nghiên cứu tính đa dạng thực vật tại hai xã cao sơn và vũ muộn thuộc khu bảo tồn thiên nhiên kim hỷ tỉnh bắc kạn - Pdf 23


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

LÊ VĂN PHÚC

NGHIÊN CỨU TÍNH ĐA DẠNG THỰC VẬT TẠI
HAI XÃ CAO SƠN VÀ VŨ MUỘN THUỘC KHU BẢO TỒN
THIÊN NHIÊN KIM HỶ TỈNH BẮC KẠN

Chuyên ngành : LÂM HỌC
Mã số : 60 62 60

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP

Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: TS. LÊ ĐỒNG TẤN


Muộn thuộc Khu Bảo tồn thiên nhiên Kim Hỷ, tỉnh Bắc Kạn, số liệu được xử lý
tại Khoa Lâm nghiệp, trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên và Viện Sinh thái
và Tài nguyên sinh vật, đến nay bản luận văn Thạc sỹ của tôi đã hoàn thành.
Nhân dịp này, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới sự hướng dẫn tận tình
của TS. Lê Đồng Tấn đã dìu dắt tôi từng bước đi trong nghiên cứu khoa học, sự
giúp đỡ chỉ bảo của các thầy, cô giáo khoa Lâm nghiệp, khoa Sau đại học trường
Đại học Nông lâm Thái Nguyên, UBND và người dân hai xã Cao Sơn và Vũ
Muộn và Ban quản lý Khu Bảo tồn thiên nhiên Kim Hỷ đã giúp đỡ trân thành và
tạo mọi điệu kiện thuận lợi để tôi hoàn thành luận văn này.
Vì điều kiện thời gian nghiên cứu và trình độ chuyên môn của bản thân
còn có những hạn chế nhất định, nên đề tài này không thể tránh khỏi những thiếu
sót, tôi rất mong nhận được những ý kiến góp ý quý báu của các nhà khoa học
cũng như các bạn đồng nghiệp để bản luận văn này được hoàn chỉnh hơn.

Thái Nguyên, ngày 15 tháng 8 năm 2011
Tác giả

Lê Văn Phúc

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

iii
MỤC LỤC
ĐẶT VẤN ĐỀ i
Chương 1: TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 3
1.1. Khái niệm và định nghĩa về đa dạng sinh học 3
1.2. Tính cấp thiết của vấn đề bảo vệ đa dạng sinh học 5

3.1.5. Thủy văn 27
3.1.6. Tài nguyên sinh vật 27
3.2. Điều kiện kinh tế - xã hội 28
3.2.1. Dân số, dân tộc, lao động 28
3.2.2. Các hoạt động kinh tế trong khu vực 29
3.3. Nhận xét và đánh giá chung 30
3.3.1. Thuận lợi 30
3.3.2. Khó khăn 31
Chương 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 32
4.1. Đa dạng hệ thực vật 32
4.1.1. Đa dạng ở mức độ ngành 32
4.1.2. Đa dạng ở mức độ họ 34

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

iv
4.1.3. Đa dạng mức độ chi 35
4.2. Đa dạng về các yếu tố địa lý cấu thành hệ thực vật 38
4.2.1. Đa dạng yếu tố địa lý ở mức độ loài 38
4.2.2. Đa dạng yếu tố địa lý ở mức độ chi 39
4.2.3. Đa dạng yếu tố địa lý ở mức độ họ 40
4.3. Đa dạng về dạng sống 41
4.4. Đa dạng về giá trị tài nguyên và nguồn gen 43
4.4.1. Đa dạng về giá trị sử dụng 43
4.4.2. Các loài quí hiếm 48
4.5. Đa dạng về thảm thực vật 51
4.5.1. Các kiểu thảm thực vật ở độ cao dưới 700m 51
4.5.1.1. Rừng kín thường xanh mưa mùa nhiệt đới trên núi đá vôi 51
4.5.1.2. Các kiểu thảm thực vật thứ sinh do tác động của con người 54
4.5.2. Các kiểu thảm thực vật ở độ cao trên 700m 58

Ô tiêu chuẩn
ODB
Ô dạng bản
PRCF
Tổ chức Con người, tài nguyên và bảo tồn
TĐT
Tuyến điều tra
UNEP
Chương trình Môi Trường Liên hợp quốc
WWF
Quỹ Bảo tồn Thiên nhiên thế giới

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

vi
DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 1.1: Số loài thực vật được mô tả trên toàn thế giới 8
Bảng 3.1: Dân số và thành phần dân tộc tại khu vực nghiên cứu 30
Bảng 4.1: Phân bố của các taxon trong các ngành của hệ thực vật tại 2 xã
Cao Sơn và Vũ Muộn 33
Bảng 4.2: Sự phân bố của các taxon trong ngành Ngọc lan 34
Bảng 4.3: Danh sách các họ giàu loài (họ có từ 10 loài trở lên) tại khu vực
nghiên cứu 36
Bảng 4.4: Danh sách các họ nhiều chi (họ có từ 10 chi trở lên) tại khu vực
nghiên cứu 37
Bảng 4.5: Danh sách các chi giàu loài (có từ 5 loài trở lên) tại khu vực nghiên cứu . 38
Bảng 4.6: Các yếu tố địa lý của các loài 39
Bảng 4.7: Các yếu tố địa lý của các chi 40
Bảng 4.8: Các yếu tố địa lý của các họ 41

đới trên núi đá vôi ở độ cao dưới 700m 52
Ảnh 2: Tầng cây bụi dưới rừng kín thường xanh mưa mùa nhiệt đới trên núi
đá vôi ở độ cao dưới 700m 53
Ảnh 3: Thảm tươi dưới tán rừng kín thường xanh mưa mùa nhiệt đới
trên núi đá vôi ở độ cao dưới 700m 54
Ảnh 4: Dây leo trong rừng kín thường xanh mưa mùa nhiệt đới trên núi
đá vôi 55
Ảnh 5: Ưu hợp Găng + Phèn đen phục hồi trên đất sau nương rẫy 57
Ảnh 6: Ưu hợp chuối rừng phục hồi trên đất sau nương rẫy và khai thác
vàng bỏ hoá 58
Ảnh 7: Ưu hợp Lau phục hồi trên đất sau nương rẫy 58
Ảnh 8: Ưu hợp dương xỉ phục hồi trên đất sau nương rẫy 58
Ảnh 9: Quần thể cây Giả thiết sam lá ngắn 61
Ảnh 10: Quần thể cây Giả thiết sam lá ngắn 61
Ảnh 11: Du sam Cây núi đá - Keteleeria davidiana (Bertrand) Beissn. tái
sinh 61
Ảnh 12: Thảm cây Trúc lùn trên đỉnh núi 62
Ảnh 13: Thảm cây bụi lùn trên đỉnh núi 62
Ảnh 14: Một số loài Lan trên đỉnh núi 63

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

1
ĐẶT VẤN ĐỀ

Đa dạng sinh học (ĐDSH) là thuật ngữ dùng để chỉ sự phồn thịnh của
cuộc sống trên trái đất bao gồm các loài động, thực vật, vi sinh vật, những gen
chứa đựng trong các loài và tính đa dạng của các hệ sinh thái trên trái đất. ĐDSH
có vai trò vô cùng to lớn quyết định sự tồn tài và phát triển của con người vì nó là
nguồn cung cấp lương thực, thực phẩm, thuốc chữa bệnh, nguyên liệu cho các

suy thoái hoặc chuyển đổi thành các mục đích sử dụng khác. Đó chính là nguyên
nhân làm suy giảm tính ĐDSH – một trong những chủ đề đang được nhiều nhà khoa
học quan tâm nghiên cứu. Để bảo vệ tính đa dạng sinh học, cho đến nay nhà nước đã

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

2
thiết lập một hệ thống gồm hơn 100 khu bảo tồn và vườn quốc gia với trên 2 triệu ha.
Khu Bảo tồn thiên nhiên Kim Hỷ thuộc tỉnh Bắc Kạn được thiết lập để
bảo tồn quần thể các giá trị ĐDSH cấp quốc gia và quốc tế, bảo vệ hệ sinh thái
rừng trên núi đá vôi. Khu Bảo tồn có tổng diện tích tự nhiên 14.772 ha nằm trên
địa phận 7 xã, 2 huyện, trong đó huyện Na Rì có 5 xã gồm: Kim Hỷ, Lương
Thượng, Lạng San, Ân Tình và Côn Minh; huyện Bạch Thông có 2 xã: Cao Sơn
và Vũ Muộn. Tọa độ địa lý từ 22
0
07’30” đến 22
0
16’ Vĩ độ Bắc và từ 105
0
50’50”
đến 106
0
03’50” kinh độ Đông. Tổng diện tích tự nhiên 14.772 ha, trong đó có
13.796 ha, chiếm 93.39% là rừng tự nhiên với kiểu rừng kín thường xanh mưa
mùa nhiệt đới trên núi đá vôi chiếm ưu thế. Theo số liệu thống kê, hệ thực vật
của khu bảo tồn có 789 loài thực vật bậc cao có mạch thuộc 541 chi 169 họ,
trong đó có nhiều loài quí hiếm đã được ghi trong sách đỏ Việt Nam cần được
bảo vệ như Du sam núi đá (Keteleeria calearea), Giả thiết sam (Pseudotsuga
sinensis), Lát hoa (Chukrasia tabularis), Nghiến (Excentrodendron tonkinensis),
Đại hái (Hodgsonia macrocarapa)

3 mức độ: ĐDSH ở mức độ loài là gồm toàn bộ các sinh vật sống trên trái đất, từ
vi khuẩn đến các loài động, thực vật và các loài nấm. ĐDSH ở mức độ gen là sự
khác nhau giữa các loài, giữa các quần thể sống cách ly nhau về địa lý cũng như
giữa các cá thể cùng chung sống trong một quần thể. ĐDSH ở mức độ hệ sinh
thái là sự khác nhau của các loài giữa các hệ sinh thái, nơi mà các loài cũng như
các quần xã sinh vật tồn tại.
Trong bản Công ước về bảo tồn ĐDSH được thông qua tại hội nghị
thượng đỉnh tại Rio de Janeiro (Braxin, 1992) [13] định nghĩa “ĐDSH là
tính khác biệt, muôn hình muôn vẻ về cấu trúc, chức năng và các đặc tính
khác giữa các sinh vật ở tất cả mọi nguồn bao gồm hệ sinh thái trên đất liền và
các hệ sinh thái dưới nước”.
Ở trong nước theo Nguyễn Nghĩa Thìn (1997) [47] "ĐDSH là toàn bộ các
dạng sống khác nhau của cơ thể sống trên trái đất gồm các sinh vật phân cắt đến
động, thực vật ở trên cạn cũng như dưới nước, từ mức độ phân tử AND đến các
quần thể sinh vật kể cả xã hội loài người. Ông cho rằng khoa học nghiên cứu về
tính đa dạng đó gọi là ĐDSH”.
Trong cuốn "Kế hoạch hành động đa dạng Việt Nam", (1995) [13] đưa ra định
nghĩa: "ĐDSH là tập hợp tất cả các nguồn sống trên hành tinh chúng ta, bao gồm
tổng số các loài động, thực vật, tính đa dạng phong phú trong từng loài, tính đa

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

4
dạng của các hệ sinh thái trong các cộng đồng sinh thái khác nhau hay là tập hợp
của các loài sống ở các vùng khác nhau trên thế giới với các hoàn cảnh khác
nhau". Trong định nghĩa này tác giả đã đề cập đến mức độ đa dạng ở mức độ loài
và hệ sinh thái, nhưng chưa đề cập đến mức đa dạng gen (đa dạng di truyền).
Từ điển đa dạng sinh học và phát triển bền vững của Trương Quang Học
(2001) [23] đã định nghĩa "ĐDSH là thuật ngữ dùng để mô tả sự phong phú và
đa dạng của giới tự nhiên. Đa dạng là sự phong phú của mọi cơ thể sống từ mọi

thông tin di truyền của loài. Vì vậy, tính đa dạng loài hoàn toàn bao trùm tính
đa dạng di truyền và thường được coi trọng nhất khi đề cập đến tính ĐDSH.
- Đa dạng ở mức độ sinh thái: Thể hiện bằng sự khác nhau của các kiểu
quần xã sinh vật tạo nên. Quần xã sinh vật được xác định bởi các loài sinh vật
trong một sinh cảnh nhất định cùng các mối quan hệ qua lại giữa các cá thể trong
loài và giữa các loài với nhau. Quần xã sinh vật cũng quan hệ với môi trường vật
lý tạo thành một hệ sinh thái. Hệ sinh thái là một cấu trúc và chức năng sinh
quyển bao gồm các quần xã động, thực vật, các quần xã vi sinh vật, thổ nhưỡng
(đất) và các yếu tố khí hậu. Các thành phần này liên hệ với nhau thông qua các
chu trình vật chất và năng lượng (chu trình sinh địa hoá). Cao hơn nữa, định
nghĩa này đã đề cập đến xã hội loài người đó là đa dạng các loại hình văn hoá
dân tộc. Đây là một quan điểm mới được đề cập đến mang tính nhân đạo và sự
công bằng xuất phát từ đạo đức, đó chính là câu trả lời cho một phần của câu hỏi
vì sao phải bảo tồn ĐDSH.
1.2. Tính cấp thiết của vấn đề bảo vệ đa dạng sinh học
Tháng 6 năm 1992, hội nghị thượng đỉnh bàn về môi trường và đa dạng
sinh vật được tổ chức tại Rio de Janeiro (Brazil) có 150 nước ký vào Công ước
về đa dạng sinh vật và bảo vệ chúng. Sau hội nghị này, có nhiều cuộc hội thảo đã
được tổ chức nhằm thảo luận chiến lược và kế hoạch hành động để bảo vệ đa
dạng sinh học; nhiều tổ chức quốc tế hay khu vực được thành lập thành mạng
lưới phục vụ cho việc đánh giá bảo tồn và phát triển đa dạng sinh học. Đặc
biệt, nhiều nước đã xây dựng các bộ luật bảo vệ đa dạng sinh học. Có thể
nêu một số luật của các nước như:
- Luật bảo về đời sống hoang dã 1991 của Trung Quốc.
- Luật bảo tồn hệ động vật và thực vật bị đe dọa 1994 của Nhật Bản.
- Luật bảo vệ động vật 1997 của Ba Lan.
- Luật bảo về giống thực vật 1997 của brazil.
- Luật đa dạng sinh học rừng 1997 của Mỹ.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

với nhiều bộ thực vật chí của các nước đã hoàn thành. Ở đây tôi xin điểm qua

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

7
những công trình nghiên cứu có giá trị được xuất hiện vào thế kỷ XIX - XX như:
Thực vật chí Hồng Kông, 1861; Thực vật chí Australia, 1866; Thực vật chí vùng
tây Bắc và trung tâm Ấn Độ, 1874; Thực vật chí Ấn Độ (1872-1897); Thực vật
chí Miến Điện, 1877; Thực vật chí Malaixia, 1892 - 1925; Thực vật chí Hải Nam,
1972-1977; Thực vật chí Vân Nam, 1977; Ở Nga từ năm 1928 đến 1932 được
xem là thời kỳ mở đầu cho việc nghiên cứu hệ thực vật cụ thể (dẫn theo Từ Minh
Tiệp, 2000)[46].
Tolmachev.I [73] cho rằng chỉ cần điều tra trên một diện tích đủ lớn để có
thể bao trùm được sự phong phú của nơi sống, nhưng không có sự phân hóa về
mặt địa lý, ông gọi đó là hệ thực vật cụ thể, ông đã đưa ra nhận định là số loài
của một hệ thực vật cụ thể ở vùng nhiệt đới ẩm thường là 1500-2000 loài.
Cho đến nay, trên thế giới chưa có con số thống kê chính xác tổng số loài
thực vật. Một số nhà thực vật học dự đoán số loài thực vật bậc cao hiện có trên
thế giới vào khoảng 500.000 – 600.000 loài. Al. A. Phêđôrốp (1965) dự đoán thế
giới có khoảng: 300.000 loài thực vật hạt kín; 5.000 – 7.000 loài thực vật hạt trần;
6.000 – 10.000 loài quyết thực vật; 14.000 – 18.000 loài rêu; 19.000 – 40.000 loài
tảo; 15.000 – 20.000 loài địa y; 85.000 – 100.000 loài nấm và các loài thực vật bậc
thấp khác. Đối với từng châu lục, G. N. Slucop (1962) đưa ra số lượng các loài thực
vật hạt kín phân bố ở các châu lục như sau (dẫn theo Đào Ngọc Tú, 2010) [59].
- Châu Mỹ có khoảng 97.000 loài trong đó: Hoa Kỳ + Canada: 25.000 loài;
Mehico + Trung Mỹ: 17.000 loài; Nam Mỹ: 56.000 loài; Đất lửa + Nam
cực: 1.000 loài.
- Châu Âu có khoảng 15.000 loài trong đó: Trung và Bắc Âu: 5.000 loài;
Nam Âu, vùng Ban căng và Capcasơ: 10.000 loài.
- Châu Phi có khoảng 40.500 loài trong đó: các vùng nhiệt đới ẩm: 15.500

Ngành Rêu
15.000
0,90
Lycopodiophyta
Ngành Thông đất
1.275
0,07
Polypodiophyta
Ngành Dương xỉ
9.500
0,50
Pinophyta
Ngành Thông
601
0,03
Magnoliophyta
Ngành Ngọc lan
233.885
13,40
(Nguồn: Giáo trình đa dạng sinh học, Đại học Huế, 2007)
1.3.1.2. Nghiên cứu về yếu tố địa lý cấu thành hệ thực vật
Các yếu tố cấu thành nên một hệ thực vật nào đó không chỉ khác nhau về
thành phần phân loại mà còn khác nhau về sự phân bố địa lý, nguồn gốc địa lý và
cả thời kỳ địa chất [47].
Phân tích các yếu tố địa lý thực vật là một trong những yếu tố quan trọng
khi nghiên cứu một hệ thực vật hay bất kỳ một khu hệ sinh vật nào để hiểu bản
chất cấu thành của nó làm cơ sở cho việc định hướng bảo tồn và dẫn giống vật
nuôi, cây trồng,… Phân tích các loài thành các nhóm căn cứ vào sự giống nhau ít

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

10
1.3.1.4. Những nghiên cứu tính đa dạng về dạng sống
Dạng sống là một đặc tính biểu hiện sự thích nghi của thực vật với điều
kiện môi trường. Vì vậy, việc nghiên cứu dạng sống sẽ cho thấy mối quan hệ
chặt chẽ của các dạng sống với điều kiện tự nhiên của từng vùng và biểu hiện sự
tác động của điều kiện sinh thái đối với loài thực vật.
Bảng phân loại dạng sống cây thuộc thảo đã được lập ra lần đầu tiên bởi
Canon (1911). Với cây thảo, đặc điểm phần dưới đất đóng vai trò rất quan trọng
trong phân chia dạng sống, nó biểu thị mức độ khắc nghiệt khác nhau của môi
trường sống, là phần sống lâu năm của cây. Vì thế việc sử dụng phần dưới đất để
làm tiêu chuẩn phân chia dạng sống sẽ giúp cho ta đánh giá đúng hơn kiểu thảm,
những đặc điểm đặc trưng của môi trường [16].
I. K. Patsoxki (1915) chia thảm thực vật thành 6 nhóm: thực vật thường
xanh; thực vật rụng lá vào thời kỳ bất lợi trong năm; thực vật tàn lụi phần trên
mặt đất trong thời kỳ bất lợi; thực vật tàn lụi vào thời kỳ bất lợi; thực vật có thời
kỳ sinh trưởng và phát triển ngắn; thực vật có thời kỳ sinh trưởng và phát triển
lâu năm. G. N. Vưxôxki (1915) chia thực vật thảo nguyên làm 2 lớp: lớp cây
nhiều năm và lớp cây hàng năm [43].
Raunkiaer (1934) [72] chọn vị trí của chồi nằm ở đâu trên mặt đất trong
suốt thời gian bất lợi trong năm để phân chia dạng sống thực vật. Theo đó có 5
nhóm dạng sống cơ bản như sau:
(1) Phanerophytes (Ph): nhóm cây có chồi trên mặt đất
a) Cây gỗ lớn cao trên 30m (Mg)
b) Cây lớn có chồi trên đất cao 8 – 30m (Me)
c) Cây nhỏ có chồi trên đất 2 - 8m (Mi)
d) Cây nhỏ có chồi trên đất lùn dưới 2m (Na)
e) Cây có chồi trên đất leo quốn (Lp)
f) Cây có chồi trên đất sống nhờ và sống bám (Ep)

Như vậy, khi nghiên cứu hệ thực vật ở một khu vực cụ thể, các tác giả đều
phân chia và sắp xếp các loài thực vật thành các nhóm dạng sống tùy theo tiêu
chí của từng tác giả. Trong số đó thì hệ thống phân của Raunkiaer vừa đảm bảo
tính khoa học vừa dễ áp dụng vì nó dựa trên những đặc điểm cơ bản của thực vật,
nghĩa là dựa trên đặc điểm cấu tạo, phương thức sống của thực vật, đó là kết quả
tác động tổng hợp của các yếu tố môi trường tạo nên.
1.3.1.5. Những nghiên cứu về tính đa dạng thảm thực vật
Thảm thực vật là khái niệm rất quen thuộc, có nhiều nhà khoa học trong và
ngoài nước đưa ra các định nghĩa khác nhau. Thái Văn Trừng (1978) [57] cho
rằng thảm thực vật là các quần hệ thực vật phủ trên mặt đất như một tấm thảm
xanh. Trần Đình Lý (1998) [39] cho rằng thảm thực vật là toàn bộ lớp phủ thực
vật ở một vùng cụ thể hay toàn bộ lớp phủ thảm thực vật trên toàn bộ bề mặt trái
đất. Thảm thực vật là một khái niệm chung chưa chỉ rõ đối tượng cụ thể nào. Nó

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

12
chỉ có ý nghĩa và giá trị cụ thể khi có định nghĩa kèm theo như: thảm thực vật
cây bụi, thảm thực vật rừng ngập mặn…
H.G. Champion (1936) [67] khi nghiên cứu các kiểu rừng Ấn Độ - Miến
Điện đã phân chia 4 kiểu thảm thực vật lớn theo nhiệt độ đó là: nhiệt đới, á nhiệt
đới, ôn đới và núi cao.
Maurand (1943) L. [72] nghiên cứu về thảm thực vật Đông Dương đã chia
thảm thực vật Đông Dương thành 3 vùng: Bắc Đông Dương, Nam Đông Dương và
vùng trung gian. Đồng thời ông đã liệt kê 8 kiểu quần lạc trong các vùng đó.
* Những nghiên cứu thảm thực vật trên núi đá vôi
Để góp phần xây dựng những nguyên lý và đề cập đến nhiều biện pháp kỹ
thuật về kinh doanh rừng mưa nhiệt đới đã có nhiều tác giả nước ngoài như:
Richard P. W. (1952), Catinot (1965), G. Baur (1970), Lampard (1989) chỉ ra
rằng rừng nhiệt đới rất đa dạng phong phú về thành phần loài. Sự đa dạng trong

Đồng thời cho biết hệ thực vật nước ta gồm các yếu tố của hệ thực vật Indonesia
– Malaisia, Nam Trung Hoa, Ấn Độ - Trung và Nam Tiểu Á.
Nguyễn Tiến Bân (1997) [4] trong cuốn “Cẩm nang tra cứu và nhận biết các
họ thực vật hạt kín ở Việt Nam” đã mô tả khóa phân loại của 265 họ và khoảng
2.300 chi.
Trong cuốn "Danh lục các loài thực vật Việt Nam" [6] các nhà nghiên cứu
đã đưa ra số liệu thống kê hệ thực vật Việt Nam gồm 368 loài vi khuẩn lam (Tiền nhân -
Procaryota ), 2.200 loài nấm (Fungi), 2.176 loài tảo (Algae), 841 loài rêu (Bryophyta), 1
loài khuyết lá thông (Psilotophyta), 53 loài thông đất (Lycopodiophyta), 2 loài cỏ Tháp
bút (Equisetophyta), 691 loài dương xỉ (Polipodiophyta), 69 loài hạt trần
(Gymnospermae), và khoảng 10.000 loài (trên 850 taxon dưới loài-phân loài, thứ,
dạng, ) hạt kín (Angiospermae), đưa tổng số loài thực vật Việt Nam lên gần
20.000 loài. Cho đến nay, đây là danh lục thực vật đầy đủ nhất ở Việt Nam đã
được cập nhật tên khoa học, tên đồng nghĩa cũng như phân bố của chúng ở Việt
Nam và trên Thế giới.
Ngoài những công trình trên, còn có nhiều công trình nghiên cứu về hệ
thực vật ở các vùng, khu vực hay các trong cả nước: Phan Kế Lộc (1978)
[35]; Nguyễn Tiến Bân và cộng sự (1983) [3]; Lê Mộng Chân (1994) [11];
Đỗ Tất Lợi (1995) [37]; Nguyễn Nghĩa Thìn (1997, 1998) [47, 48]

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

14
Để phục vụ công tác khai thác tài nguyên Viện Điều tra Quy hoạch Rừng đã
công bố 7 tập Cây gỗ rừng Việt Nam (1971 - 1988) [61]. Trần Đình Lý và cộng
sự (1993) công bố 1.900 cây có ích ở Việt Nam; Võ Văn Chi (1997) công bố từ
điển cây thuốc Việt Nam; Viện Dược liệu (2004) cho ra cuốn cây thuốc và động
vật làm thuốc,
Trong vài thập kỷ vừa qua, các nhà khoa học đã bổ sung thêm nhiều loài
mới vào danh sách các loài của Việt Nam, trong đó có một số loài mới cho khoa

25,69%

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

15
Từ các vùng nhiệt đới khác
7,36%
+ Nhân tố khác
4,83%
Ôn đới
3,27%
Thế giới
1,56%
+ Nhân tố nhập nội, trồng trọt
3,08%
Tổng:
100%
Thái Văn Trừng (1978) cho rằng ở Việt Nam có 3% số chi và 27,5% số loài
đặc hữu. Nhưng khi thảo luận tác giả đã gộp các nhân tố di cư từ Nam Trung Hoa
và nhân tố đặc hữu bản địa Việt Nam làm một và căn cứ vào khu phân bố hiện
tại, nguồn gốc phát sinh của loài đó đã nâng tỷ lệ các loài đặc hữu bản địa lên
50% (Tương tự 45,7% theo Gagnepain và 52,79% theo Pócs Tamás), còn yếu tố
di cư chỉ chiếm tỷ lệ 39,0% (trong đó từ Malaysia – Indonesia là 15%, từ
Hymalaya – Vân Nam – Qúi Châu là 10% và từ Ấn Độ - Miến Điện là 14%), các
nhân tố khác theo tác giả chỉ chiếm 11% (7% nhiệt đới, 3% ôn đới và 1% thế
giới), nhân tố nhập nội vấn là 3,08%.
Nguyễn Nghĩa Thìn (1999) căn cứ vào các khung phân loại của Pócs Tamás
(1965) [73] Ngô Chính Dật (1993) [50] đã xây dựng thang phân loại các yếu tố
địa lý thực vật cho hệ thực vật Việt Nam và áp dụng vào cho việc sắp xếp các chi
thực vật Việt Nam vào các yếu tố địa lý như sau:

Nguyễn Đức Ngắn (2004), đưa ra nhận xét cho rằng hệ thực vật của Vườn
quốc gia Núi Chúa có quan hệ thân thuộc với khu hệ thực vật Malaixia -
Indonexia, khu hệ thực vật Ấn Độ - Miến Điện, khu hệ thực vật á nhiệt đới và ôn
đới vùng Himalaya - Vân Nam - Quý Châu (Trung Quốc), khu hệ thực vật Bắc
Việt Nam - Nam Trung Quốc [41].
Từ Minh Tiệp (2000), khi nghiên cứu về hệ thực vật Vườn quốc gia Ba Bể
cho thấy hệ thực vật Vườn quốc gia Ba Bể có yếu tố Nhiệt đới châu Á chiếm tỷ
lệ lớn nhất (61,62%), tiếp đến là yếu tố đặc hữu Việt Nam (chiếm 21,04%), yếu
tố nhiệt đới châu Á - châu Úc và yếu tố chưa xác định mỗi yếu tố đều chiếm
2,79%, yếu tố cây trồng chiếm 2,42%, tiếp theo là yếu tố liên nhiệt đới (1,60%),
còn lại các yếu tố khác không vượt quá 1% [46].
Nguyễn Gia Lâm (2003), cho rằng hệ thực vật Bình Định gồm những loài
có nguồn gốc phát sinh từ phía Bắc như Họ Dẻ, họ De, họ Chè, họ Ngọc lan;
những loài có nguồn gốc từ phía Nam lên gồm các loài thuộc họ Dầu, họ Tử vi,
họ Gạo, họ Bứa [32].

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

17
Ngô Tiến Dũng và cộng sự (2002), đã nghiên cứu yếu tố địa lý thực vật của
hệ thực vật ở Vườn quốc gia YokĐôn. Kết quả cho thấy Yếu tố toàn cầu (6 loài),
Yếu tố liên nhiệt đới (20 loài), Yếu tố nhiệt đới châu Á - Châu Mỹ (6 loài), Yếu
tố cổ nhiệt đới (5 loài), Yếu tố nhiệt đới châu Á - châu Úc (20 loài), Yếu tố nhiệt
đới châu Á - châu Phi (9 loài), Yếu tố nhiệt đới châu Á (79 loài); Yếu tố Đông
Nam Á (36 loài); Yếu tố nhiệt đới lục địa châu Á (52 loài); Lục địa Đông Nam Á
(63 loài); Yếu tố bán đảo Đông Dương và Nam Trung Quốc (71 loài); Yếu tố
Đông Dương (41 loài); Yếu tố ôn đới Bắc (không có loài nào); Yếu tố Đông Á -
Bắc Mỹ (2 loài); Yếu tố ôn đới cổ thế giới (không có loài nào); Yếu tố ôn đới Địa
Trung Hải - Châu Âu và châu Á (không có loài nào); Yếu tố Đông Á (12 loài);
Yếu tố đặc hữu Việt Nam (27 loài) chiếm 4,77% tổng số loài trong hệ; Yếu tố


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status