1
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG HÀ NỘI
KHOA MÔI TRƯỜNG
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP
Tên đề tài:
BƯỚC ĐẦU NGHIÊN CỨU CƠ SỞ KHOA HỌC GÓP PHẦN QUẢN LÝ TÀI
NGUYÊN SINH VẬT KHU BẢO TỒN THIÊN NHIÊN TÀ XÙA - TỈNH SƠN LA
Họ và tên sinh viên
: TRẦN THỊ LINH TRANG
Lớp
: ĐH2QM1
Giảng viên hướng dẫn
: TS. HÀ QUÝ QUỲNH
TS. HOÀNG NGỌC KHẮC
Cơ quan công tác:
: VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC VÀ
CÔNG NGHỆ VIỆT NAM
HÀ NỘI, NĂM 2016
1
1
Bảo tồn thiên nhiên
CXS
Có xương sống
CBD
Convention on Biodiversity: Công ước Đa dạng sinh học
ĐDSH
Đa dạng sinh học
DLST
Du lịch sinh thái
ĐTQHR
Điều tra quy hoạch rừng
GIS
Geographic Information system
HST
Hệ Sinh thái
Tài nguyên thiên nhiên
UBND
Uỷ ban nhân dân
VQG
Vườn Quốc gia
KBTTN
Khu bảo tồn thiên nhiên
3
3
4
MỤC LỤC
4
4
5
DANH MỤC CÁC BẢNG
lược quản lý hệ thống rừng đặc dụng, khu bảo tồn biển, khu bảo tồn vùng nội địa Việt Nam đến năm 2020
thì mục tiêu đến năm 2020 đưa diện tích hệ thống rừng đặc dụng, đạt khoảng 9% diện tích lãnh thổ. Tuy
nhiên, theo tổ chức bảo tồn thiên nhiên thế giới “tỉ lệ bảo tồn thiên nhiên của một quốc gia nên đạt ở mức
lớn hơn 10% diện tích lãnh thổ”.
Vườn quốc gia và Khu bảo tồn thiên nhiên là nơi lưu trữ, bảo tồn nguyên vẹn nguồn tài nguyên. VQG và khu
bảo tồn đã được quy hoạch, có ranh giới trên bản đồ, đang được quản lý bảo vệ bởi lực lượng cán bộ kiểm
lâm, được biên chế thành từng ban quản lý và các trạm, chốt bảo vệ.
Hoạt động điều tra nghiên cứu sinh học ở các VQG và khu bảo tồn vừa qua đã có một bước tiến mới, về qui
mô, phạm vi nghiên cứu.
Tuy đã được quan tâm song để quản lý tài nguyên trong các khu bảo tồn còn gặp những khó khăn sau:
Quản lý, giám sát môi trường sống của các nhóm động vật, thực vật; dự báo biến động, giám sát thảm thực
vật rừng gặp nhiều khó khăn.
Áp lực phá rừng lấy đất làm nương rẫy; khai thác lâm sản trái phép; của cộng đồng dân cư sống trong và
xung quanh các VQG và khu bảo tồn cao trong khi công cụ nhận diện, phân tích đánh giá còn rất hạn chế.
Xuất phát từ lý do trên, sinh viên lựa chọn đề tài : “ Bước đầu nghiên cứu cơ sở khoa học góp phần quản lý
tài nguyên sinh vật khu bảo tồn thiên nhiên Tà Xùa, tỉnh Sơn La”.
2. Mục tiêu nghiên cứu
Bước đầu xây dựng được cơ sở khoa học, bộ thông tin để quản lý đánh giá tài nguyên sinh vật bằng công
nghệ Viễn thám và GIS, phục vụ công tác quản lý tài nguyên sinh vật ở Khu bảo tồn thiên nhiên Tà Xùa, Sơn
La.
7
7
8
3. Nội dung nghiên cứu
Để thực hiện mục tiêu trên, luận văn cần thực hiện các nội dung sau:
cao, địa hình, ảnh hưởng của biển. Ở phạm vi nhỏ hơn độ cao, độ dốc, hướng sườn, đá mẹ... là nguyên
nhân của chế độ nhiệt và độ ẩm của hệ sinh thái. Trong một vùng địa lý, địa hình quy định vi khí hậu và chế
độ dòng chảy tại khu vực và ảnh hưởng trực tiếp tới thảm thực vật. Đất hình thành từ đá mẹ trên mặt phủ
của địa mạo. Vì vậy, địa mạo thường thể hiện đặc trưng qua bản chất của đất và thảm thực vật. Tính chất
vật lý, hoá học và hoạt động của vi sinh vật trong đất quy định độ ẩm, chất dinh dưỡng và ảnh hưởng đến
thảm thực vật, quần thể động vật.
Cấu trúc và chức năng của hệ sinh thái thay đổi theo không gian và thời gian, vì vậy cần xem xét những thay
đổi theo cả không gian và thời gian khi đánh giá, lập bản đồ và quản lý hệ sinh thái.
1.2. Khái niệm về rừng
Rừng được hình dung ngay được đó là quần thụ các cây gỗ. Các từ ngữ phổ biến như rừng Lim, rừng Sến,
rừng Bồ đề hay rừng Tre nứa chứ không nói rừng Chuối, rừng Cỏ lau hay rừng Mía. Rừng theo định nghĩa là
một hệ sinh thái, một kiểu thảm thực vật mà cây gỗ (hay Tre, Nứa) là nhân tố chủ đạo chi phối mối quan hệ
mối quan hệ tương hỗ giữa chúng với nhau và với sinh thái, ảnh hưởng quyết định đến quá trình sinh
trưởng phát triển, biến đổi của rừng. Ở đó tạo ra kiểu khí hậu và thổ nhưỡng đặc trưng gọi là môi trường
rừng. Và trong điều kiện cụ thể rừng cũng xuất hiện những thế hệ động vật, thực vật, vi sinh vật tương ứng
và chúng có vai trò xác định trong quá trình sinh trưởng, phát triển và trao đổi chất vật chất, năng lượng
thông tin của hệ sinh thái rừng.
Như vậy điều kiện hay tiêu chuẩn đầu tiên có tính quyết định để phân biệt rừng với các kiểu thảm thực vật
khác là sự có mặt của một lượng cây gỗ có chiều cao và độ lớn nhất định. Các thông số đó được khái quát
9
9
10
hóa bằng tỷ lệ độ tàn che của cây gỗ có chiều cao từ 5m trở lên so với đất rừng được ký hiệu là k. Đây là chỉ
số tương đối để xác định trong thực tiễn mà các nhà khoa học trên thế giới đã công nhận.[31].
Nếu K < 0,3: chưa có rừng
Nếu K = 0,3 – 0,6: rừng thưa
phần sinh học khác của HST, hiện đang có giá trị sử dụng hay có tiềm năng sử dụng cho loài người. Nói cách
khác, ĐDSH là toàn bộ tài nguyên thiên nhiên tạo nên do tất cả các dạng sống trên trái đất, là sự đa dạng của
sự sống ở tất cả các dạng, các cấp độ và các tổ hợp giữa chúng. Đó không chỉ là tổng số của các HST, các loài,
10
10
11
các vật chất di truyền mà còn bao gồm tất cả các mối quan hệ phức tạp bên trong và giữa chúng với nhau.
11
11
12
1.4. Vườn Quốc gia và Khu bảo tồn thiên nhiên
Giá trị lớn nhất ở mỗi KBTTN là tính đa dạng sinh học cao cùng các quần xã sinh vật tự nhiên hầu như còn
giữ được tính nguyên trạng.
Bảo tồn đa dạng sinh học ở mọi mức độ về cơ bản là “duy trì các quần thể loài đang tồn tại và phát triển”.
Công việc này có thể được tiến hành bên trong hoặc bên ngoài nơi sống tự nhiên. Bảo tồn ở cấp quần xã:
Bảo tồn nguyên vẹn các quần xã sinh vật là cách bảo tồn có hiệu quả toàn bộ tính đa dạng sinh học. Cách
bảo tồn quần xã sinh vật gồm: xây dựng các khu bảo tồn; thực hiện các biện pháp bên ngoài khu bảo tồn và
phục hồi các quần xã sinh vật tại nơi cư trú bị suy thoái. Nhà nước có thể dành ra những vùng đất làm khu
bảo tồn và ban hành luật cho phép sử dụng tài nguyên trong đó. Cơ sở khoa học của luật này chính là các
kết quả của phân tích qui luật địa sinh thái đã quyết định sự hình thành của chính quần xã sinh vật, mà
trước hết chính là quần xã thực vật - sinh vật sản xuất.[7].
Hiểu theo nghĩa rộng để bảo tồn những loài sinh vật trước hết cần bảo tồn những cảnh quan mà sinh vật đó
tồn tại, cụ thể hơn là cần nắm rõ mối tương tác giữa các yếu tố cấu thành lãnh thổ, từ đó sẽ có những tác
phần mềm chuyên dụng có khả năng phân biệt các giá trị khác nhau của các pixel, theo đó, nhóm các pixel
có giá trị giống nhau thì thể hiện cùng một đối tượng. Đó chính là quá trình phân lớp tự động.
Ứng dụng phương pháp này ở KVTTN Tà Xùa, có thể xác định được lớp phủ thực vật khu vực.
Hệ thống thông tin địa lý (Geography information system - GIS) đã phát triển rất mạnh về lý thuyết, kỹ thuật.
Đồng thời, GIS được ứng dụng rộng rãi trong các lĩnh vực khác nhau như nghiên cứu địa lý, địa chất, nông
nghiệp, đô thị, giao thông,...Về bản chất thì GIS bao gồm các thành phần cơ bản sau:
Phần cứng máy tình bao gồm các thành phần vật lý của máy tỉnh và các thiết bị ngoại vi khác (máy in,
scanner, máy vẽ,...).
Phần mềm GIS là các chương trình máy tính thực hiện các công ciệc chuyên môn của GIS, thực hiện các chức
năng thu nhận và lưu trữ các dữ liệu không gian cũng như thuộc tính, các thao tác xử lý số liệu, mô hìn số độ
cao,...Có thể kể ra một số phần mềm chuyên dụng GIS như Map/Info,...
Dữ liệu GIS bao gồm các dữ liệu không gian (ảnh, bản đồ....)và dữ liệu thuộc tính (các đặc điểm, tính chất
của các đối tượng không gian, các quá trình, hiện tượng xảy ra ở các đối tượng không gian đó) của các đối
tượng được nghiên cứu.
Người sử dụng: Là yếu tố mang tính quyết định, thực hiện thiết kế và thực hiện các thao tác kỹ thuật để có
được kết quả theo các yêu cầu khác nhau.
Các hợp phần trên nằm trong mối quan hệ tương tác chặt chẽ với nhau tạo thành hệ thống thông tin địa lý.
Như vậy, có thể hiểu một cách khái quát về GIS như sau: Hệ thống thông tin địa lý là tập hợp có tổ chức của
phần cứng, phần mềm máy tính, dữ liệu địa lý và các thủ tục của người sử dụng nhằm trợ giúp việc thu
nhận, lưu giữ, quản lý, xử lý, phân tích, hiện thị các thông tin không gian để giải quyết các vấn đề tổng hợp
thông tin theo mục tiêu.
Sử dụng phần mềm GIS là ArcGis 9x để kết xuất dữ liệu, chồng xếp các lớp bản đồ để biên tập thành bản đồ
hiện trạng lớp phủ thực vật tại mỗi thời điểm và bản đồ biến động lớp phủ thực vật khu vực nghiên cứu ở
mỗi giai đoạn.
Tiến hành chồng xếp các thời kỳ và đưa ra bảng thống kê biến động diện tích của từng đối tượng theo từng
thời kỳ. Các số liệu được chuyển sang phần mềm thống kê EXCEL để xử lí, tính toán, trình bày thành các
bảng hiện trạng lớp phủ của các đối tượng và kết quả diễn biến diện tích lớp phủ qua các năm.
1.6. Giải đoán ảnh
a. Giải đoán ảnh bằng mắt
Các lớp phân loại được định nghĩa rõ ràng về mặt chỉ tiêu. Các chỉ tiêu này được lựa chọn có tính đến đặc
thù của tư liệu ảnh. Các thuộc tính phổ hoặc cấu trúc cho phép tách biệt các lớp với nhau được tập hợp.
Bước 2: Chọn vùng mẫu (training area)
Các bộ mẫu được lựa chọn dựa trên kết quả của bước 1. Các số liệu lấy được trên cơ sở tệp mẫu có vai trò
quan trọng trong thành lập các chỉ tiêu phân loại.
Bước 3: Chọn lựa các phương pháp phân loại
Phân loại có chọn mẫu được sử dụng rộng rãi và có độ chính xác cao trong đó các chỉ tiêu phân loại được
xác lập dựa trên các vùng mẫu. Các vùng mẫu là khu vực trên ảnh người giải đoán biết chắc chắn về đối
tượng. Dựa trên vùng mẫu, các tham số thống kê được xác định và đó chính là các chỉ tiêu thống kê sử dụng
trong quá trình phân loại về sau.
14
14
15
Bước 4.3: X
Bước 4.1: Thiết kế kỹ thuật, phương phá
15
15
16
Hình 1.1: Sơ đồ quy trình xây dựng các bản đồ lớp phủ thực vật
Phân loại có kiểm định là phân chia một cách có kiểm định các giá trị DN của các pixel ảnh thông qua các
vùng mẫu được chọn theo từng nhóm đơn vị lớp phủ bề mặt bằng việc sử dụng máy tính và các thuật toán.
Bước 4: Phân loại ảnh
nguồn Sông Đà.
Khu bảo tồn thiên nhiên Tà Xùa nằm ở sườn Đông Nam của dãy Hoàng Liên Sơn, có địa hình cao và dốc, mức
độ độ chia cắt mạnh, nhiều đỉnh cao trên 2000m, dọc theo dãy Pu Sa Phìn, cao nhất là đỉnh Pu Chiêm Sơn
(2.765m), thấp nhất là cánh đồng Mường Thải (320m). Địa thế khu vực nghiêng từ Tây Bắc xuống Đông Nam
, độ dốc trung bình khoảng 30 - 400.[11]
1.7.1. Điều kiện tự nhiên
1.7.1.1. Vị trí địa lý
Khu bảo tồn thiên nhiên Tà Xùa nằm trên địa bàn của 4 xã: Tà Xùa, Háng Đồng (huyện Bắc Yên) và Mường
16
16
17
Thải, Suối Tọ (huyện Phù Yên). Khu BTTN Tà Xùa có ranh giới tiếp giáp:
Phía bắc giáp với huyện Văn Chấn và Trạm Tấu của tỉnh Yên Bái
Phía đông giáp với xã Mường Cơi của huyện Phù Yên (tỉnh Sơn La)
Phía nam giáp với xã Làng Chếu và Phiêng Ban (huyện Bắc Yên), xã Gia Phù, Huy Thượng, Quang Huy, Huy
Bắc, Suối Bau (huyện Phù Yên) của tỉnh Sơn La
Phía tây giáp với xã Làng Chếu, Xím Vàng của huyện Bắc Yên.
1.7.1.2. Địa hình
Khu bảo tồn nằm ở sườn Đông Nam của dãy Hoàng Liên Sơn, địa hình cao dốc, mức độ chia cắt mạnh, có
nhiều đỉnh cao trên 2.000m dọc theo dãy Phu Sa Phin, cao nhất là đỉnh Phu Chiêm Sơn có độ cao 2.765 m.
Thấp nhất là khu vực cánh đồng lúa Mường Thải, có độ cao là 320m: Địa hình nghiêng dần từ Tây Bắc xuống
Đông Nam. Độ dốc trung bình 300, nhiều nơi độ dốc trên 400.[11]
Về mặt địa mạo, dựa trên các chỉ tiêu trắc lượng hình thái của địa hình, khu bảo tồn thiên Tà Xùa được phân
chia thành các kiểu địa hình sau:
trắc diện ngang lồi lõm, bị cắt xẻ. Quá trình địa mạo chủ yếu là xâm thực với sự phát triển mạnh mẽ hệ
thống khe xói, mương xói, dòng chảy tạm thời
Sườn rửa trôi độ dốc nhỏ (thường dưới 80), ít bị chia cắt, tầng đất phát triển khá (khoảng 1m), quá trình
ngoại sinh thống trị là rửa trôi bề mặt
Kiểu sườn tích tụ sườn thường phân bố phần chân núi, gần mực xâm thực cơ sở. Được hình thành do tích tụ
các sản phẩm đã được bóc mòn ở phần phía trên núi do quá trình sườn. Về hình thái đây là những dải hẹp
chạy dọc theo thung lũng, bề mặt có trắc diện lõm, ít bị chia cắt, độ dốc dao dộng trong khoảng 8-15 0,[11]
cấu tạo bề mặt gồm các tập hợp dăm sạn, mảnh vỡ, khối tảng với bề dày trung bình lớp phủ thường đạt trên
1,5m. Quá trình thống trị là rửa trôi, xói rửa.
Kiểu địa hình dòng chảy
Thung lũng tích tụ dòng chảy chiếm phần địa hình ẩm thấp nhất của các thung lũng dưới dải kéo dài dọc
theo các sông. Hình thái bề mặt tương đối bằng phẳng với các bãi bồi ven lòng và giữa lòng mang tính không
liên tục, độ cao tương đối 0,5 – 1m. Cấu tạo bề mặt chủ yếu là cuội sỏi cát. Quá trình ngoại sinh gồm tích tụ,
tích tụ vùi lấp và ngập lụt
Máng trũng xâm thực là phần đáy trũng thấp của các dòng chảy phần thượng lưu. Đặc điểm chính của kiểu
địa hình là trắc diện ngang dạng chữ V hẹp, trắc diện dọc tương đối thẳng và thường cắt vào đá gốc.
Máng trũng xâm thực tích tụ có trắc diện ngang vẫn giữ dạng chữ V nhưng mở rộng hơn. Trắc diện dọc có
tính phân bậc, xen kẽ giữa những đoạn tương đối thẳng cắt vào đá gốc là những ổ tích tụ với vật liệu cuội,
sỏi, cát.
Kiểu địa hình karst
Độ dốc lớn (thường trên 35o), lớp phủ thổ nhưỡng mỏng, nhiều nơi trơ đá gốc. Kiểu địa hình này đặc trưng
cho các hệ sinh thái núi đá vôi.
1.7.1.3. Thổ nhưỡng
Nền vật chất trong khu vực hầu hết là các sản phẩm trầm tích lục nguyên với các loại đá mẹ chủ yếu là đá
trầm tích và biến chất, đá hỗn hợp kiềm và trung tính, đá vôi,... Khu BTTN Tà Xùa có 8 loại đất, thuộc 4 nhóm
đất chính sau:
Nhóm đất mùn alit trên núi cao (A): diện tích 3778,0 ha (chiếm 21,4% tổng diện tích tự nhiên của khu BTTN)
muối. Gió Tây Nam hoạt động từ tháng III đến tháng V thường khô hanh và nóng, dễ xảy ra nạn cháy rừng.
Thủy văn
Khu vực có 2 hệ suối lớn là Suối Tọ và Suối Tấc, chảy ra hồ Hòa Bình theo hướng từ Bắc xuống Nam. Vào mùa
mưa, lượng mưa nhiều nên lưu lượng dòng chảy lớn, thường gây lũ quét và lũ ống. Hiện tượng xói mòn lớp
đất mặt hầu như phổ biến ở tất cả các diện tích canh tác nương rẫy và rất khó kiểm soát. Mùa khô do lượng
mưa ít, lưu lượng dòng chảy giảm.
1.7.2. Điều kiện kinh tế - xã hội
1.7.2.1 Dân số, dân tộc và lao động
Theo số liệu thống kê của các địa phương trong KBTTN như sau:
Xã Suối Tọ: Xã có 9 bản với 507 hộ và 3.447 nhân khẩu, mật độ dân số thấp (24,54 người/km 2) [32]. Thành
phần dân tộc, chủ yếu là người Mông, địa bàn sinh sống rải rác trên các triền núi cao, độ dốc lớn. Canh tác
chủ yếu là lúa nương và ngô. Xã Suối Tọ có diện tích rừng tự nhiên lớn, phần lớn thuộc khu BTTN Tà Xùa.
Xã Mường Thải: Toàn xã có 761 hộ với 3.553 khẩu trong đó dân tộc Mông có 3 bản với 823 nhân khẩu
(chiếm 23,3 %), dân tộc Dao có 2 bản với 820 nhân khẩu (chiếm 23,3 %), dân tộc Mường có 3 bản với 1.433
nhân khẩu (chiếm 40,7 %), dân tộc Kinh có 2 bản với 477 nhân khẩu (chiếm 12,7 %). Xã có 429 hộ nghèo với
2.040 nhân khẩu trong đó hộ nghèo dân tộc thiểu số là 396 hộ. Tổng số lao động của xã là 1.868 người;
trong đó lao động nam là 953 người, lao động nữ là 915 người; lao động được đào tạo nghề là 207 người
(chiếm 11,08%)[32].
Xã thuộc vùng khó khăn của huyện Phù Yên, có 10 bản và 4 dân tộc sinh sống là Kinh, Mường, Mông, Dao
sống trong Khu bảo tồn thiên nhiên Tà Xùa. Xã được chia làm 2 vùng, vùng cao gồm 5 bản : Giáp Đất, Khe
19
19
20
Lành, Khoai Lang, Suối Tàu, Suối Quốc và 5 bản vùng thấp (Bản Chiếu, Thải Hạ, Thải Thượng, Văn Yên, Phúc
Yên)[32].
Xã Tà Xùa: Là xã đặc biệt khó khăn của huyện Bắc Yên, cách trung tâm huyện khoảng 14 km, địa hình phức
Xã Mường
Thải
Xã Tà
Xùa
Xã Háng
Đồng
507
761
380
232
1.880
3.447
3.553
2.691
2.265
11.956
giữa các xã ít diễn ra. Lao động chủ yếu là lao động không được đào tạo nên chất lượng rất thấp, các thủ tục
lạc hậu không phổ biến nhưng vẫn diễn ra. Tỷ lệ hộ nghèo vẫn cao. Nhìn chung tình hình dân số của các xã
trong khu bảo tồn đã có những thay đổi đáng kể tỷ lệ gia tăng dân số tự nhiên giảm dần theo từng năm, đời
sống nhân dân dần được cải thiện nhờ các chương trình hỗ trợ của nhà nước, các chương trình xóa đói giảm
nghèo.
1.7.2.3 Hiện trạng sản xuất nông, lâm nghiệp
Sản xuất nông nghiệp
Do địa hình có nhiều núi cao, độ dốc lớn, nên diện tích dành cho sản xuất nông nghiệp không nhiều.
Xã Mường Thải có diện tích đất nông nghiệp nhiều nhất sau đó là xã Suối Tọ, hai xã còn lại là các xã thuộc
vùng núi cao nên diện tích đất nông nghiệp ít. Các cây nông nghiệp chính là ngô, khoai, sắn, lúa nương. Sản
xuất nông nghiệp phần lớn để phục vụ đời sống hàng ngày của người dân trong vùng.
20
20
21
Diện tích trồng màu phụ thuộc vào thời tiết, do vậy sản lượng lương thực trong vùng không ổn định.
Chăn nuôi đóng vai trò quan trọng thứ 2 sau trồng trọt. Ngoài việc cung cấp sức kéo, trâu bò còn cung cấp
phân bón phục vụ sản xuất.
Trong vùng chăn nuôi dê, trâu, bò gặp nhiều khó khăn do diện tích chăn thả ngày càng thu hẹp.
Bảng 2.2 : Kết quả các hoạt động sản xuất nông nghiệ p ở các xã năm 2011[32]
STT
A
1
2
B
Mường
Thải
6.887,2
ha
ha
ha
ha
ha
ha
1.047,5
974,1
9,3
4,6
66,7
1.375,3
719
6,3
34,6
97
511
343
87,8
494,58
420,44
475
915
345
1.140
1.050
10.000
541
563
234
159
1.242
13.100
518
768
289
556
1.526
12.000
420
510
210
660
1.200
4.850
Suối Tọ
gỗ để xây dựng nhà, chủ yếu ở khu vực rừng sản xuất.
Năm 2011, xã Mường Thải đã phối hợp với Hạt kiểm lâm Bản Chiếu triển khai tuyên truyền công tác phòng
chống cháy rừng. Tuy nhiên, xã cũng đã thiệt hại 32 ha, trong đó thiệt hại loại rừng IIIa2 là 17 ha, 1b là 15
ha[32].
Xã Suối Tọ đã giao 1.958,7 ha cho các hộ khoanh nuôi bảo vệ, tích cực phối hợp với các đơn vị chức năng
tăng cường kiểm tra giám sát, quản lý và bảo vệ rừng[32].
Xã Háng Đồng trồng mới được 40 ha Táo Sơn Tra tại bản Chống Tra, công tác khoanh nuôi bảo vệ rừng được
các cấp, các ngành quan tâm, tuy nhiên vẫn còn hiện tượng phá rừng, đốt rừng làm nương rẫy[32].
Xã Tà Xùa đã chỉ đạo, phối hợp thực hiện tốt công tác trồng rừng thuộc dự án KfW7 của huyện; trong đó
trồng được 133,2 ha rừng sản xuất ở các bản Tà Xùa A, Tà Xùa C, Chung Trinh, Mống Vàng, Trò A, Trò B. Cơ
cấu cây lâm nghiệp chủ yếu là cây táo và cây thông, chăm sóc bảo vệ là 144,9 ha rừng sản xuất từ các năm
trước, khoanh nuôi tái sinh rừng tự nhiên là 655 ha[32]. Trong năm qua xã không có hiện tượng cháy rừng
xảy ra.
1.7.3. Cơ sở hạ tầng giao thông
Đường quốc lộ 43 chạy qua xã Mường Thải dài 2 km, đường đất lớn đến được trung tâm của 4 xã dài hơn
40,2 km. Trong đó xã Tà Xùa là 14,5km xã Mường Thải dài 7 km, Suối Tọ và Háng Đồng có hơn 18,7 km
đường đang được thi công để rải nhựa đến trung tâm các xã[32].
Các công trình phục vụ dân sinh đang giải phóng mặt bằng đường giao thông Tà Xùa - Háng Đồng, Trung tâm
xã - Làng Sáng.
1.7.4. Y tế
Hiện nay các xã đều có trạm y tế đóng ở trung tâm xã với 3 đến 4 y sĩ, y tá và 3 đến 4 giường bệnh, ở bản
cũng có cán bộ y tế thôn bản[32]. Tuy nhiên trang thiết bị của các cơ sở y tế thiếu, thuốc y tế chỉ phục vụ sơ
cứu thông thường. Trình độ cán bộ y tế rất thấp, chưa đáp ứng được công tác khám chữa bệnh. Người dân
thiếu thuốc, dịch vụ y tế, kể cả thuốc chữa trị thông thường. Tại Xã Háng Đồng trung tâm y tế xã chưa được
xây dựng kiên cố, đang còn là nhà gỗ, lợp mái tôn và đặc biệt chưa có điện lưới để khám chữa bệnh cho
nhân dân.
22
cấp I và
II
2
2
2
2
Số học
sinh
mầm
non
240
100
172
111
Số học
sinh cấp
I và II
Số học
sinh cấp
III
Đại học
và cao
đẳng
572
520
Người dân có thói quen khai thác rừng, chưa chủ động phát triển rừng. Đây là yếu tố bất lợi trong việc bảo
tồn đa dạng sinh học, môi trường sinh thái hiện tại và sau này. Trong những năm gần đây, đồng bào đã có ý
thức hơn, tích cực tham gia chương trình khoanh nuôi bảo vệ rừng do Khu bảo tồn.
Hệ thống cơ sở hạ tầng cũng như giao thông, thủy lợi, điện nước, y tế, giáo dục đều kém so với các xã trong
khu vực. Trình độ dân trí còn nhiều hạn chế, hiện tượng tái mù khá phổ biến. Đời sống của đồng bào thực
sự khó khăn. Tuy nhiên do chính sách phát triển vùng khó khăn của nhà nước và sự tài trợ của các tổ chức
phi chính phủ hiện nay các xã trong khu vực đã thay đổi được đời sống, rút ngắn khoảng cách với các xã
khác.
1.8. Hiện trạng tài nguyên sinh vật khu bảo tồn Tà Xùa
23
23
24
1.8.1. Hệ thực vật
1.8.1.1. Đa dạng thành phần loài
Kết quả nghiên cứu đã xác định tại khu vực Tà Xùa có 733 loài, 473 chi, 159 họ thực vật bậc cao của 6 ngành
thực vật, cụ thể (Bảng 04).
Bảng 2.4: Bảng phân bố các taxon trong ngành thực vật bậc cao[31]
Taxon
Ngành
Họ
%
Chi
6
0,82
Ngành mộc tặc (Equisetophyta)
1
0,63
1
0,21
2
0,27
Ngành dương sỉ (Polypodiophyta)
12
7,55
17
3,59
23
Lớp mộc lan (Magnoliopsida)
112
70,44
371
78,43
571
77,89
Lớp hành (liliopsida)
26
16,34
72
15,23
121
16,51
159
chi. Kết quả nghiên cứu cũng chỉ ra rằng một số họ có số lượng loài nhiều nhất tại khu vực Tà Xùa như họ
Thầu dầu (Euphorbiaceae) 43 loài, họ Cúc (Asteraceae) 40 loài, họ Dẻ (Fagaceae) 16 loài, họ Long não
(Lauraceae) 21 loài, họ Đậu (Fabaceae) 18 loài, họ Cà phê (Rubiaceae) 18 loài, đây cũng là những họ nằm
trong 10 họ thực vật giàu nhất của khu hệ thực vật Việt Nam. Một số họ thực vật khác có số lượng loài lớn
như họ Cói (Cyperaceae) 14 loài, họ Phong lan (Orchidaceae) 12 loài, Họ Cam (Rutaceae) 14 loài, họ Gừng
(Zingiberaceae) 12 loài, …[31]
Trong hệ thực vật Tà Xùa, 10 chi đa dạng nhất (chiếm 2,05% tổng số chi của toàn hệ thực vật) với 54 loài,
chiếm 7,37% tổng số loài của toàn hệ. Các chi này gồm: Garcinia (Clussiaceae) 5 loài, Elaeocarpus
(Elaeocarpaceae) 5 loài, Castanopsis (Fagaceae) 7 loài, Listsea (Lauraceae) 5 loài, Michelia (Magnoliaceae) 4
loài, Ficus (Moraceae) 11 loài, Ardisia (Myrsinaceae) 5 loài, Alocasia (Areceae) 5 loài, Carex (Cyperaceae) 7
loài, Alpinia (Zingiberaceae) 5 loài. Các loài thực vật tiên phong, ưa sáng, chiếm ưu thế trong các kiểu rừng
thứ sinh sau khai thác và nương rẫy tại khu vực nghiên cứu[31].
1.8.1.4. Các dạng sống của hệ thực vật KBTTN Tà Xùa
Trong tổng số 733 loài của hệ thực vật, kiểu dạng sống thân gỗ có 212 loài, chiếm 28,92%; cây bụi có 188
loài, chiếm 25,65%; thân thảo có 178 loài chiếm 24,28%; dạng dây leo với 85 loài chiếm 11,6; dạng phụ sinh
có 30 loài chiếm 4,09%; dạng khuyết thực vật có 40 loài chiếm 5,46%[31]. Đây là những dạng sống chính và
quan trọng trong khu hệ thực vật Tà Xùa, giữ vai trò tạo nên các kiểu thảm thực vật, đặc biệt ở những đai
cao.
Các loài thực vật hữu ích ở Tà Xùa đã thống kê được 435 loài có ích, chiếm 59,35% tổng số loài của hệ thực
vật Tà Xùa, thuộc 9 nhóm công dụng như: cây làm thuốc; cây cho gỗ; cây làm cảnh, bóng mát; cây thực
phẩm; cây cho tanin, thuốc nhuộm; cây tinh dầu, hương liệu; cây độc và nhóm cây cho công dụng khác,
trong đó nhóm cây thuốc chiếm ưu thế vượt trội với 285 loài chiếm 65,52% tổng số loài cây có giá trị sử
dụng và chiếm 38,88% tổng số loài của khu hệ thực vật Tà Xùa[31].
1.8.1.5. Các loài thực vật quý hiếm có giá trị tại KBTTN Tà
Xùa
Đã ghi nhận 53 loài thực vật quý hiếm, đang bị đe doạ, nguy cấp cần được bảo vệ
chiếm 7,23 % tổng số loài, trong đó: 49 loài nằm trong Sách đỏ Việt Nam, 2007; 3
loài nằm trong Danh lục đỏ thế giới, 2014; 15 loài nằm trong NĐ32/2006 NĐ-CP.