BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP
TRẦN MINH TUẤN
NGHIÊN CỨU TÁC ĐỘNG CỦA NGƯỜI DÂN XÃ
ĐỨC BÌNH, ĐỨC THUẬN ĐẾN TÀI NGUYÊN RỪNG
THUỘC KHU BẢO TỒN THIÊN NHIÊN NÚI ÔNG,
TỈNH BÌNH THUẬN
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC
LÂM NGHIỆP
Hà Nội, 11. 2011
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP
TRẦN MINH TUẤN
NGHIÊN CỨU TÁC ĐỘNG CỦA NGƯỜI DÂN XÃ
ĐỨC BÌNH, ĐỨC THUẬN ĐẾN TÀI NGUYÊN RỪNG
THUỘC KHU BẢO TỒN THIÊN NHIÊN NÚI ÔNG,
TỈNH BÌNH THUẬN
tới nhiều thay đổi khác liên quan tới tập quán canh tác, sinh kế và văn hóa. Tài
nguyên rừng (TNR), nguồn sống chủ yếu của người dân vùng núi bao đời nay
dường như không còn là của họ. Trong khi đó, các sinh kế tạo nguồn thu nhập khác
chưa bù lại được sự thiếu hụt lớn lao này. Chính vì vậy, đã có mâu thuẫn giữa VQG,
KBTTN và các cộng đồng địa phương. Khi chưa tìm được tiếng nói chung đối với
việc bảo tồn TNR thì việc tồn tại những tác động bất lợi của người dân vào rừng
như là một tất yếu.
Khu bảo tồn thiên nhiên Núi Ông nằm trên địa bàn huyện Tánh Linh, tỉnh
Bình Thuận được thành lập muộn hơn so với các KBT khác trong cả nước. Căn cứ
quyết định số 50/2001/QĐ-TTg ngày 10/4/2001 của Thủ tướng Chính phủ về việc
điều chỉnh phạm vi ranh giới và đổi tên thành Khu bảo tồn thiên nhiên Núi Ông.
Thực hiện Quyết định 674/QĐ-UBND ngày 13/3/2007 của UBND tỉnh Bình Thuận
về việc điều chỉnh quy hoạch 3 loại rừng của tỉnh Bình Thuận giai đoạn 2006-2010.
2
KBTTN Núi Ông có tổng diện tích là 25.327 ha, trong đó: diện tích rừng đặc dụng:
24.017 ha, diện tích rừng sản xuất: 1.310 ha [27].
Do vị trí nằm ở vùng địa hình chuyển tiếp từ phía Nam dải Trường Sơn đến
Đông Nam bộ, nên hệ động và thực vật rừng phong phú ở đây có quan hệ chặt chẽ
với hệ động, thực vật của dãy Trường Sơn Nam và miền Đông Nam bộ. Việc thành
lập KBTTN với chức năng để bảo tồn tính đa dạng sinh học, bảo tồn quần thể cây
họ Dầu và họ Đậu đặc trưng của miền Đông Nam Bộ, bảo đảm tác dụng phòng hộ
từ xa cho thủy điện Trị An và cho tỉnh công nghiệp Đồng Nai. KBTTN Núi Ông nối
liền với BQL rừng Hàm Thuận-Đa Mi, BQL rừng phòng hộ Sông Móng-kapet của
Bình Thuận làm thành vùng sinh thái rộng gần 100.000 ha và là môi trường sinh
sống cho các loài động vật rừng.
Do lịch sử hình thành KBTTN Núi Ông nằm trên địa bàn 6 xã của 2 huyện
Tánh Linh và Hàm Thuận Nam với số dân sống trong khu vực của KBTTN khoảng
9.957 hộ. Tình hình phân bố dân cư như vậy gây khó khăn rất lớn cho công tác quản
những chức năng có lợi do chúng mang lại.
4
Chương 1
TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1. Tổng quan vấn đề nghiên liên quan cứu trên thế giới
1.1.1 Quan điểm của nghiên cứu
Nghiên cứu được thực hiện dựa trên cơ sở lý luận của lý thuyết hệ thống;
quan điểm sinh thái nhân văn; quan điểm bảo tồn và phát triển; phương pháp tiếp
cận có sự tham gia.
(i) Vận dụng lý thuyết hệ thống
Hệ thống được hiểu là cấu trúc hoàn chỉnh của tự nhiên, nó bao gồm nhiều
bộ phận chức năng liên kết với nhau một cách có tổ chức và trật tự tồn tại và vận
động theo những qui luật thống nhất. Mỗi hệ thống luôn bao gồm những hệ thống
thành phần (nhỏ hơn) hay còn gọi là hệ thống phụ. Mọi sự vật hiện tượng đều nằm
trong hệ thống và mỗi hệ thống lại nằm trong hệ thống lớn hơn [17].
Sự tác động của người dân đến TNR là hoạt động trong hệ thống kinh tế xã
hội và tác động tới hệ thống tự nhiên. Nó là hoạt động trong hệ thống kinh tế, bởi vì
mức độ tác động của người dân gắn liền với các hoạt động kinh tế của con người
như sử dụng đất rừng canh tác, khai thác lâm sản, chăn thả gia súc…Sự tác động
này cũng phụ thuộc vào sinh kế, mức sống nhu cầu thị trường, khả năng đầu tư, lợi
nhuận trước mắt và hiệu quả kinh tế thường quyết định tới hình thức sử dụng TNR
của người dân địa phương. Ngược lại, mức độ giàu có của TNR cũng tác động
mạnh mẽ tới nguồn thu của người dân địa phương. Chính quan hệ chặt chẽ giữa tác
động của người dân địa phương đến TNR với các yếu tố kinh tế nên có thể làm
giảm thiếu tác động bất lợi tới tài nguyên rừng bằng cách tác động vào các yếu tố
kinh tế. Đây là lý do đề tài nghiên cứu các nguyên nhân kinh tế dẫn tới những tác
dân đến TNR, chúng tôi dựa theo tháp sinh thái – nhân văn của Park đề xuất năm
1936 (dẫn theo Võ Văn Thoan và Nguyễn Bá Ngãi (2003) [17]; Ngô Ngọc Tuyên
(2007) [21]).
6
Các yếu tố
¶nh hưởng
Phát triển
kinh tế - xã
hội địa
phương và
bảo tồn
TNR
Tác động
bất lợi của
người dân
địa phương
tới TNR
Bậc đạo đức
Bậc thể chế
Bậc kinh tế
Bậc sinh
thái
tới TNR.
Bậc thể chế được giải thích là các yếu tố về thể chế, chính sách, tổ chức cộng
đồng … ảnh hưởng gián tiếp tới những tác động của người dân địa phương đến tài
nguyên rừng.
Bậc đạo đức được hiểu là tập quán, sự nhận thức hay ở mức độ cao hơn nữa
là văn hóa của các cộng đồng dân cư. Mọi tác động của các yếu tố khác có thể làm
thay đổi thái độ và nhận thức của cộng đồng.
Theo logic của tháp sinh thái nhân văn thì bất kỳ giải pháp nào nhằm giảm
thiểu những tác động bất lợi tới TNR, bảo tồn và phát triển TNR đều phải dựa trên
cơ sở sinh thái và bảo đảm được các yếu tố về kinh tế xã hội của người dân địa
phương (Ngô Ngọc Tuyên, 2007 [21]).
(iii) Quan điểm bảo tồn và phát triển
Theo Gilmour và Nguyễn Văn Sản (1999), quan điểm bảo tồn và phát triển là
để liên kết việc bảo tồn tài nguyên và những nhu cầu phát triển của địa phương, bao
gồm ba thành phần chính (cách tiếp cận) sau [3]:
- Thứ nhất là, nếu nhu cầu phát triển cộng đồng tại địa phương đó có thể đáp
ứng bởi các nguồn thay thế khác thì ảnh hưởng của nó lên tài nguyên sẽ được giảm
bớt và tài nguyên được bảo tồn: Cách tiếp cận các giải pháp thay thế sinh kế.
- Thứ hai là, nếu cộng đồng rất khó khăn về mặt kinh tế, không thể nào quan
tâm đến mặt bảo tồn được vì những nhu cầu thiết yếu của cộng đồng còn chưa được
đáp ứng thì trước hết cần phải nỗ lực cải thiện nền kinh tế - xã hội của họ đủ tốt để
họ có thể quan tâm hơn đến việc bảo tồn tài nguyên thiên nhiên: Cách tiếp cận phát
triển kinh tế.
8
- Thứ ba là, cộng đồng địa phương đó cũng đồng ý với việc bảo tồn tài nguyên
thiên nhiên nếu như họ có thể tham gia một cách tích cực vào việc qui hoạch và
quản lý sử dụng tài nguyên và được chia sẻ lợi nhuận từ tài nguyên đó. Theo cách
này, tài nguyên có thể được bảo tồn trong khi một số nhu cầu cơ bản của người dân
(Indonesia) vẫn tồn tại 13 làng bản với cuộc sống gắn với săn bắn cổ truyền [9].
Ở Châu Á, sự tham gia của người dân địa phương vào công tác bảo tồn đa
dạng sinh học là một biện pháp cần thiết và thường có hiệu quả. Lý do để khuyến
khích sự tham gia này là nỗ lực của các cơ quan chính phủ nhằm đưa dân chúng ra
khỏi các KBT đã không mang lại kết quả như mong muốn trên cả phương diện quản
lý TNR và kinh tế xã hội. Việc đưa người dân vốn quen sống trên địa bàn của họ
đến một nơi mới chẳng khác nào “bắt cá khỏi nước“ và khi đó các lực lượng khác
có thể xâm lấn và khai thác TNR mà không có người bảo vệ. Người dân địa phương
có nhiều kiến thức cổ truyền về việc sử dụng tài nguyên thiên nhiên và các thể chế
cộng đồng đã tỏ ra có hiệu quả trong việc quản lý các nguồn tài nguyên này [19],
[28].
Năm 1989, Cục lâm nghiệp của Hoàng Gia Thái Lan (The Royal Forest
Department) thành lập các khu bảo tồn để bào vệ diện tích rừng còn lại. Điều này đã
dẫn tới xung đột giữa các cộng đồng địa phương với các ban quản lý. Một thử
nghiệm của dự án “Quản lý rừng bền vững thông qua sự cộng tác” thực hiện tại
Kheio Wildlife Sanctuary, tỉnh Chaiyaphum ở Đông Bắc Thái Lan đã được tiến
hành. Kết quả chỉ ra rằng, điều căn bản để quản lý bền vững tài nguyên là phải thu
hút sự tham gia của các bên liên quan và đặc biệt là phải bao gồm cả phát triển cộng
đồng địa phương bằng các hoạt động làm tăng thu nhập của họ (dẫn theo Nguyễn
Thị Phượng [14]).
Theo đó, các nguyên tắc được lập ra trong công tác quản lý tài nguyên thiên
nhiên và kế hoạch phát triển kinh tế xã hội quốc gia năm 1992-1996 là “Khuyến
khích người dân cộng tác với chính phủ, trong bảo tồn tài nguyên thiên nhiên thông
qua việc đề cao vai trò của các tổ chức nhân dân, tổ chức phi chính phủ, từ trung
ương đến địa phương; trong việc quyết định các dự án quản lý tài nguyên thiên
nhiên cũng như trong việc theo dõi, giám sát và đánh giá thành công của dự án
10
này”. Nhận rõ sự cần thiết phải xem xét điều kiện kinh tế xã hội xung quanh KBT,
phương tham gia vào việc lập kế hoạch và thiết kế các dự án phát triển (dẫn theo
Bùi Minh Tân, 2009 [16]).
Năm 1986, trong tác phẩm “LNXH và hành động của cộng đồng” các tác giả
Dorji, Chavada, Thinley và Wangchuks cho rằng: Rừng chủ yếu là nguồn cung cấp
gỗ xây dựng và làm hàng rào, cung cấp củi, nơi chăn thả và chuồng trại cho gia súc.
Chúng cũng cung cấp một phần lớn những yêu cầu về thức ăn gia súc, lợi tức, công
ăn việc làm và đóng vai trò quan trọng trong việc bảo vệ đất và nước trên vùng đất
dốc [28].
1.2. Tổng quan vấn đề nghiên cứu ở Việt Nam
1.2.1. Hệ thống chính sách và các vấn đề liên quan đến rừng đặc dụng
Việt Nam trải qua nhiều năm chiến tranh, kinh tế đất nước ở những năm đầu
sau chiến tranh khó khăn. Dân số Việt Nam hầu hết là nông dân, dân số tăng nhanh,
nhu cầu về đất canh tác đất nông nghiệp, về lương thực, nhu cầu về gỗ, lâm sản
ngoài gỗ (LSNG) ngày một gia tăng đối với cộng đồng dân cư sinh sống giáp rừng
và gần rừng của các KBT, VQG từ đó gây sức ép lên TNR [26].
Việc đầu tư quản lý bảo vệ và phát triển các khu rừng đặc dụng được nhà
nước quan tâm. Việc xây dựng triển khai, thực thi các chính sách, pháp luật của nhà
nước được coi trọng. Nhưng rừng vẫn bị xâm hại, một trong những nguyên nhân là
đời sống người dân sống trong rừng và ven rừng chưa được cải thiện. Vì thế, dẫn
đến có nhiều vi phạm và vi phạm nghiêm trọng vào rừng.
Việt Nam đã thành lập các khu rừng đặc dụng. Tháng 7/1962, Quyết định số
72/TTg của Thủ tướng Chính phủ thành lập khu rừng cấm Cúc Phương rộng 25.000
ha, sau này trở thành VQG đầu tiên của nước ta. Các năm sau đó, Chính phủ còn ra
các quyết định thành lập các khu rừng cấm như VQG Cát Bà (1968), Nam Cát Tiên
(1978); VQG Côn Đảo (1984); VQG Yok Don (1991); KBTTN đất ngập nước
Xuân Thuỷ (1994); KBTTN Tràm Chim Tam Nông (1994) v.v. Ngoài ra, các nhà
khoa học trong và ngoài nước đã phát hiện nhiều khu rừng có giá trị cao về đa dạng
sinh học không những đối với Việt Nam mà còn trong cả khu vực và thế giới như:
Trần Ngọc Lân (1999) và các cộng sự đã kết luận rằng: Các nông hộ trong
vùng đệm KBT Pù Mát có sự gắn bó chặt chẽ với rừng, nguồn thu nhập từ khai thác
lâm sản và canh tác nương rẫy đóng vai trò quan trọng trong tổng thu nhập của mỗi
nông hộ. Hiện nay, các nông hộ đang có sự chuyển đổi về sinh kế, song mới chỉ có
rất ít ở các hộ có hiểu biết và có vốn đầu tư [11].
Đỗ Anh Tuấn (2001) đã thực hiện một nghiên cứu điểm tại KBT Pù Mát cho
đề tài: Nghiên cứu ảnh hưởng của bảo tồn tới kế sinh nhai của cộng đồng địa
phương và thái độ của họ về chính sách bảo tồn. Tác giả chủ yếu đánh giá sự thay
đổi sinh kế của người dân địa phương do sự hưởng lợi của KBT và mức độ chấp
nhận của cộng đồng qua việc phân tích mối quan hệ giữa cộng đồng và tài nguyên
rừng. Nghiên cứu đã xác định các tỷ trọng thu nhập từ tài nguyên rừng trong tổng
thu nhập chung của thôn, nhưng chưa cụ thể cho từng dân tộc và từng nhóm kinh tế
hộ. Tác giả cho rằng, hầu hết người dân địa phương vẫn còn sử dụng TNR một cách
hợp pháp. Tại thời điểm nghiên cứu, 34% tổng thu nhập hằng năm của một hộ gia
đình trong vùng đệm và 62% tổng thu nhập của một hộ gia đình trong vùng bảo vệ
nghiêm ngặt là từ rừng. Việc thành lập KBTTN (năm 1997) đã làm giảm 30% 71,4% diện tích đất và khoảng 50% thu nhập từ rừng của người dân địa phương.
Mặc dù đã có một vài chương trình hỗ trợ được thực hiện tại KBTTN, nhưng chúng
chưa bù lại được những mất mát do thành lập KBTTN [19].
Vấn đề giảm đất canh tác của các cộng đồng do hình thành VQG là một thực
tế đang diễn ra ở nhiều nơi. Nghiên cứu của Đỗ Thị Hà (2002) cho rằng, sau khi
thành lập VQG Tam Đảo, đất của các hộ trong thôn bị mất đi, thu nhập về lâm
nghiệp tập trung vào một số chủ rừng, ảnh hưởng tới sự phân công lao động trong
hộ gia đình [5].
Với đề tài: “Đánh giá vai trò kinh tế của lâm sản ngoài gỗ ở hai thôn người
Dao tại xã Ba Vì” của Trần Ngọc Hải và cộng sự (2002); tác giả cho rằng: Lâm sản
ngoài gỗ, đặc biệt là nhóm tre hương và cây dược liệu đóng vai trò rất quan trọng
trong kinh tế hộ gia đình [8].
14
15
- Sự tham gia vào rừng của nhóm hộ giàu là ít hơn so với nhóm hộ trung bình
và nghèo, nhóm hộ giàu ít tác động vào rừng hơn nhưng thu nhập vẫn cao hơn
nhóm hộ trung bình và nghèo.
- Không có sự phụ thuộc về phương diện thống kê giữa tổng thu nhập vào
thu nhập từ đất lâm nghiệp, giữa tổng thu nhập vào thu nhập từ khai thác lâm sản và
giữa tổng thu nhập vào thu nhập từ chăn thả gia súc trong rừng.
- Các nguyên nhân dẫn tới những tác động bất lợi có: (i) Cơ cấu phân phối
đất canh tác rất không đều giữa các loại đất canh tác của nông hộ; (ii) Diện tích đất
canh tác rất nhiều ở đất lâm nghiệp và vườn hộ, ngược lại có quá ít ở đất hoa màu
và đặc biệt là lúa nước.
Tóm lại
Qua các nghiên cứu về tác động qua lại giữa con người và TNR cả trên thế
giới và ở Việt Nam trong thời gian qua, kết quả đã đề cập đến nhiều mặt khác nhau
của vấn đề nghiên cứu.
- Trước hết, các nghiên cứu trên thế giới đã phân tích định tính về sự phụ
thuộc của các cộng đồng dân cư vào tài nguyên và khẳng định cần thiết phải có sự
tham gia của người dân vào các hoạt động bảo tồn TNR. Tuy nhiên, còn ít các
nghiên cứu định lượng xác định những tác động của cộng đồng vào TNR và những
nguyên nhân cụ thể dẫn tới những tác động đó.
- Tiếp theo, một số nghiên cứu đã phân tích phương pháp lý luận và thực tiễn
để nghiên cứu mối quan hệ giữa con người và TNR. Tuy nhiên, các nghiên cứu tập
trung nhiều ở vùng đệm của các VQG hoặc KBT mà chưa chú ý mở rộng ở các địa
phương khác nhau, loại rừng phòng hộ, rừng sản xuất.
- Các nghiên cứu ở Việt Nam đã thực hiện đã phân tích, đánh giá sự phụ
thuộc của cộng đồng địa phương vào rừng và đất rừng. Nhưng chưa đưa ra được các
giải pháp để giảm thiểu tác động bất lợi của người dân địa phương đến tài nguyên
rừng. Một số nghiên cứu trong những năm gần đây đã để cập đến vấn đề tác động
Nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới điển hình với đặc trưng có 2 mùa rõ rệt:
mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11 và mùa khô từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau.
* Chế độ nhiệt
Nhiệt độ trung bình năm
25,40C.
Nhiệt độ cao nhất tuyệt đối
37,80C.
Nhiệt độ thấp nhất tuyệt đối
9,60C.
*Chế độ mưa ẩm.
Lượng mưa bình quân năm
2.185 mm
Lượng mưa cao nhất
2.854 mm
Lượng mưa thấp nhất
1.308 mm
Số ngày mưa trong năm
+ Thủy văn
Nguồn nước trong KBTTN Núi Ông khá dồi dào, có nguồn nước quanh
năm, bao gồm các sông như: sông La Ngà, sông Các, sông Phan, sông Mong, sông
Dịch, sông Kapét. Mực nước ngầm trong khu vực thấp, được phân bố ở độ sâu từ 3
– 5 m. Đây là yếu tố thuận lợi để thực vật rừng sinh trưởng và phát triển.
2.1.2. Tài nguyên động thực vật
+ Động vật
Hệ động vật khu bảo tồn thiên nhiên Núi Ông gồm có 247 loài động vật:
Số bộ
Số họ
Số loài
Thú- Mammalia
11
26
68
Chim- Aves
17
42
131
Khu bảo tồn thiên nhiên Núi Ông có 1.070 lòai, nằm trong 4 ngành thực vật
chính thuộc 49 bộ, 149 họ và 560 chi. Riêng ngành Hạt kín (Ngọc lan) có 989 lòai
thuộc 42 bộ, 122 họ và 516 chi.
Trong 1070 lòai thực vật được ghi nhận tại KBTTN Núi Ông, có:
135 loài cây gỗ lớn, chiếm 12,6%.
207 loài cây gỗ nhỏ, chiếm 19,3%.
235 loài cây tiểu mộc, chiếm 22%.
180 loài dây leo, chiếm 16%.
188 loài cỏ, chiếm 17,6%.
75 loài khuyết thực vật, chiếm 7%.
50 loài thực vật phụ sinh, chiếm 4,7%.
Khu bảo tồn thiên nhiên Núi Ông có 35 loài thuộc nguồn gien qúy hiếm nằm
trong 4 cấp đánh giá về mức độ quý hiếm Sách đỏ Việt Nam. Trong đó có loài Lim
xanh (Erythorophleum fordii). Lim là loài cây gỗ lớn thuộc họ Vang
(Caesalpininoideae) mới được phát hiện, có phân bố tự nhiên ở khu vực Núi Ông
mà các tỉnh phía Nam không có. Một số loài thực vật qúy hiếm khác như: Cẩm lai
(Dalbergia bariensis Pierre), Gõ đỏ (Afzelia xylocarpa), Chụt chạt (Baccaurea
sylestris), Giáng hương qủa to (Pterocarpus sp. Kosf), Kim giao lá nhỏ
(Podocarpus wallichianus), Thông tre Nam bộ (Podocarpus annamensis), Trắc mật
(Dalbergia cochinchinensis P.), Trầm hương (Aguilaria crassna), Vắp (Mesua
20
ferrea), Lim xanh (Erythorophleum fordii), Bồng (Lophopetalum wallichii), Căm xe
(Xylia xylocarpa), …
Đặc điểm nổi bật quan trọng là hệ thực vật Khu bảo tồn thiên nhiên Núi Ông
mang các yếu tố Đông Dương và Malaixia thuộc vùng hệ thực vật Ấn Độ-Mã Lai,
cũng chứa đựng phần nào yếu tố châu Phi, châu Úc. Ngoài ra, hệ thực vật Khu bảo
tồn thiên nhiên Núi Ông còn hiện diện một số loài trong các họ thực vật cổ xưa
thuộc hai khu hệ thực vật cổ xưa á nhiệt đới và nhiệt đới.
21
Phần lớn bà con làm nông nghiệp và chăn nuôi nhỏ lẻ. Ở đây có đồng bào
dân tộc thiểu số thôn 4, trình độ học vấn thấp, đời sống khó khăn, ngoài thu nhập
sản xuất nông nghiệp họ thường vào rừng khai thác lâm sản phụ như măng, mây,
tre, thu lượm nhựa chai, trái ươi, hái gùi, dâu v.v... và săn bắt các loài động vật làm
ảnh hưởng không nhỏ đến tài nguyên rừng của Khu bảo tồn. Một số đối tượng lợi
dụng địa hình khó khăn lén lút vào rừng khai thác gỗ xây dựng loại 5 x 10cm làm
bao bì, làm mộc dân dụng. Mặt khác, do một số loài cây trồng như bắp lai, mì bán
được giá, một số người dân lấn chiếm rừng canh tác nương rẫy trên các tiểu khu
343, 344, 345, 346 làm cho công tác quản lý bảo vệ rừng của đơn vị và của địa
phương thêm phần khó khăn.
2.2.2 Đặc điểm tự nhiên và xã hội khu vực xã Đức Thuận
Diện tích Khu bảo tồn thiên nhiên Núi Ông nằm trên địa bàn hành chính xã
Đức Thuận: 7.108 ha. Bao gồm 9 tiểu khu : 350, 351, 360, 361, 359, 353, 354, 355,
356. Địa hình có nhiều sườn dốc, đỉnh cao, thấp dần từ đỉnh Núi Ông đến chân Thác
Bà, tiếp giáp khu dân cư thôn Hòa Thuận và thôn Bàu Chim. Trên địa bàn hành
chính xã Đức Thuận có Thác Bà là nơi vui chơi sinh thái lý tưởng thuộc tiểu khu
361 của KBTTN Núi Ông.
+ Tổng dân số: 5.535 người (trong đó: dân tộc Kinh chiếm 76,9%, Raglai
chiếm 0,2%, Chăm 2,23%, còn lại là dân tộc khác).
+ Tổng số hộ: 1.302, số khẩu bình quân/hộ: 4,3 người
+ Số hộ nghèo chiếm 15,7 %, số hộ giàu chiếm: 8,7 %; còn lại là số hộ trung
bình.
Lâm phần đơn vị quản lý nằm trên địa phận quản lý hành chính của xã Đức
Thuận khá rộng, dân cư sinh sống giáp ranh giới KBTTN Núi Ông, có một số ít dân
tộc sinh sống trong vùng lõi tiểu khu 351, phân khu phục hồi sinh thái tiểu khu 361.
Đời sống dân cư chủ yếu làm nông, một số ít dân cư sống bằng nghề rừng như thu
nhặt lâm sản phụ, lấy măng , mây, mật ong, nhặt hoa qủa như thanh trà, gùi, và chặt
các loại cây làm thuốc như vàng đắng, trái ươi v.v... Ngoài ra, vẫn có một số đối
3.1. Mục tiêu nghiên cứu
3.1.1. Mục tiêu chung
Đề tài làm rõ mối quan hệ giữa người dân sống gần rừng và tài nguyên rừng;
đồng thời là cơ sở khoa học và thực tiễn cho chính quyền địa phương và Ban quản
lý KBTTN Núi Ông đề ra các giải pháp bảo vệ và phát triển rừng bền vững.
3.1.2. Mục tiêu cụ thể
- Xác định các nhóm đối tượng người dân cùng các hình thức và mức độ tác
động bất lợi đến tài nguyên rừng tại khu vực nghên cứu.
- Phân tích các yếu tố có ảnh hưởng hay dẫn đến những tác động bất lợi của
người dân tới tài nguyên rừng tại khu vực nghiên cứu.
- Đề xuất các giải pháp nhằm giảm thiểu các tác động bất lợi của người dân
vào tài nguyên rừng tại khu vực nghiên cứu.
3.2. Đối tượng và giới hạn nghiên cứu
3.2.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài được xác định là: (i) những diện tích rừng
thuộc khu bảo vệ nghiêm ngặt hoặc vùng đệm của Khu BTTN Núi Ông mà người
dân có thể tác động, (ii) những hộ dân sống giáp rừng hoặc gần rừng thuộc các xã
Đức Bình, Đức Thuận đã và đang can thiệp vào tài nguyên rừng vì cuộc sống của
chính họ.
3.2.2. Giới hạn nghiên cứu
Người dân sống gần rừng, do nhận thức đã có tác động có lợi cho rừng như
nhận khoán bảo vệ rừng, tham gia phòng cháy, trực tiếp chữa cháy rừng, tham gia
các hoạt động trồng rừng, chăm sóc rừng, tuần tra bảo vệ rừng, tố giác các đối