực vật học Takhtajan. Đến năm
2000, số loài cây thuốc đã tăng lên tới 3.849 loài thuộc 307 họ thực vật.


10

Theo Đỗ Huy Bích hàng năm nước ta khai thác và sử dụng tới 300 loài
cây thuốc ở các mức độ khác nhau[7]. Khó mà thống kê được một cách đầy đủ
khối lượng dược liệu tự nhiên được khai thác bởi vì hàng năm ngoài cơ sở sản
xuất của nhà nước còn có những cơ sở của tư nhân, của những ông Lang, bà Mế
và người dân từng địa phương tự thu hái về chữa bệnh theo kinh nghiệm dân
gian.
Trần Đình Lý (1993) và cộng sự đã xuất bản cuốn sách “1900 loài cây có
ích” [32]; trong số các loài thực vật bậc cao có mạch đã biết ở Việt Nam có 76
loài cho nhựa thơm, 160 loài có tinh dầu, 260 loài cho dầu béo, 600 loài chứa

Như vậy, mặc dù chưa thống kê đầy đủ song các dẫn liệu kể trên cũng đã
nói lên sự phong phú và tầm quan trọng của nguồn tài nguyên cây thuốc của
Việt Nam.
Tình trạng về nguồn tài nguyên thực vật nói chung và nguồn cây thuốc
nói riêng hiện nay không còn nguyên vẹn như xưa. Do phá rừng, đốt nương làm
rẫy, khai thác ồ ạt dẫn tới nguồn tài nguyên cây thuốc ngày càng cạn kiệt, nhiều
loài cây thuốc bị giảm về trữ lượng như Bình vôi (Stephania brachyandra),
Chùa dù (Elsholtzia penduliflora), Tục đoạn (Dipsacus asper),… Đặc biệt đối
với những cây quý hiếm thì tình trạng suy kiệt càng trở nên gay gắt hơn nhiều:
Sâm vũ diệp (Panax bipinnatifidus), Tam thất hoang (Panax stipuleanatus), Ngũ
gia bì gai (Acanthopanax trifoliatus)… hiện lâm vào tình trạng bị đe dọa tuyệt
chủng.
Nhận thức được vai trò và tiềm năng của cây thuốc trong công tác chăm sóc
sức khỏe, chữa bệnh và phát triển kinh tế, bảo vệ bản sắc văn hóa dân tộc
trong nhiều năm nay, Nhà nước Việt Nam trong đó các Bộ ngành và các cơ
quan đã tích cực tham gia và phê chuẩn các công ước quốc tế như “Công ước
đa dạng sinh học (1992)”, “kế hoạch hành động đa dạng sinh học (1994)” và
ban hành nhiều luật chính sách có gắn liền với chăm sóc sức khỏe, phát triển
ngành dược với việc bảo tồn cây thuốc như: “Định hướng chiến lược chăm sóc
sức khỏe bảo vệ nhân dân trong thời gian 1996 – 2010” và “chính sách quốc gia
về thuốc Việt Nam (1996)”, “chiến lược phát triển ngành Dược đến 2010
(2002)”, “chính sách quốc gia về y dược học cổ truyền đến năm 2010 (2003)”,
“Đề án phát triển ngành dược và xây dựng hệ thống cung cấp thuốc của Việt
Nam giai đoạn 2007– 2015 và tầm nhìn đến 2020 (2007)”. Một trong số đó là
việc triển khai nhiệm vụ “bảo tồn nguồn gen và phát triển giống cây thuốc”


12

của Bộ KHCN và MT từ năm 1988 trước khi có hướng dẫn bảo tồn cây thuốc

14

CHƯƠNG 2
ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Mục tiêu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đánh giá đa dạng tài nguyên cây thuốc, kinh nghiệm sử dụng cây thuốc
của đồng bào dân tộc trong khu rừng Mường Phăng – Điện Biên.
Các loài cây thuốc thuộc ngành Ngọc lan (Magnoliophyta) và một số bài
thuốc của một số ông lang, bà mế có kinh nghiệm của đồng bào dân tộc ở khu
vực nghiên cứu.
Thời gian thực hiện: Từ tháng 12 năm 2014 đến tháng 11 năm 2015.
2.2. Nội dung nghiên cứu
Đa dạng thực vật: Thu thập và xử lý mẫu vật, xác định tên, xây dựng danh
lục, phân tích, đánh giá đa dạng các bậc taxon (lớp, họ, chi) của các loài cây
thuốc và các bài thuốc được đồng bào dân tộc ở khu vực nghiên cứu.
Vấn đề sử dụng cây thuốc: Đa dạng về công dụng chữa trị của các loài
cây thuốc. Một số bài thuốc chữa bệnh của các ông lang, bà mế.
2.3. Phương pháp nghiên cứu
2.3.1. Phương pháp kế thừa
Dựa trên các công trình nghiên cứu đã được thực hiện và công bố trước
đây về thành phần thực vật, tài nguyên thực vật tại Khu rừng Mường Phăng,
Điện Biên cũng như một số tài liệu có liên quan sau:
·

Kế thừa các kết quả của các nghiên cứu khoa học, các công trình nghiên
cứu, bài báo, các thông tin có liên quan tới các loài cây ăn được nói chung
và các loài thực vật có phân bố tại Khu vực nghiên cứu.

·


được chọn phải đảm bảo yêu cầu phải chạy qua các sinh cảnh đặc trưng cho khu
bảo tồn. Trên mỗi tuyến cắt ngang chọn các ô tiêu chuẩn là những điểm chốt đặc
trưng nhất để nghiên cứu đa dạng tài nguyên cây thuốc (Theo Nguyễn Nghĩa
Thìn, 1997).
Trên mỗi tuyến, tiến hành điều tra các loài cây thuốc của đồng bào dân tộc
sử dụng trong phạm vi 10 m mỗi bên. Mỗi loài lấy 5 - 6 tiêu bản.
- Các tuyến điều tra thực địa:

- Bản Phăng 1
- Bản Tân Bình
- Bản Phăng 2
- Bản Phăng 3


16

2.3.3. Thu thập số liệu, tài liệu
Tiến hành thu thập số liệu từ các nguồn thông tin đáng tin cây như các
báo cáo khoa học của khu bảo tồn, kỷ yếu, tạp chí khoa học, internet, ….
Sử dụng phương pháp phỏng vấn nhanh có sự tham gia của người dân
(PRA): Phỏng vấn các ông Lang, bà Mế, các cán bộ làm công tác quản lý tại khu
du lịch và cộng đồng dân cư địa phương thông qua bảng hỏi đã được xây dựng
sẵn. Để sưu tầm và phát hiện các bài thuốc, cây thuốc sử dụng theo kinh nghiệm
dân gian. Mỗi cây thuốc, bài thuốc nếu có mẫu thu và ghi chép các thông tin cần
thiết nhất công dụng, bộ phận sử dụng, cách sử dụng của cây.
Điều tra tình hình khai thác và sử dụng cây thuốc chính là phương pháp điều tra
nhanh về thị trường dược liệu. Mục đích chủ yếu là nắm những loài cây thuốc
đang có nhu cầu sử dụng và khối lượng sử dụng của mỗi loại hàng năm là bao
nhiêu. Căn cứ vào kết quả điều tra để giới thiệu cho khai thác và sử dụng.
Phương pháp chung để tiến hành điều tra là phương pháp phỏng vấn trực tiếp.

Đánh giá tính đa dạng của các loài cây thuốc, về tần số sử dụng các bộ
phận, về số lượng các bộ phận sử dụng làm thuốc, nhóm bệnh,...
Xác định các loài quí hiếm có nguy cơ bị tiêu diệt: Trên cơ sở danh lục
thực vật, lập danh sách các loài quí hiếm ở khu vực nghiên cứu. Các loài được
xác định quí hiếm có nguy cơ bị tiêu diệt dựa vào tiêu chí của công trình sau:
- Sách đỏ Việt Nam, 2007;
Các nhóm bệnh được phân chia theo tài liệu của Lê Trần Đức (1997) “Cây
thuốc Việt Nam trồng hái chế biến và trị bệnh ban đầu”. Chi tiết như sau:
- Nhóm 1: Bệnh ngoại cảm (gồm Cảm mạo phát sốt ớn lạnh, Nghẹt mũi, Cảm
cúm hơi sốt sợ lạnh, Đau mỏi, Cảm gió lạnh, Rét run, Cảm nóng rét nắng mưa
thời khí hỗn tạp, Cảm về mùa hè nôn đầy, Cảm cúm mùa hè sốt dai đau mình,
Cảm nắng hay sốt nóng đơn thuần, Nóng rét qua lại, Sốt rét cơn, Sốt dị ứng,
phát ngứa sưng phù, Bệnh ôn nhiệt sốt hè thu, Trúng gió méo mồm lệch mắt,
Trúng phong thấp hôn mê co cứng, Trùng phong hàn hôn mê quyết lạnh).
- Nhóm 2: Bệnh về hô hấp (Ngạt mũi, Sổ mũi, Hắt hơi, Viêm mũi dị ứng, Ho,
viêm họng, Ho đờm, Ho khan, Viêm phế quản, Viêm phổi, Sưng phổi, Hen phế
quản, Hen suyễn, Suyễn thở, Ho lao).


18

- Nhóm 3: Bệnh về huyết mạch (gồm Các loại chảy máu, Huyết áp cao, Huyếp
áp thấp, Hạ đường huyết, Mạch máu xơ cứng (tắc mạch, giãn mạch), Đau tim).
- Nhóm 4: Bệnh về tâm thần (gồm Khó ngủ hồi hộp, Ngủ lờ mờ không sâu, Dễ
tỉnh, Điên cuồng, Tinh thần phân liệt (sấu uất), Động kinh, Kinh giản).
- Nhóm 5: Bệnh về tiêu hoá (Nghẹn nuốt khó, Nấc cụt, Ợ, Nôn oẹ, Nôn mửa,
Đau bụng không tiêu, Đau bụng lạnh dạ, Nóng ruột chán cơn, Táo bón, Ỉa chảy
phân loãng, Sống phân, Ỉa xối ra nước không dứt, Lỵ mới phát, Lỵ ra máu, Có
sốt, Lỵ mạn tính, Thổ tả, Đau bụng giun quấy, Trục giun, Ngộ độc, Đau dạ dày,
Viêm đại tràng mạn tính, Lòi dom và trĩ mới phát).

sinh dục, Vô kinh do giảm chức năng buồng trứng, Tắc tia sữa, Viêm tuyến vú,
U xơ tuyến vú, Áp xe vú, Nhọt vú, Vú bị lở, Đứt cổ gà, Nôn nghén, Động thai,
Phòng sẩy thai, Sau khi đẻ say máu; Sau khi đẻ cảm sốt, Sau khi đẻ phù nề).
- Nhóm 13: Bệnh trẻ em (gồm Ợ, nấc cụt, trớ sữa; Ói sữa; Trẻ ỉa chảy phọt toé
ra nước; Ỉa chảy phân loãng, Ỉa phân sống; Cam tích; Cam tướt; cam lỵ; còi
xương; Suy dinh dưỡng; Cam thũng; Quai bị; Ho gà; Sởi; Thủy đậu, Sốt bại liệt,
Viêm màng não B và di chứng, Sổ xuất huyết do muỗi, Sưng amidan, Viêm tai,
Thấp tim, Đái dầm, Thoát vị thừng tinh, Lở chàm, Chốc đầu – mô đầu, Rôm rảy,
tưa lưỡi, Lở mồm).


20

CHƯƠNG 3
ĐẶC ĐIỂM ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN - KINH TẾ VÀ XÃ HỘI
KHU RỪNG MƯỜNG PHĂNG, TỈNH ĐIỆN BIÊN
3.1. Điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên khu vực nghiên cứu
Đặc điểm tự nhiên
Vị trí địa lý
Xã Mường Phăng là một xã miền núi nằm ở phía Đông Bắc của huyện
Điện Biên thuộc tỉnh Điện Biên, trung tâm xã cách thành phố Điện Biên Phủ 25
km. Xã có diện tích tự nhiên là 9.158,56 ha với có tọa độ địa lý từ 21037'97'' đến
21049'43'' vĩ độ Bắc; từ 103005'47'' đến 103018'58'' kinh độ Đông đặc thù địa hình
bao gồm núi cao, dốc bị chia cắt phức tạp bởi các dãy núi đất tạo thành các
thung lũng hẹp có độ cao từ 880 m đến 1.635 m so với mặt nước biển.
Khí hậu
Xã Mường Phăng nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa có mùa đông lạnh và
chia làm hai mùa rõ rệt: mùa hạ nóng, ẩm, mưa nhiểu và mùa đông ít mưa, chịu
tác động của gió mùa tây nam khô và nóng (từ tháng 04 đến tháng 07) và gió
đông bắc lạnh ẩm (từ tháng 11 đến tháng 02).

Mường Phăng là xã thuộc hệ thống rừng đầu nguồn sông Nậm Rốm, có chức
năng điều tiết nước sản xuất cho cánh đồng Mường Thanh, trong đó hồ chứa
nước Pá Khoang với diện tích 600 ha, giữ vai trò quan trọng. Ngoài ra hồ còn
tạo nên cảnh quan môi trường đẹp góp phần phát triển du lịch sinh thái. Mường
Phăng có các nhóm đất chính là: nhóm đất phù sa, nhóm đất đen, nhóm đất mùn
vàng đỏ trên núi. Những loại đất này rất phù hợp để phát triển các loại cây lương
thực, hoa màu và cây công nghiệp ngắn ngày, trồng và khoanh nuôi tái sinh
rừng.
Qua kết quả khảo sát thực địa và kế thừa tài liệu kết quả điều tra xây dựng
bản đồ lập địa của tỉnh Điện Biên xã Mường Phăng có những nhóm đất sau:
- Nhóm đất Feralit mùn vàng đỏ trên núi trung bình: Phân bố ở độ cao từ 950
m đến 1.600 m so với mặt nước biển, độ dốc bình quân > 250. Đá mẹ chủ yếu là
nhóm đá macma axit và đá biến chất, có thành phần cơ giới trung bình hàm lượng
mùn tương đối dày.
- Nhóm đất thung lũng (do quá trình bồi tụ): Phân bố tập trung chủ yếu ở
ven hồ, suối, vùng đồi, thung lũng, có độ cao dưới 950 m so với mặt nước biển,
có độ dốc nhỏ. Dạng đất này có tầng đất từ trung bình đến dày, thành phần cơ
giới từ thịt nhẹ đến cát pha, đất tơi xốp.
Từ hai nhóm đất trên toàn địa bàn xã đã hình thành 6 loại đất sau:


22

Bảng 3.1.1: Tổng hợp diện tích các loại đất trên địa bàn xã Mường Phăng
TT Tên đất


hiệu

Diện


0,4
0,1
2,9

5
6
7

Đất mùn vàng đỏ trên đá macma axit
Đất thung lũng do sản phẩm dốc tụ
Đất hồ
Tổng

Fa
D

893,5
238,4
600
9.158,5

9,8
2,6
6,5

- Đất mùn vàng đỏ trên đá macma axit (Ha);
Diện tích 7.114 ha chiếm 77,7% tổng diện tích tự nhiên, đây là loại đất
chính phân bố trên địa bàn xã; đất có thành phần cơ giới từ thịt nhẹ đến trung
bình, tầng đất dầy, hàm lượng mùn trong đất tương đối nhiều;

Đặc
Phòng
Sản
dụng
hộ
xuất
2.669,6 4.112,2

1.

Rừng tự nhiên

2.832,7

882

-

Rừng trung bình (IIIA2)

41,5

41,5

-

Rừng nghèo kiệt (IIIA1)

57,7


-

Đất trống trảng cỏ (IA)

944,1

582,1

362

-

Đất trống có cây bụi (IB)

593,5

283,1

310,4

TT

Hạng Mục

Tổng

1.950,7
57,7

Đất trống có cây gỗ tái sinh


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status