Thực trạng và giải pháp xây dựng nông thôn mới ở huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên (LV thạc sĩ) - Pdf 41

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
-----------------------------------------------------

NGUYỄN THANH BÌNH

THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP XÂY DỰNG NÔNG
THÔN MỚI TẠI HUYỆN ĐIỆN BIÊN,
TỈNH ĐIỆN BIÊN

LUẬN VĂN THẠC SĨ
CHUYÊN NGÀNH PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN

Thái Nguyên - 2016


2

ĐẶT VẤN ĐỀ
1. Tính cấp thiết của đề tài
Xây dựng nông thôn mới (NTM) là bước đầu tiên để tiến tới công nghiệp
hóa và hiện đại hóa. Hội nghị lần thứ 7 của ban chấp hành trung ương Đảng
khóa X đã ban hành nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 5/8/2008 về vấn đề nông
nghiệp, nông dân và nông thôn. Nghị quyết đã xác định mục tiêu xây dựng nông
thôn mới đến năm 2020. Ngày 16/4/2009, Thủ Tướng Chính phủ đã có quyết
định số 491/QĐ-TTg ban hành bộ tiêu chí quốc gia (bao gồm 19 tiêu chí) về
nông thôn mới. Đây là cơ sở để chỉ đạo xây dựng mô hình nông thôn mới nhằm
thực hiện các mục tiêu quốc gia về nông thôn phù hợp với điều kiện kinh tế - xã
hội của đất nước [20].
Xây dựng NTM là mục tiêu quốc gia, là vấn đề lớn, nhằm tạo ra sự
chuyển biến về mọi mặt trong sản xuất nông nghiệp, kinh tế nông thôn và nâng

kém hiệu quả...
Xuất phát từ những yêu cầu về phát triển nông thôn mới và giải quyết
những khó khăn trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Thực trạng và giải
pháp xây dựng nông thôn mới ở huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên”.
2. Mục tiêu cụ thể
- Đánh giá thực trạng xây dựng nông thôn mới tại huyện Điện Biên, tỉnh
Điện Biên.
- Phân tích những thuận lợi khó khăn, cơ hội và thách thức trong quá trình
xây dựng nông thôn mới ở huyện Điện Biên.
- Đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm thúc đẩy quá trình xây dựng
nông thôn mới tại huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên.
3. Ý nghĩa của đề tài

- Kết quả nghiên cứu của đề tài xác định được những thành công, bất cập
trong quá trình triển khai thực hiện “Chương trình mục tiêu quốc gia về xây
dựng nông thôn mới”, đề xuất các giải pháp có tính khả thi góp phần thúc đẩy
quá trình xây dựng nông thôn mới ở huyện Điện Biên nói chung. Vì vậy, đây là
luận cứ khoa học phục vụ cho sự lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành quản lý của huyện


4

Điện Biên và UBND các xã Mường Phăng, Thanh Chăn, xã Thanh Xương trong
việc thực hiện “Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới”
của Đảng và Nhà nước.
- Đề tài góp phần quan trọng trong việc đánh giá quá trình xây dựng nông
thôn mới và đề xuất các giải pháp có cơ sở khoa học góp phần đẩy mạnh quá
trình xây dựng Nông thôn mới ở huyện Điện Biên đảm bảo nhanh và bền vững.





6

thay đổi nhận thức qua các thời kỳ. Tuy nhiên chúng ta vẫn chưa có sự tổng hợp
lý luận về thuật ngữ này. Nhiều tổ chức phát triển quốc tế đã nghiên cứu và vận
dụng thuật ngữ này ở các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam.
Phát triển là một quá trình làm thay đổi liên tục làm tăng trưởng mức sống
của con người và phân phối công bằng những thành quả trong xã hội.
Phát triển nông thôn là một chiến lược nhằm cải thiện các điều kiện sống
về kinh tế và xã hội của một nhóm người cụ thể - người nghèo ở vùng nông
thôn. Nó giúp những người nghèo nhất trong những người dân sống ở các vùng
nông thôn được hưởng lợi từ sự phát triển (Vũ Thị Bình, 2006) [23].
Trong điều kiện của Việt Nam tổng hợp các quan điểm từ các chiến lược
phát triển kinh tế xã hội của Chính phủ, thuật ngữ này được hiểu như sau: Phát
triển nông thôn là quá trình cải thiện có chủ ý một cách bền vững về kinh tế, xã
hội, văn hóa và môi trường, nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân
nông thôn và có sự hỗ trợ tích cực của Nhà nước và các tổ chức khác (Nguyễn
Văn Tâm, 2010) [13].
1.1.1.3. Nông thôn mới
Trong Nghị quyết số 26-NQ/TW đưa ra mục tiêu: Xây dựng nông thôn
mới có kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội từng bước hiện đại; cơ cấu kinh tế và các
hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, gắn nông nghiệp với phát triển nhanh công
nghiệp, dịch vụ; gắn phát triển nông thôn với đô thị theo quy hoạch; xã hội nông
thôn dân chủ, ổn định, giàu bản sắc văn hóa dân tộc; môi trường sinh thái được
bảo vệ; an ninh trật tự xã hội được giữ vững; đời sống vật chất và tinh thần của
người dân ngày càng nâng cao theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
Như vậy, nông thôn mới trước tiên nó phải là nông thôn, không phải là thị
tứ, thị trấn, thị xã, thành phố và khác với nông thôn truyền thống hiện nay, có
thể khái quát theo 5 nội dung cơ bản sau: Làng xã văn minh, sạch đẹp, hạ tầng

* Một số đặc trưng của mô hình nông thôn mới:
- Nông thôn là lãnh thổ không thuộc nội thành, nội thị các thành phố, thị
xã, thị trấn được quản lý bởi cấp hành chính cơ sở là Uỷ ban nhân dân xã [11].
- Xây dựng nông thôn mới có kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội hiện đại.


8

- Cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, gắn nông
nghiệp với phát triển nhanh công nghiệp, dịch vụ, đô thị theo quy hoạch.
- Xã hội nông thôn ổn định, giàu bản sắc văn hoá dân tộc.
- Dân trí được nâng cao, môi trường sinh thái được bảo vệ; hệ thống chính
trị ở nông thôn dưới sự lãnh đạo của Đảng được tăng cường.
- Xây dựng giai cấp nông dân, củng cố liên minh công nhân - nông dân trí thức vững mạnh, tạo nền tảng kinh tế - xã hội và chính trị vững chắc cho sự
nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã
hội chủ nghĩa [1].
Ngày 16/4/2009 Thủ tướng Chính Phủ đã ký Quyết định số 491/QĐ-TTg
về việc ban hành bộ tiêu chí quốc gia về xây dựng nông thôn mới gồm 19 tiêu
chí áp dụng riêng cho từng vùng của Việt Nam. Bộ tiêu chí cụ thể hóa đặc tính
của xây dựng NTM thời kỳ đẩy mạnh CNH - HĐH.
Bộ tiêu chí cũng là căn cứ để xây dựng nội dung chương trình mục tiêu
quốc gia về xây dựng NTM, là chuẩn mực để xác lập kế hoạch phấn đấu đạt 19
tiêu chí nông thôn mới. Ngoài ra nó còn là căn cứ để chỉ đạo và đánh giá kết quả
thực hiện xây dựng NTM của các địa phương trong từng thời kỳ; đánh giá công
nhận xã, huyện, tỉnh đạt nông thôn mới [19].
1.1.2. Vai trò nông thôn mới trong phát triển kinh tế xã hội
1.1.2.1.Về kinh tế
Nông thôn có nền sản xuất hàng hóa mở, hướng đến thị trường và giao
lưu, hội nhập. Để đạt được điều đó, cơ sở hạ tầng của nông thôn phải hiện đại,
tạo điều kiện thuận lợi cho mở rộng sản xuất, giao lưu buôn bán, chăm sóc sức

sản xuất hàng hóa khá giả, giàu có; là nông dân kết tinh các tư cách: công dân,
thể nhân, dân của làng, người con của các dòng họ, gia đình.
Có kế hoạch, chương trình, lộ trình xây dựng người nông dân nông thôn
thành người nông dân sản xuất hàng hóa trong kinh tế thị trường, thành nhân vật
trung tâm của mô hình nông thôn mới, người quyết định thành công của mọi cải
cách ở nông thôn.


10

Người nông dân và các cộng đồng nông thôn là trung tâm của mọi chiến
lược phát triển NN, NT. Đưa nông dân vào sản xuất hàng hóa, doanh nhân hóa
nông dân, doanh nghiệp hóa các cộng đồng dân cư, thị trường hóa nông thôn.
1.1.2.5.Về môi trường
Môi trường sinh thái phải được bảo tồn xây dựng, củng cố, bảo vệ. Bảo vệ
rừng đầu nguồn, chống ô nhiễm nguồn nước, môi trường không khí và chất thải
từ các khu công nghiệp để nông thôn phát triển bền vững.
Các nội dung trên trong cấu trúc vai trò mô hình nông thôn mới có mối
liên hệ chặt chẽ với nhau. Nhà nước đóng vai trò chỉ đạo, tổ chức điều hành quá
trình hoạch định và thực thi chính sách, xây dựng đề án, cơ chế, tạo hành lang
pháp lý, hỗ trợ vốn, kỹ thuật, nguồn lực, tạo điều kiện, kích thích tinh thần.
Nhân dân tự nguyện tham gia, chủ động trong thực thi và hoạch định chính sách.
Trên tinh thần đó, các chính sách kinh tế - xã hội ra đời tạo hiệu ứng tổng (Hồ
Văn Thông, 2005) [13].
1.2. Cơ sở thực tiễn xây dựng nông thôn mới
1.2.1. Tình hình xây dựng nông thôn mới trên thế giới
1.2.1.1. Trung Quốc
Nông thôn Việt Nam và Trung Quốc có nhiều nét tương đồng. Trung
Quốc đã thực hiện nhiều chính sách cải cách ở nông thôn. Đến năm 2009, thu
nhập bình quân của cư dân nông thôn lần đầu tiên đạt mức trên 5.000 NDT tăng

Trong đó, những mốc quan trọng là xóa bỏ công xã nhân dân; xác lập thể chế
kinh doanh hai tầng kết hợp, lấy kinh doanh bao thầu gia đình làm cơ sở; mở
cửa toàn diện thị trường nông sản; xóa bỏ thuế nông nghiệp, và thực hiện trợ cấp
trực tiếp cho nông dân. Trung Quốc thực hiện nội dung hai mở, một điều chỉnh
là mở cửa giá thu mua, thị trường mua bán lương thực; một điều chỉnh là chuyển
từ trợ cấp gián tiếp qua lưu thông thành trợ cấp trực tiếp cho nông dân trồng
lương thực.
Định hướng phát triển tài chính hỗ trợ tam nông ở Trung Quốc là nông
nghiệp hiện đại, nông thôn đô thị hóa và nông dân chuyên nghiệp hóa. Trong
chính sách tài chính, để tăng thu nhập cho nông dân, Trung Quốc tăng đầu tư hỗ
trợ về giá mua giống, hỗ trợ thu mua lương thực không thấp hơn giá thị trường,
mua máy móc thiết bị nông nghiệp và vốn. Cùng đó, Trung Quốc cũng tập trung


12

xây dựng cơ chế hướng nghiệp, đào tạo kỹ năng làm việc, đặc biệt là lao động
trẻ. Ngoài ra, bên cạnh giảm thu phí và thuế với nông dân, Trung Quốc còn có
chủ trương, đảm bảo trong vòng 3 năm xóa bỏ tình trạng các xã, thị trấn không
có dịch vụ tài chính tiền tệ cơ bản. Đồng thời, thúc đẩy việc mua đồ gia dụng, ô
tô, xe máy tại các xã, bằng cách nhà nước trợ cấp 13% trên tổng giá trị hàng hoá
khi nông dân mua sản phẩm do nhà nước định hướng (Phạm Anh - Văn Lợi,
2011) [16].
1.2.1.2. Hàn Quốc: Phong trào làng mới
Sau trận lụt lớn năm 1969, người dân Hàn Quốc phải tu sửa lại nhà cửa,
đường sá, ruộng vườn mà không có sự trợ giúp của chính phủ. Trong khi đi thị
sát tình hình dân chúng, Tổng thống Hàn Quốc lúc bấy giờ là Park Chung Hy
nhận ra rằng viện trợ của chính phủ cũng là vô nghĩa nếu người dân không nghĩ
cách tự cứu lấy mình. Hơn thế nữa, khuyến khích người dân tự hợp tác và giúp
đỡ nhau là điểm mấu chốt để phát triển nông thôn.

Nhờ phát triển giao thông nông thôn nên các hộ có điều kiện mua sắm
phương tiện sản xuất. Cụ thể là năm 1971 cứ 3 làng mới có 1 máy cày thì đến
năm 1975 trung bình mỗi làng đã có 2,6 máy cày, rồi nâng lên 20 máy vào năm
1980. Từ đó tạo phong trào cơ khí hóa trong sản xuất nông nghiệp, áp dụng công
nghệ cao, giống mới lai tạo đột biến, công nghệ nhà lưới, nhà kính trồng rau,
hoa quả đã thúc đẩy năng suất, giá trị sản phẩm nông nghiệp tăng nhanh. Năm
1979, Hàn Quốc đã có 98% số làng tự chủ về kinh tế.
Ông Le Sang Mu, cố vấn đặc biệt của Chính phủ Hàn Quốc về nông, lâm,
ngư nghiệp cho biết: Chính phủ hỗ trợ một phần đầu tư hạ tầng để nông thôn tự
mình vươn lên, xốc lại tinh thần, đánh thức khát vọng tự tin. Thắng lợi đó được
Hàn Quốc tổng kết thành 6 bài học lớn.
Thứ nhất, phát huy nội lực của nhân dân để xây dựng kết cấu hạ tầng
nông thôn phương châm là nhân dân quyết định và làm mọi việc “Nhà nước bỏ
ra 1 vật tư, nhân dân bỏ ra 5-10 công sức và tiền của”. Dân quyết định loại công
trình, dự án nào cần ưu tiên làm trước, công khai bàn bạc, quyết định thiết kế và
chỉ đạo thi công, nghiệm thu công trình. Năm 1971, Chính phủ chỉ hỗ trợ cho
33.267 làng, mỗi làng 335 bao xi măng. Năm 1972 lựa chọn 1.600 làng làm tốt
được hỗ trợ thêm 500 bao xi măng và 1 tấn sắt thép. Sự trợ giúp này chính là


14

chất xúc tác thúc đẩy phong trào nông thôn mới, dân làng tự quyết định mức
đóng góp đất, ngày công cho các dự án.
Thứ hai, phát triển sản xuất để tăng thu nhập. Khi kết cấu hạ tầng phục vụ
sản xuất được xây dựng, các cơ quan, đơn vị chuyển giao tiến bộ kỹ thuật, giống
mới, khoa học công nghệ giúp nông dân tăng năng suất cây trồng, vật nuôi, xây
dựng vùng chuyên canh hàng hóa. Chính phủ xây dựng nhiều nhà máy ở nông
thôn để chế biến và tiêu thụ nông sản cũng như có chính sách tín dụng nông
thôn, cho vay thúc đẩy sản xuất. Từ năm 1972 đến năm 1977 thu nhập trung

1.2.1.3. Nhật Bản: “Mỗi làng một sản phẩm”
Từ thập niên 70 của thế kỷ trước, ở tỉnh Oita (miền tây nam Nhật Bản) đã
hình thành và phát triển phong trào “Mỗi làng một sản phẩm”, với mục tiêu phát
triển vùng nông thôn của khu vực này một cách tương xứng với sự phát triển
chung của cả nước Nhật Bản. Trải qua gần 30 năm hình thành và phát triển,
Phong trào “Mỗi làng một sản phẩm” ở đây đã thu được nhiều thắng lợi rực rỡ.
Sự thành công của phong trào này đã lôi cuốn sự quan tâm không chỉ của nhiều
địa phương trên đất nước Nhật Bản mà còn rất nhiều khu vực, quốc gia khác
trên thế giới. Một số quốc gia, nhất là những quốc gia trong khu vực Đông Nam
Á đã thu được những thành công nhất định trong phát triển nông thôn của đất
nước mình nhờ áp dụng kinh nghiệm phong trào “Mỗi làng một sản phẩm”.
Những kinh nghiệm của phong trào “Mỗi làng một sản phẩm” được
những người sáng lập, các nhà nghiên cứu đúc rút để ngày càng có nhiều người,
nhiều khu vực và quốc gia có thể áp dụng trong chiến lược phát triển nông thôn,
nhất là phát triển nông thôn trong quá trình công nghiệp hóa đất nước
mình (Tuấn Anh, 2012) [21].
1.2.1.4. Thái Lan: sự trợ giúp mạnh mẽ của nhà nước
Thái Lan vốn là một nước nông nghiệp truyền thống với dân số nông thôn
chiếm khoảng 80% dân số cả nước. Để thúc đẩy sự phát triển bền vững nền
nông nghiệp, Thái Lan đã áp dụng một số chiến lược như: Tăng cường vai trò
của cá nhân và các tổ chức hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp; đẩy mạnh
phong trào học tập, nâng cao trình độ của từng cá nhân và tập thể bằng cách mở
các lớp học và các hoạt động chuyên môn trong lĩnh vực nông nghiệp và nông
thôn; tăng cường công tác bảo hiểm xã hội cho nông dân, giải quyết tốt vấn đề


16

nợ trong nông nghiệp; giảm nguy cơ rủi ro và thiết lập hệ thống bảo hiểm rủi ro
cho nông dân.


mặt hàng: gạo, dứa, tôm sú, gà và cà phê. Chính phủ Thái Lan cho rằng, càng có
nhiều nguyên liệu cho chế biến thì ngành công nghiệp chế biến lương thực thực
phẩm mới phát triển và càng thu được nhiều ngoại tệ cho đất nước. Nhiều sáng
kiến làm gia tăng giá trị cho nông sản được khuyến khích trong chương trình
Mỗi làng một sản phẩm và chương trình Quỹ làng.
- Chính sách bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm: Chính phủ Thái Lan
thường xuyên thực hiện chương trình quảng bá vệ sinh an toàn thực phẩm. Năm
2004, Thái Lan phát động chương trình “Năm an toàn thực phẩm và Thái Lan là
bếp ăn của thế giới”. Mục đích chương trình này là khuyến khích các nhà chế
biến và nông dân có hành động kiểm soát chất lượng vệ sinh thực phẩm để bảo
đảm an toàn cho người tiêu dùng trong nước và xuất khẩu. Bên cạnh đó, Chính
phủ thường xuyên hỗ trợ cho doanh nghiệp cải thiện chất lượng vệ sinh an toàn
thực phẩm. Do đó, ngày nay, thực phẩm chế biến của Thái Lan được người tiêu
dùng ở các thị trường khó tính, như Hoa Kỳ, Nhật Bản và EU, chấp nhận.
- Mở cửa thị trường khi thích hợp: Chính phủ Thái Lan đã xúc tiến đầu tư,
thu hút mạnh các nhà đầu tư nước ngoài vào liên doanh với các nhà sản xuất
trong nước để phát triển ngành công nghiệp chế biến thực phẩm, thông qua việc
mở cửa cho các quốc gia dù lớn hay nhỏ vào đầu tư kinh doanh. Trong tiếp cận
thị trường xuất khẩu, Chính phủ Thái Lan là người đại diện thương lượng với
chính phủ các nước để các doanh nghiệp đạt được lợi thế cạnh tranh trong xuất
khẩu thực phẩm chế biến. Bên cạnh đó, Chính phủ Thái Lan có chính sách trợ
cấp ban đầu cho các nhà máy chế biến và đầu tư trực tiếp vào kết cấu hạ tầng
như: Cảng kho lạnh, sàn đấu giá và đầu tư vào nghiên cứu và phát triển; xúc tiến
công nghiệp và phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ. Xúc tiến công nghiệp là
trách nhiệm chính của Cục Xúc tiến công nghiệp thuộc Bộ Công nghiệp, nhưng
việc xúc tiến và phát triển công nghiệp chế biến thực phẩm ở Thái Lan do nhiều
cơ quan cùng thực hiện. Chẳng hạn, trong Bộ Nông nghiệp và Hợp tác xã, cùng
với Cục Xúc tiến nông nghiệp, Cục Hợp tác xã giúp nông dân xây dựng hợp tác
xã để thực hiện các hoạt động, trong đó có chế biến thực phẩm; Cục Thủy sản

các cấp ủy, chính quyền, sự tham gia tích cực và phối hợp chặt chẽ của các ban,
ngành, đoàn thể.


19

Có cách làm phù hợp với điều kiện của từng địa phương thông qua lựa
chọn nội dung, nhiệm vụ ưu tiên, vận dụng sáng tạo cơ chế chính sách. Có
phương thức huy động các nguồn lực phù hợp. Phải có hệ thống chỉ đạo, đồng
bộ, hiệu quả; có bộ máy giúp việc đủ năng lực, chuyên nghiệp, sát thực tế sẽ là
yếu tố quan trọng đảm bảo cho công tác chỉ đạo có hiệu quả.
Lồng ghép sử dụng có hiệu quả sự hỗ trợ ngân sách của Nhà nước và các
nguồn lực đa dạng; việc huy động, đóng góp của người dân phải được thực hiện
trên cơ sở thực sự tự nguyện, bàn bạc dân chủ, không gượng ép quá sức dân [2].
- Tăng cường huy động nguồn lực trong xây dựng NTM: Thực hiện Nghị
quyết 26-NQ/TW ngày 05/8/2008 về nông nghiệp, nông dân, nông thôn, Thủ
tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 800/QĐ-TTg ngày 04/6/2010 phê
duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới giai đoạn
2010-2020. Báo cáo tổng kết Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông
thôn mới trong 3 năm (2011- 2013) đã huy động được hơn 485.000 tỷ đồng.
Trong đó, NSNN chiếm 33,4%, vốn tín dụng 47,7%, vốn huy động từ các DN
6% và dân đóng góp chiếm 12,9%. Bên cạnh những ưu điểm trong quá trình
triển khai chương trình, một số hạn chế cũng đã bộc lộ, bao gồm:
Quy mô huy động nguồn lực giữa các năm không ổn định, cơ cấu các
nguồn lực huy động chưa đạt mục tiêu đề ra:
+ Quy mô huy động giữa các năm không ổn định: Năm 2012, huy động
tăng 40% so với năm 2011 nhưng sang năm 2013 quy mô huy động lại giảm
17,6% so với năm 2012.
+ Xét về cơ cấu nguồn lực, nguồn huy động từ NSNN và từ DN đạt thấp
so với mục tiêu đề ra. Hai nguồn vốn còn lại là nguồn vốn tín dụng và huy động

chế do trình độ và khả năng tiếp cận nguồn vốn. Các tổ chức tín dụng chưa quan
tâm, chú trọng đến phát triển hoạt động tín dụng ở thị trường nông thôn.
+ Việc cải thiện môi trường đầu tư ở khu vực nông thôn còn hạn chế. Hệ
thống kết cấu hạ tầng mặc dù đã được quan tâm nhưng nhiều nơi còn yếu kém,
trình độ lao động khu vực nông thôn chưa cao nên việc thu hút vốn đầu tư cũng
như sự tham gia của DN vào xây dựng nông thôn mới còn hạn chế.
+ Sự phối hợp của các cấp, các ngành còn thiếu kịp thời, chặt chẽ nên ảnh
hưởng đến định hướng đầu tư và huy động vốn (TS. Vũ Như Thăng, 2015) [22].


21

1.2.2.2. Kết quả xây dựng nông thôn mới ở một số tỉnh TDMN phía Bắc giai
đoạn 2011 - 2015
Ở Lai Châu: Qua 5 năm triển khai thực hiện, đến nay tỉnh ta đã triển khai
xây dựng nông thôn mới tại 96 xã, với sự nỗ lực quyết tâm của các cấp, các
ngành, các tổ chức đoàn thể chính trị và Nhân dân các dân tộc trên địa bàn tỉnh,
Chương trình mục tiêu Quốc gia XDNTM đạt được nhiều kết quả tích cực. Tính
đến ngày 30/6/2015, toàn tỉnh có 91/93 xã có đường ô tô đến trung tâm xã, liên
xã, có 22/96 xã đạt tiêu chí giao thông; 38/93 xã có hệ thống thủy lợi cơ bản đáp
ứng yêu cầu sản xuất và dân sinh. Bình quân tiêu chí chung toàn tỉnh đến hết
năm 2015 đạt 11 tiêu chí/xã, tăng 8,12 tiêu chí so với năm 2011. Tính hết năm
2015, toàn tỉnh có 15 xã đạt 19 tiêu chí; 5 xã đạt 15-18 tiêu chí; 33 xã đạt 10-14
tiêu chí; 43 xã đạt 5-9 tiêu chí.
Tuy nhiên, chương trình còn những hạn chế, yếu kém như: Việc triển khai
thực hiện các nội dung trọng tâm về XDNTM ở nhiều xã còn hạn chế, chưa đảm
bảo đủ nguồn lực để thực hiện các nội dung theo kế hoạch, chưa có nhiều giải pháp
hay, sáng tạo trong tổ chức thực hiện; việc phát triển sản xuất nâng cao thu nhập
cho người dân ở nhiều địa phương chưa được quan tâm đúng mức; việc thực hiện
lồng ghép các chương trình, dự án trong XDNTM chưa được đẩy mạnh…[2].

phóng sự, tuyên truyền miệng, tuyên truyền bằng xe lưu động ...
Về huy động và sử dụng nguồn lực đầu tư thực hiện Chương trình: Tổng
nguồn vốn đã bố trí thực hiện Chương trình MTQG xây dựng NTM trên địa bàn
tỉnh Lào Cai giai đoạn 2011-2015 là 9.860,258 tỷ đồng, vượt 11,36% so Đề án.
Trong đó: Vốn trực tiếp cho Chương trình: 1.956,397 tỷ đồng (19,84% tổng
nguồn). Vốn lồng ghép từ các chương trình, dự án khác: 6.394,986 tỷ đồng
(64,86%). Vốn Tín dụng 220 tỷ đồng; Doanh nghiệp 461,739 tỷ đồng. Dân góp
827,136 tỷ đồng, bao gồm (công lao động, hiến đất, tiền mặt và các hiện vật xây
dựng cơ sở hạ tầng nông thôn; giá trị của các tiêu chí do nhân dân làm như nhà
ở, chỉnh trang nhà cửa, vệ sinh môi trường, chuồng trại chăn nuôi...).
Về tiêu chí xây dựng nông thôn mới: Số xã đạt chuẩn nông thôn mới
20/143 (Xã Mường Khương lên Thị trấn) đạt 13,9%; Thành phố Lào Cai hoàn
thành nhiệm vụ xây dựng nông thôn mới (5/5 xã đã hoàn thành); Bình quân số
tiêu chí đạt chuẩn/xã: 9,63 tiêu chí, tăng 6,33 so với năm 2010; Bình quân thu
nhập đầu người khu vực nông thôn đạt 13,11 triệu đồng, tăng 5,67 triệu
đồng/người/năm so với năm 2010 (2010 là 7,44 triệu đồng). Tỷ lệ hộ nghèo khu


23

vực nông thôn năm 2014 là 22,4%, giảm 31,07% so với năm 2010 (Số liệu Niên
giám thống kê tỉnh Lào Cai ban hành tháng 7/2015). Hết năm 2015, toàn tỉnh có
31/144 xã đạt tiêu chí hộ nghèo, tăng 14 xã so với năm 2010 [4].
1.2.2.3. Tình hình xây dựng NTM ở tỉnh Điện Biên giai đoạn 2011 - 2015
Qua 05 năm (2011-2015) thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia xây
dựng nông thôn mới, mặc dù điều kiện kinh tế - xã hội của tỉnh còn gặp nhiều
khó khăn, nguồn lực đầu tư cho Chương trình MTQG xây dựng nông thôn mới
còn hạn chế. Song, được sự quan tâm của Đảng, Nhà nước, sự hỗ trợ của các Bộ,
ngành Trung ương, đặc biệt sự quyết tâm của cả hệ thống chính trị cùng toàn thể
nhân dân các dân tộc trong tỉnh; Chương trình MTQG xây dựng nông thôn mới

- Về tỷ lệ lao động có việc làm: tổng số lao động khu vực nông thôn được
hỗ trợ đào tạo nghề theo chính sách của Đề án 1956 là 30.928 người, tỷ lệ lao
động qua đào tạo khu vực nông thôn đạt 26,4%. Tỷ lệ lao động nông thôn có
việc làm sau khi học nghề đạt 71,72%, chủ tyếu thông qua hình thưc tự tạo việc
làm. Năm 2015, toàn tỉnh có 64/116 xã đạt tiêu chí 12 về tỷ lệ lao động có việc
làm thường xuyên.
- Về hình thức tổ chức sản xuất: đến nay, toàn tỉnh có 97 HTX nông
nghiệp tăng 34 HTX so với năm 2011, trong đó 20% số HTX nông lâm nghiệp
tổng hợp, HTX thủy sản hoạt động khá hiệu quả. Các HTX hoạt động tạo sự liên
kết hợp tác sản xuất trong nông nghiệp, một số HTX-THT hoạt động có hiệu quả
được các hội viên tín nhiệm. Các HTX nông lâm nghiệp, thủy sản đang có xu
hướng chuyển dần sang hoạt động dịch vụ tổng hợp để giải quyết những khó
khăn trước mắt trong sản xuất nông nghiệp. Có 20/116 xã đạt tiêu chí số 13
chiếm 15,5%.
* Về xây dựng cơ sở hạ tầng thiết yếu:
Xây dựng cơ sở hạ tầng là khâu đột phá, thúc đẩy tiến độ xây dựng NTM.
Trong điều kiện nguồn lực đầu tư còn hạn chế, UBND tỉnh đã chỉ đạo các cấp,
các ngành thực hiện việc rà soát, lựa chọn những danh mục công trình cấp bách,
thiết thực để đầu tư. Sau 5 năm triển khai, cơ sở hạ tầng được xây dựng khang
trang, diện mạo nông thôn đã có nhiều thay đổi.
- Giao thông: đến nay có 96/116 xã có đường ô tô đến trung tâm xã, đảm
bảo cho nhân dân đi lại được các mùa trong năm. Tổng chiều dài các tuyến


25

đường xã, thôn, bản được xây dựng trong giai đoạn 2011-2015 là 288,13 km.
Toàn tỉnh có 22,5% đường trục xã đạt chuẩn; 10,1% đường trục thôn, bản được
nhựa hóa hoặc bê tông hóa; 6,75% đường ngõ xóm sạch và không bị lầy lội vào
mùa mưa; 8,3% đường trục chính nội đồng được cứng hóa, xe cơ giới đi lại


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status