Nghiên cứu đa dạng cây thuốc thuộc ngành ngọc lan (magnoliophyta) tại khu bảo tồn thiên nhiên tà xùa, tỉnh sơn la - Pdf 39

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC
VÀ CÔNG NGHỆ VIỆT NAM

VIỆN SINH THÁI VÀ TÀI NGUYÊN SINH VẬT
=============***=============

PHẠM QUỲNH ANH

NGHIÊN CỨU ĐA DẠNG CÂY THUỐC THUỘC
NGÀNH NGỌC LAN (Magnoliophyta) TẠI KHU
BẢO TỒN THIÊN NHIÊN TÀ XÙA, TỈNH SƠN LA
Chuyên ngành: Thực vật học
Mã số: 60 42 01 11

LUẬN VĂN THẠC SĨ SINH HỌC

Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS. TS. Trần Thế Bách

HÀ NỘI - 2015


LỜI CẢM ƠN
Luận văn hoàn thành theo chương trình đào tạo cao học khóa 17 tại
Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật, Viện Hàn lâm khoa học và Công nghệ
Việt Nam. Hoàn thành luận văn thạc sĩ này, tôi đã nhận được sự quan tâm của
Ban lãnh đạo, Phòng Đào tạo Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật. Nhân dịp
này tôi xin bày tỏ lòng biết ơn đến sự giúp đỡ quý báu đó.
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS. TS. Trần Thế Bách – Viện
Sinh thái và Tài nguyên sinh vật đã trực tiếp chỉ dạy và hướng dẫn tôi hoàn

MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ............................................................................................................... 1
1. Lý do chọn đề tài ............................................................................................... 1
2. Mục tiêu nghiên cứu ......................................................................................... 2
3. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn .......................................................................... 3
Chƣơng 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU ............................................................... 4
1.1. Tình hình nghiên cứu và sử dụng cây thuốc ............................................ 4
1.1.1. Tình hình nghiên cứu và sử dụng cây thuốc ở một số nước trên
thế giới ............................................................................................................... 4
1.1.2. Tình hình nghiên cứu và sử dụng cây thuốc ở Việt Nam. .................. 10
1.1.3. Tình hình nghiên cứu cây thuốc tại khu BTTN Tà Xùa, tỉnh Sơn La .... 18
1.2. Đặc điểm điều kiện tự nhiên – kinh tế và xã hội ở khu BTTN Tà
Xùa, tỉnh Sơn La ............................................................................................... 19
1.2.1. Điều kiện tự nhiên ................................................................................ 19
1.2.2. Điều kiện kinh tế - xã hội khu BTTN Tà Xùa ...................................... 24
Chƣơng 2: ĐỐI TƢỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƢƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU ................................................................................................... 26
2.1. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu ........................................................ 26
2.2. Nội dung nghiên cứu.................................................................................. 26
2.3. Phƣơng pháp nghiên cứu .......................................................................... 26
2.3.1. Điều tra thực địa theo tuyến ................................................................ 26
2.3.2. Điều tra tình hình khai thác sử dụng dược liệu .................................. 27
2.3.3. Phương pháp thu thập – xử lí, phân tích và phân loại mẫu vật ........ 27
2.3.4. Phương pháp nghiên cứu dạng sống và yếu tố địa lý. ....................... 28
2.3.5. Phương pháp đánh giá đa dạng sinh học của cây thuốc ................... 30
2.3.6. Đánh giá mức độ đe dọa ...................................................................... 30
Chƣơng 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU........................................................... 31


3.1. Đa dạng cây thuốc thuộc ngành Ngọc lan (Magnoliophyta) tại

Phụ lục 3: Danh sách các loài cây có tiềm năng chữa các nhóm bệnh tại
khu BTTN Tà Xùa, tỉnh Sơn La. ............................................. xxiv
Phụ lục 4: Hoạt động điều tra và xử lí cây thuốc. ................................... xxxix
Phụ lục 5: Một số hình ảnh về các loài cây thuốc tại khu vực nghiên cứu. ... xli


DANH MỤC CÁC KÍ HIỆU VÀ TỪ VIẾT TẮT
Viết đầy đủ

Viết tắt
3440/QĐ-UB

Quyết định số 3440 của Ủy ban tỉnh Sơn La.

32/2006/ NĐ-CP

Nghị định số 32 năm 2006 của chính phủ.

160/2013/NĐ-CP

Nghị định số 160 năm 2013 của chính phủ.

BTTN

Bảo tồn thiên nhiên

CR

Critically Endangered: Rất nguy cấp



VU

Vulnerable: Sẽ nguy cấp

WHO

World Health Organization: tổ chức y tế thế giới

WWF

World Wide Fund For Nature: Quỹ quốc tế bảo vệ
thiên nhiên.


DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.1.

Sự phân bố các loài cây thuốc trong các taxon thuộc ngành
Ngọc lan (Magnoliophyta) ở khu BTTN Tà Xùa, tỉnh Sơn La ... 31

Bảng 3.2.

Các họ có nhiều loài nhất tại khu BTTN Tà Xùa, tỉnh Sơn La. ..... 32

Bảng 3.3.

Các chi có nhiều loài cây thuốc nhất tại khu BTTN Tà Xùa....... 34

Bảng 3.4.

Bảng 3.13. Các loài có tiềm năng chữa bệnh Thấp khớp.......................... .xxvi
Bảng 3.14. Các loài có tiềm năng chữa Lị. .............................................. xxviii
Bảng 3.15. Các loài có tiềm năng chữa Lợi tiểu, chữa Viêm gan, chữa
Sốt rét ........................................................................................ xxx
Bảng 3.16.

Các loài có tiềm năng Giải độc, chữa Bạch đới, chữa Tim mạch ... xxxii

Bảng 3.17. Các loài có tiềm năng chữa Đau mắt ..................................... xxxiii
Bảng 3.18. Các loài có tiềm năng chữa Cảm cúm, chữa Đau răng, chữa
Lậu, chữa bệnh Trĩ, chữa Xuất huyết não ............................ xxxiv


Bảng 3.19. Các loài có tiềm năng chữa Viêm thận, Viêm họng, Hen
suyễn, Viêm dạ dày và Sỏi niệu ............................................. xxxv
Bảng 3.20. Các loài có tiềm năng chữa Vô sinh, Tiểu đường, Lợi sữa,
Quai bị, Ung thư, Viêm não, Xơ gan, Bại liệt, An thần, Viêm
giác mạc, Viêm xoang, Giang mai ....................................... xxxvii


DANH MỤC HÌNH
Hình 1.1: Bản đồ khu BTTN Tà Xùa, tỉnh Sơn La .......................................... 23
Hình 3.1. Sự phân bố của các loài cây thuốc trong các taxon thuộc ngành
Ngọc lan (Magnoliophyta) ở khu BTTN Tà Xùa, tỉnh Sơn La ....... 31
Hình 3.2. Các họ có nhiều loài nhất tại khu BTTN Tà Xùa, tỉnh Sơn La. ...... 33
Hình 3.3. Các chi có nhiều loài cây thuốc nhất................................................ 34
Hình 3.4. Đa dạng dạng sống của các loài cây thuốc ...................................... 37
Hình 3.5. Yếu tố địa lý các loài cây thuốc khu BTTN Tà Xùa, tỉnh Sơn La...... 40
Hình 3.6. Đa dạng bộ phận sử dụng làm thuốc ................................................ 41
Hình 3.7. Loài cây thuốc có tiềm năng chữa bệnh, nhóm bệnh tại khu

1


trữ bằng truyền miệng, ít người biết tới. Số lượng các ông lang, bà mế người dân
tộc thiểu số có nhiều những bài thuốc hiệu quả đang giảm mạnh. Thế hệ trẻ ngày
nay ít quan tâm tới những tri thức sử dụng cây cỏ làm thuốc từ thế hệ trước [22].
Các Vườn Quốc gia, các khu BTTN là nơi bảo vệ và duy trì lâu dài tính
đa dạng loài và gen, các nguồn tài nguyên thiên nhiên [59]. Khu BTTN Tà
Xùa được thành lập theo quyết định số 3440/QĐ-UB ngày 11/11/2002 của Ủy
ban nhân dân tỉnh Sơn La. Đây là khu bảo tồn tiêu biểu cho rừng kín thường
xanh núi cao vùng Tây Bắc, rừng ở đây không những phong phú về tài
nguyên thực vật mà còn có giá trị bảo tồn cao bởi lưu giữ nhiều loài thực vật
quý, vai trò quan trọng trong hệ thống rừng phòng hộ đầu nguồn sông Đà
[42]. Tuy nhiên hiện nay hệ sinh thái rừng cũng đang bị xâm hại, đối mặt với
những sức ép lớn từ nhu cầu cuộc sống của người dân địa phương. Cộng đồng
dân sống chủ yếu là người H’Mông. Họ sinh sống ở đây từ lâu đời với tập
quán du canh du cư, phát rừng làm nương rẫy, chăn thả gia súc và chặt phá
rừng nên ảnh hưởng không nhỏ đến tài nguyên thực vật nói chung và tài
nguyên cây thuốc nói riêng [9],[13],[38]. Trước thực trạng nêu trên thì việc
nghiên cứu điều tra về tài nguyên thực vật có giá trị làm thuốc, xây dựng kế
hoạch quản lý, bảo tồn tính đa dạng sinh học, bảo vệ môi trường và phát triển
bền vững những tri thức bản địa về cây thuốc tại vùng bảo vệ và vùng đệm
đồng thời góp phần phát triển kinh tế xã hội của khu BTTN Tà Xùa là hết sức
cần thiết. Xuất phát từ những vấn đề trên, chúng tôi thực hiện đề tài Nghiên
cứu đa dạng cây thuốc thuộc ngành Ngọc lan (Magnoliophyta) tại khu
bảo tồn thiên nhiên Tà Xùa, tỉnh Sơn La.
2. Mục tiêu nghiên cứu
2.1. Mục tiêu tổng quát
Đánh giá sự đa dạng tài nguyên cây thuốc, kinh nghiệm sử dụng cây
thuốc của đồng bào dân tộc ở khu BTTN Tà Xùa, tỉnh Sơn La.

và các cây có độc cho con người. Dần dần, trong tiến trình phát triển của lịch
sử loài người, những kinh nghiệm thu được một cách ngẫu nhiên được truyền
miệng từ người này sang người khác rồi tới các thực nghiệm khoa học.
Ngày nay các nhà khoa học đã tìm thấy những bằng chứng sử dụng
thảo dược như dấu vết của các hạt phấn hoa tại nơi chôn cất của người
Neandertan. Tuy nhiên, các bằng chứng về việc sử dụng thảo dược thời tiền
sử còn khá ít. Khoảng 5.000 – 6.000 năm TCN cư dân vùng hồ Thụy Sĩ đã sử
dụng thảo dược để chữa bệnh, trong đó có khoảng 200 loài định danh được và
một số loài vẫn còn được sử dụng làm thuốc[13],[14]. Khi chữ viết ra đời, các
kinh nghiệm về việc sử dụng cây cỏ làm thuốc được ghi chép lại. Văn bản cổ
xưa nhất được tìm thấy là bản đất nung của người Assyri (2700 TCN), các
cuộn giấy papirus của người Ai Cập (1700 TCN) [13],[36]. Trong nhiều ghi
chép cổ để lại, rễ cây Thục quỳ (Althea officinalis), cây Lan dạ hương
(Hyacinthus), cây Cỏ thi (Achillea milefolium) được cất giữ trong các bộ
xương có niên đại vào thời kỳ đồ đá ở Iraq. Cũng trong khoảng thời gian này,
việc sử dụng cây thuốc cũng bắt đầu phát triển ở Ấn Độ và Trung Quốc.
Mỗi dân tộc, mỗi quốc gia đều kế thừa và phát triển những kinh nghiệm
của tổ tiên, tiếp thu những kiến thức y học của các dân tộc, quốc gia khác đã dần
làm cho kinh nghiệm sử dụng thuốc của loài người ngày càng phong phú.
4


Trung Quốc là quốc gia có nền y học cổ truyền phát triển rất sớm và
được coi là cái nôi của nền y học cổ truyền. Thần Nông (3320 – 3080 TCN)
một nhà dược học đã nghiên cứu và tìm hiểu tác dụng của các cây thảo bằng
cách uống, nếm rồi ghi chép chi tiết. Trong cuốn “Thần Nông bản thảo” 365
vị thuốc có giá trị đã được ông thống kê lại dùng để chữa khoảng 170 loại
bệnh trong đó có nhiều loài cây vẫn còn được sử dụng tới ngày nay như Gai
mèo (Cannabis sp) sử dụng để chống nôn, cây Đại phong tử (Hydnocarpus
kurzii) làm thuốc chữa bệnh phong [13],[14],[36]. Vào thời Tam Quốc, danh

gây tê [14]. Hiện nay Ấn Độ là quốc gia rất phát triển về nghiên cứu thảo
dược như tổng hợp chất hữu cơ, tách chiết chứng minh cấu trúc, sàng lọc sinh
học, thử nghiệm độc tính và nghiên cứu tác dụng hóa học của các chất tới cơ
thể con người. Hầu hết các viện nghiên cứu dược liệu của Ấn Độ đang nghiên
cứu chuyển hóa các loại thuốc và hợp chất có hoạt tính từ thực vật.
Ở châu Phi, việc sử dụng liệu pháp điều trị bằng cây thuốc đã có từ thời
xa xưa. Những bản viết tay có từ thời Ai Cập cổ đại (1950 TCN) đã liệt kê
hàng chục loài cây thuốc và công dụng của chúng. Trong bản giấy cói của dân
tộc Ebers (khoảng 1500 TCN) đã ghi lại hơn 870 toa thuốc và công thức, 700
loại dược thảo và các chứng bệnh, từ bệnh phổi và các vết thương do Cá sấu
cắn. Vào khoảng thế kỷ XIII, nhà thực vật học Ibn El Beitar đã xuất bản cuốn
“Các vấn đề y khoa” thống kê chủng loại thuốc ở Bắc Phi [9],[13].
Dược thảo ở châu Âu rất đa dạng và phần lớn dựa trên nền tảng của y
học truyền thống cổ điển. Hy Lạp và Roma là hai quốc gia có nền văn minh
phát triển, những hiểu biết của họ về thảo dược được sử sách ghi nhận từ khá
sớm. Hippocrates (460 – 377 TCN) là thầy thuốc nổi tiếng của Hy Lạp, ông
được xem là người thầy thuốc giỏi nhất của cổ đại. Ngoài những công trình về
giải phẫu ông còn đưa vào sử dụng hơn 200 cây thuốc [9],[13],[22]. Ông được

6


mệnh danh là cha đẻ của y học hiện đại phương Tây. Hippocrates tin rằng “bệnh
là do tác động của môi trường chứ không phải do các thế lực siêu nhiên”.
Văn minh La Mã thừa hưởng rất nhiều các thành tựu của văn minh Hy
Lạp. Celsus viết bộ sách “De Medicina” vào khoảng năm 25 – 35. Đây là một
bộ sách về y khoa rất có giá trị của nền y học La Mã. Dioscorides (khoảng
năm 40 – 90) đã viết tập sách “De Materia medica”. Ông đã mô tả trên 600
loài cây có tác dụng chữa bệnh, là tài liệu tham khảo chính cho y học Châu
Âu thế kỷ XVII [13],[14]. Cuốn sách được dịch ra nhiều ngôn ngữ khác nhau

trúc như phenolic, antoxy, các dẫn xuất quino, alcaloid, flavonoid, saponin,…
Gotthall (1950) đã phân lập được chất Glucosid barbaloid từ cây Lô hội (Aloe
vera), chất này có tác dụng với Baccilus subtilis và vi khuẩn lao ở người.
Lucas và Lewis (1994) đã chiết xuất một hoạt chất có tác dụng với các vi
khuẩn gây bệnh tả, lị, mụn nhọt từ Kim ngân (Lonicera sp.). Từ cây Hoàng
liên (Coptis teeta), người ta đã chiết xuất được berberin. Trong lá và rễ cây
Hẹ (Allium odorum) có các hợp chất sulfua, saponin và chất đắng. Năm 1948,
Shen Chi Shen phân lập được hoạt chất odorin ít độc đối với động vật bậc cao
nhưng lại có tác dụng kháng khuẩn. Reserpin và serpentin là chất hạ huyết áp
được chiết xuất từ cây Ba gạc (Rauvolfia spp.). Đặc biệt, ở cây Dừa cạn đã
chiết xuất được chất vinblastin và vincristin có tác dụng hạ huyết áp và làm
thuốc chống ung thư. Digitalin, strophantin dùng làm thuốc trợ tim được chiết
xuất từ cây Sừng dê (Strophanthus spp.), Dương địa hoàng (Digitalis spp.).
Từ những nghiên cứu về cấu trúc và hoạt tính, nhiều loại thuốc đã ra đời bằng
phương pháp tổng hợp hoặc bán tổng hợp. Tuy nhiên, các chất này thường
gây độc cho tế bào và các tác dụng không mong muốn. Do tác dụng chữa
bệnh là sự kết hợp của nhiều thành phần có trong cây thuốc [14]. Vì vậy, việc
sử dụng thảo dược chữa bệnh được quan tâm nhiều hơn.

8


Từ năm 1950 – 1980 sau khi thử tác dụng chống ung thư của 40.000
loài thảo mộc, người ta phân lập được một số chất có hoạt tính chống ung thư,
trong đó có chất paclitaxel có tác dụng ức chế sự phát triển của tế bào ung thư
buồng trứng được phân lập từ cây Taxus brevifolia [13],[14]. Viện Ung thư Hoa
Kỳ (CNI) đã điều tra nghiên cứu sàng lọc hơn 40.000 mẫu cây thuốc, phát hiện
hàng trăm cây thuốc chữa bệnh ung thư [13], 25% đơn thuốc ở Mỹ sử dụng chế
phẩm có dược tính mạnh được điều chế từ một loại hoa hồng Cantharanthus
roseus, đặc biệt ở Madagasca người ta dùng cây này chữa bệnh máu trắng và

Thần Nông (Thần nông nghiệp – theo truyền thuyết là tổ tiên của vua Hùng) đã dạy
cho người dân biết sử dụng các loại ngũ cốc, thực phẩm và phân biệt cây cỏ có tác
dụng chữa bệnh.
Vào thời Hồng Bàng (2879 TCN – 258 TCN) tổ tiên ta đã biết kết hợp
một số dược liệu (vỏ Lựu, Ngũ bội tử, Cánh kiến) để nhuộm răng, tục nhai
trầu (Trầu, Cau, vôi) để bảo vệ răng và da dẻ hồng hào, biết uống chè vối để
dễ tiêu, sử dụng bột Đao trong thân cây Bàn, quả Cọ, Móc để chống đói, biết
dùng Gừng ăn với chim, cá, ba ba cho đỡ tanh và dễ tiêu, thói quan ăn Tỏi,
Hành, Gừng trong bữa ăn để phòng tránh bệnh. Từ thời Hùng Vương người
dân đã biết ủ và cất rượu dùng để uống và làm thuốc. Theo nhiều tài liệu sử
học, dưới thời Nam Việt – Giao Chỉ đã có nhiều vị thuốc được phát hiện như
Cau, Ý dĩ, Long nhãn, Trầm hương,.. [14],[22],[9],[36].
Thời nhà Lý (1010 – 1224) năm 1136 vua Lý Thần Tông bị bệnh điên
cuồng, lông lá mọc đầy người, miệng gào thét đã được Minh Không thiền sư
ở chùa Giao Thủy nấu nước lá Bồ hòn cho tắm đã trở lại bình thường.
Thời nhà Trần (1225 – 1399) xuất hiện một số lương y tiêu biểu. Lương
y Tuệ Tĩnh với chủ trương “thuốc Nam Việt chữa người Nam Việt”. Trong
tác phẩm “Nam dược thần hiệu” gồm 11 quyển nói về dược tính của 499 vị
thuốc nam, 3.932 phương thuốc trị 184 loại bệnh của 10 khoa lâm sàng [26].
10


Ngoài ra ông còn một số các tác phẩm như “Thập tam phương gia giảm” ,
“Tuệ Tĩnh y thư”, “Thương hàn tam thập thất trùng pháp” [13],[14],[26]. Tuệ
Tĩnh là người mở đầu cho nghiên cứu thuốc nam, xây dựng nền móng y học
dân tộc và được nhân dân gọi là “Vị thánh thuốc nam”.
Thời kỳ nhà Hồ (1400 – 1427) triều đình có chủ trương chữa bệnh rộng
rãi cho nhân dân. Thời kỳ này có Nguyễn Đại Năng biên soạn “Châm cứu tiệp
hiệu diễn ca” bằng thơ để phổ biến cho nhân dân, vận dụng 120 huyệt để chữa
nhiều bệnh hiểm nghèo (sốt rét, động kinh), ngoài ra còn có Vũ Toàn Trai, Lý

kinh nghiệm[14],[22].
Trong thời kỳ Pháp thuộc (1884 - 1945), nền y học cổ truyền Việt Nam
chịu ảnh hưởng nhiều của dược học phương Tây. Các phương thức chữa bệnh
mới được mang đến qua quá trình khai thác thuộc địa, đã gián tiếp thúc đẩy
quá trình nghiên cứu thực vật của Việt Nam nói chung và nghiên cứu cây
thuốc nói riêng. Tuy nhiên, trong thời kỳ này y học cổ truyền nước ta vẫn có
“Trung Việt dược tính hợp biên” của Đinh Nho Chân và Phạm Văn Thái gồm
16 cuốn với 1600 vị thuốc nam bắc viết công dụng và cách chế biến của hơn
1655 vị thuốc nam và bắc [14]; “Việt Nam Dược học” gồm 5 cuốn bằng tiếng
việt của Phó Đức Thành [13]. “Nam bang thảo mộc” nêu tên và mô tả công
dụng của 100 loài cây thuốc của tác giả Trần Nguyên Phương. “Y học Tùng
thư” gồm 16 cuốn của Nguyễn An Nhân [9],[14].
Trong thời kỳ này, tài nguyên thực vật phong phú ở nước ta đã hấp dẫn
nhiều nhà nghiên cứu phương Tây. Họ đã để lại một số công trình như: J.
Loureiro (Bồ Đào Nha) trong “Flora Cochinchinensis” năm 1970 đã mô tả
700 loài cây. L. Pierre (Pháp) trong “Flore Forestiere dela Cochinchine” đã
mô tả 800 loài cây gỗ. Ch.Crevost và A.Pétélot vớiCatalogue des produits de
l’Indochine – Produits médicinaux. Nổi bật phải kể đến bộ sách “Catalogue
des produits de L’Indochine” của Pétélot (1928 – 1935) trong đó tập V
12


(Produits medicinaux, 1928) đã mô tả 368 cây thuốc và vị thuốc là các thực
vật có hoa. Đến năm 1952 tác giả tái bản lại cuốn sách, bổ sung và đặt tên
mới là “Les plantes medicinales du Cambodge, du Laos et du Vietnam” gồm
4 tập, 1.050 trang và đã thống kê được 1.482 loài thảo mộc trên ba nước Đông
Dương [14],[70].
Từ ngày cách mạng tháng tám năm 1945 cho đến nay, đất nước ta rất
quan tâm tới việc kết hợp y học cổ truyền với y học hiện đại. Trong thư gửi
cán bộ y tế ngày 27/02/1955 Bác Hồ có viết “Y học phải dựa trên nguyên tắc

bố danh sách cây thuốc và bài thuốc cho nhiều địa phương như: “Hệ cây
thuốc của tỉnh Lâm Đồng” (1982); “Hệ cây thuốc Tây Nguyên” (1985), “Cây
thuốc An Giang” (1991).
Phạm Hoàng Hộ (1999;2000) khi nghiên cứu về thực vật, trong cuốn
“Cây cỏ Việt Nam” tác giả đã mô tả hình thái và sự phân bố của 9.963 loài
thực vật, trong có đã giới thiệu được công dụng làm thuốc của nhiều loài thực
vật [32],[33],[34].
Đỗ Huy Bích, Bùi Xuân Chương (1980) trong cuốn “Sổ tay cây thuốc
Việt Nam” đã thống kê được 519 loài cây thuốc, trong đó 150 loài mới được
phát hiện [5].
Đỗ Huy Bích (1995) trong cuốn “Thuốc từ cây cỏ và động vật” đã giới
thiệu 500 cây thuốc và 30 con thuốc. Các cây thuốc được mô tả hình thái,
phân bố, bộ phận sử dụng, liều dùng [7].
Trần Đình Lý và cộng sự (1993) nghiên cứu về các loài cây cỏ có ích,
tác giả đã mô tả được 1.900 loài cây có ích. Trong các loài thực vật bậc cao có
mạch đã biết ở Việt Nam có 76 loài cho nhựa thơm, 160 loài có tinh dầu, 260
loài cho dầu béo, 600 loài chứa tanin, 500 loài cây gỗ có giá trị cao, 400 loài
tre nứa, 40 loài song mây. Trong số các nhóm thực vật này, rất nhiều loài có

14


công dụng làm thuốc. Đối với các thực vật được sử dụng làm thuốc tác giả
giới thiệu danh pháp, sinh thái, phân bố và giá trị sử dụng [44].
Nguyễn Nghĩa Thìn (1990;1995) đã giới thiệu 2.300 loài thuộc 1.136
chi, 234 họ thuộc 6 ngành thực vật có mạch Việt Nam được sử dụng làm
thuốc và giới thiệu hơn 1.000 bài thuốc trong Hội thảo quốc tế lần thứ hai về
dân tộc sinh học tại Côn Minh – Trung Quốc.
Nguyễn Nghĩa Thìn và cộng sự (2001) trong cuốn “Cây thuốc của đồng
bào Thái ở Con Cuông, Nghệ An” [52] đã giới thiệu 551 loài cây thuốc thuộc


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status