LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận án này, tôi đã nhận được sự hướng dẫn tận tình của thầy
hướng dẫn là TS. Hà Quý Quỳnh. Tôi cũng đã nhận được sự động viên và giúp đỡ
tận tình của TS. Hoàng Ngọc Khắc, Khoa Môi trường, đồng thời đã có được sự giúp
đỡ qúy báu từ các nhà khoa học, cán bộ của Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật,
tôi xin chân thành cảm ơn các thầy, các bạn đồng nghiệp về sự giúp đỡ này.
Tôi xin cảm ơn Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật, đề tài cấp Nhà nước
Nghiên cứu xây dựng hệ thống thông tin quản lý, giám sát tài nguyên ở vườn quốc
gia và một số khu bảo tồn thiên nhiên khu vực Tây Bắc bằng công nghệ viễn thám
và GIS có sử dụng ảnh VNREDSat-1. Mã số VT/UD-01/14-15, do TS. Hà Quý
Quỳnh làm chủ nghiệm, đã cho tôi sử dụng số liệu của đề tài.
Tôi xin gửi lời cảm ơn đến các cán bộ UBND Thành xã Tà Xùa, Suối Tọ,
Mường Thải, Háng Đồng,... bà con nhân dân về các thông tin và sự hỗ trợ trong thời
gian thực hiện đề tài đồ án.
Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn đến những người thân trong gia đình, bố, mẹ
và các em đã động viên và tạo tất cả các điều kiện thuận lợi để tôi hoàn thành bản
luận án này.
CÁC TỪ VIẾT TẮT, KÝ HIỆU
BIP
BTTN
CXS
CBD
ĐDSH
DLST
ĐTQHR
GIS
HST
HTTĐL
Uỷ ban nhân dân
Vườn Quốc gia
KBTTN
Khu bảo tồn thiên nhiên
MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN
CÁC TỪ VIẾT TẮT, KÝ HIỆU..................................................................................ii
DANH MỤC CÁC BẢNG...........................................................................................v
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ, CÁC HÌNH...............................................................vi
MỞ ĐẦU......................................................................................................................1
1. Tính cấp thiết của đề tài ........................................................................................1
2. Mục tiêu nghiên cứu ..............................................................................................2
3. Nội dung nghiên cứu ..............................................................................................2
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.........................................................................2
5. Phương pháp nghiên cứu.......................................................................................3
6. Ý nghĩa của đề tài....................................................................................................3
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU VÀ CƠ SỞ KHOA HỌC............................4
1.1. Cơ sở sinh thái học...............................................................................................4
1.2. Khái niệm về rừng...............................................................................................5
1.3. Đa dạng sinh học..................................................................................................5
1.4. Vườn Quốc gia và Khu bảo tồn thiên nhiên......................................................7
1.5. Viễn thám và Hệ thông tin địa lý .......................................................................7
CHƯƠNG 2: ĐẶC ĐIỂM KHU BẢO TỒN THIÊN NHIÊN TÀ XÙA – SƠN LA10
3.3. Đánh giá các các thông tin Đa dạng sinh học KBTTN Tà Xùa.....................52
KẾT LUẬN.................................................................................................................56
KiẾn NGHỊ.................................................................................................................56
DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 10: Cấu trúc thành phần loài thú ở khu vực nghiên cứu[17]............................31
Cơ sở dữ liệu GIS về tài nguyên sinh vật Khu bảo tồn thiên nhiên Tà Xùa.............46
TÀI LIỆU THAM KHẢO..........................................................................................57
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ, CÁC HÌNH
Trang
Bảng 10: Cấu trúc thành phần loài thú ở khu vực nghiên cứu[17]............................31
Cơ sở dữ liệu GIS về tài nguyên sinh vật Khu bảo tồn thiên nhiên Tà Xùa.............46
TÀI LIỆU THAM KHẢO..........................................................................................57
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Việt Nam là quốc gia giàu có về Đa dạng sinh học. Đến nay các nhà khoa học
đã xác định được ở Việt Nam có 34 911 loài sinh vật, thực tế con số này lớn hơn, do
nhiều loài sinh vật chưa được phát hiện và nghiên cứu...
Lịch sử phát triển Khu bảo tồn và VQG của Việt Nam gồm: năm 1962, Chính
phủ ra quyết định thành lập khu rừng cấm Cúc Phương (Khu bảo vệ đầu tiên sau trở
thành Vườn quốc gia đầu tiên của Việt Nam). Sau đó đến 24/1/1977 Thủ tướng
cụ nhận diện, phân tích đánh giá còn rất hạn chế.
Xuất phát từ lý do trên, sinh viên lựa chọn đề tài : “ Bước đầu nghiên cứu cơ
sở khoa học góp phần quản lý tài nguyên sinh vật khu bảo tồn thiên nhiên Tà Xùa,
tỉnh Sơn La”.
2. Mục tiêu nghiên cứu
Bước đầu xây dựng được cơ sở khoa học, bộ thông tin để quản lý đánh giá tài
nguyên sinh vật bằng công nghệ Viễn thám và GIS, phục vụ công tác quản lý tài
nguyên sinh vật ở Khu bảo tồn thiên nhiên Tà Xùa, Sơn La.
3. Nội dung nghiên cứu
Để thực hiện mục tiêu trên, luận văn cần thực hiện các nội dung sau:
Điều tra thu thập dữ liệu: ảnh vệ tinh, bản đồ số, thông tin về điều kiện tự
nhiên, kinh tế - xã hội tại khu bảo tồn thiên nhiên Tà Xùa.
Điều tra thu thập dữ liệu các về tài nguyên sinh vật của KBTTN Tà Xùa.
Xây dựng bộ thông tin để quản lý giám sát tài nguyên sinh vật có giá trị của
KBTTN Tà Xùa.
Đánh giá phân bố, biến động tài nguyên sinh vật KBTTN Tà Xùa bằng công
nghệ GIS.
Bước đầu định hướng ứng dụng kết quả phân nghiên cứu trong quản lý giám
sát tài nguyên sinh vật phục vụ quản lý KBTTN Tà Xùa, Sơn La
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu
Tài nguyên sinh vật ở KBTTN Tà Xùa
Các thông tin quản lý, phân tích tài nguyên sinh vật
Công cụ GIS và các thông tin về tài nguyên sinh vật của KBTTN
Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi về nội dung: Đề tài tập trung vào nội dung xây dựng, bộ thông tin
khoa học phục vụ quản lý tài nguyên sinh vật ở KBTTN
2
những hành vi tác động tới Khu bảo tồn thiên nhiên.
3
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU VÀ CƠ SỞ KHOA HỌC
1.1. Cơ sở sinh thái học
Khái niệm sinh thái học (Ecology) xuất hiện từ giữa thế kỷ thứ XIX. Định
nghĩa đầu tiên về Sinh thái học được nhà khoa học người Đức, tên là Haeckel E viết
năm 1866, sau này cũng có nhiều công trình viết về Sinh thái học, phần lớn đều cho
rằng Sinh thái học là môn học nghiên cứu tất cả mối quan hệ tương tác phức tạp mà
Dacuyn gọi là các điều kiện sống xuất hiện trong cuộc đấu tranh sinh tồn.
Sinh thái học là khoa học tổng hợp của sinh quyển nó nghiên cứu các điều
kiện sinh tồn và phát triển của sinh vật, các điều kiện giới hạn vật lý, hoá học, sinh
học, các mối quan hệ tác động lẫn nhau giữa sinh vật với môi trường và giữa sinh
vật với nhau, các mối quan hệ đó ảnh hưởng đến sự tồn tại, thích nghi, sinh trưởng
và phát triển của sinh vật, Sinh thái học chỉ ra phương hướng và biện pháp sử dụng
hợp lý các nguồn dự trữ thiên nhiên của sinh vật nhằm không ngừng bảo vệ cải
thiện sự phát triển tài nguyên thiên nhiên và nhân tạo của sinh quyển, tất cả điều đó
nhằm đưa lại năng suất cao, chất lượng và hiệu quả tốt của cá thể, quần thể, quần
xã, hệ sinh thái và sinh quyển.
Tài nguyên sinh vật gồm có các quần thể sống (thực vật, động vật, vi sinh vật),
với các mối quan hệ dinh dưỡng và vị trí của chúng;
Ở quy mô lớn, đặc trưng của hệ sinh thái phụ thuộc vào khí hậu của vùng đó
và khí hậu thay đổi theo độ cao, địa hình, ảnh hưởng của biển. Ở phạm vi nhỏ hơn
độ cao, độ dốc, hướng sườn, đá mẹ... là nguyên nhân của chế độ nhiệt và độ ẩm của
hệ sinh thái. Trong một vùng địa lý, địa hình quy định vi khí hậu và chế độ dòng
chảy tại khu vực và ảnh hưởng trực tiếp tới thảm thực vật. Đất hình thành từ đá mẹ
trên mặt phủ của địa mạo. Vì vậy, địa mạo thường thể hiện đặc trưng qua bản chất
của đất và thảm thực vật. Tính chất vật lý, hoá học và hoạt động của vi sinh vật
0,1 cũng có thể gọi là rừng. Nhưng nhiều nhà khoa học đã không tán đồng. Vì rằng
độ tàn che của cây gỗ cao từ 5m trở lên chưa đạt 0,3 thì chưa có khả năng chi phối
quá trình sinh trưởng phát triển và các mối quan hệ tương hỗ khác trong thảm thực
vật và chưa có thể tạo ra môi trường rừng.[31]
Nói một cách tóm tắt, rừng là một hệ sinh thái mà cây gỗ (hay tre, nứa) là yếu
tố chủ đạo. Cây gỗ phải có chiều cao từ 5 m trở lên và độ tàn che của chúng (k) đạt
từ 0,3 đối với tre nứa phải có độ tàn che >50%.
1.3. Đa dạng sinh học.
Hiện nay, có rất nhiều định nghĩa về đa dạng sinh học. Định nghĩa do Quỹ
Bảo vệ Thiên nhiên Quốc tế - WWF) (1989) quan niệm: “Đa dạng sinh học là sự
5
phồn thịnh của sự sống trên trái đất, là hàng triệu loài thực vật, động vật và vi sinh
vật, là những gen chứa đựng trong các loài và là những Hệ sinh thái vô cùng phức
tạp cùng tồn tại trong môi trường”.[1] Do vậy, ĐDSH bao gồm 3 cấp độ: đa dạng
gen, đa dạng loài và đa dạng HST. Đa dạng loài bao gồm toàn bộ các loài sinh vật
sống trên trái đất, từ vi khuẩn đến các loài động, thực vật và các loài nấm. Ở mức độ
vi mô hơn, đa dạng sinh học bao gồm cả sự khác biệt về gen giữa các loài, khác biệt
về gen giữa các quần thể sống cách ly về địa lý cũng như sự khác biệt giữa các cá
thể cùng chung sống trong một quần thể. đa dạng sinh học còn bao gồm cả sự khác
biệt giữa các quần xã mà trong đó các loài sinh sống, các HST nơi mà các loài cũng
như các quần xã sinh vật tồn tại và cả sự khác biệt của các mối tương tác giữa
chúng với nhau.
Theo Công ước ĐDSH, thì ĐDSH là sự phong phú của mọi cơ thể sống có từ
tất cả các nguồn trong các HST trên cạn, ở biển và các HST dưới nước khác, và mọi
tổ hợp sinh thái mà chúng tạo nên; ĐDSH bao gồm sự đa dạng trong loài (đa dạng
di truyền hay còn gọi là đa dạng gen), giữa các loài (đa dạng loài), và các HST (đa
dạng HST).
Hiểu theo nghĩa rộng để bảo tồn những loài sinh vật trước hết cần bảo tồn
những cảnh quan mà sinh vật đó tồn tại, cụ thể hơn là cần nắm rõ mối tương tác
giữa các yếu tố cấu thành lãnh thổ, từ đó sẽ có những tác động vào từng yếu tố sao
cho những tác động đó giữ nguyên được môi trường sống tự nhiên của loài mà lại
cân bằng với sự phát triển của xã hội.
Cơ sở khoa học đánh giá và quản lý khu bảo tồn thiên nhiên
Đánh giá dựa vào:
Diện tích
Kiểu hệ sinh thái
Tổng số loài động vật
Tổng số loài thực vật
Tỉ lệ kiểu rừng giàu, rừng trung bình, rừng nghèo
1.5. Viễn thám và Hệ thông tin địa lý
Viễn thám là phương pháp sử dụng bức xạ điện từ (ánh sáng nhiệt, sóng cực
ngắn) như một phương tiện để điều tra, đo đạc những đặc tính của đối tượng. Mỗi
đối tượng trên trái đất sẽ có một đặc trưng riêng về bức xạ, phản xạ hay hấp thụ các
tia sóng điện từ. Các đặc trưng này được ghi chụp và thể hiện dưới dạng ảnh (ảnh
vệ tinh, ảnh máy bay, ảnh số, ảnh giấy,...). Từ nguồn dữ liệu này, các chuyên gia có
7
thể phân loại, chỉ ra các đối tượng khác nhau dựa vào đặc trưng nêu trên kết hợp với
quan hệ không gian giữa các đối tượng khác nhau. Đây chính là quá trình giải đoán
ảnh Viễn thám bằng mắt của các chuyên gia. Cách thứ hai là giải đoán tự động bằng
các phần mềm máy tính chuyên dụng.
Điều kiện cơ bản để một người có thể giải đoán được một đối tượng bằng mắt
từ ảnh là: Họ cần phải nắm vững các đặc điểm về bức xạ của đối tượng thể hiện trên
các loại tư liệu ảnh khác nhau. Có thể sử dụng các dấu hiệu cơ bản như các yếu tố
ảnh (tôn ảnh, cấu trúc, kiểu mẫu, hình dạng, kích thước, bóng, vị trí, màu sắc của
Như vậy, có thể hiểu một cách khái quát về GIS như sau: Hệ thống thông tin
địa lý là tập hợp có tổ chức của phần cứng, phần mềm máy tính, dữ liệu địa lý và
các thủ tục của người sử dụng nhằm trợ giúp việc thu nhận, lưu giữ, quản lý, xử lý,
phân tích, hiện thị các thông tin không gian để giải quyết các vấn đề tổng hợp thông
tin theo mục tiêu.
Sử dụng phần mềm GIS là ArcGis 9x để kết xuất dữ liệu, chồng xếp các lớp
bản đồ để biên tập thành bản đồ hiện trạng lớp phủ thực vật tại mỗi thời điểm và
bản đồ biến động lớp phủ thực vật khu vực nghiên cứu ở mỗi giai đoạn.
Tiến hành chồng xếp các thời kỳ và đưa ra bảng thống kê biến động diện tích
của từng đối tượng theo từng thời kỳ. Các số liệu được chuyển sang phần mềm
thống kê EXCEL để xử lí, tính toán, trình bày thành các bảng hiện trạng lớp phủ
của các đối tượng và kết quả diễn biến diện tích lớp phủ qua các năm.
9
CHƯƠNG 2: ĐẶC ĐIỂM KHU BẢO TỒN THIÊN NHIÊN TÀ XÙA –
SƠN LA
Theo quyết định số 3440/2002/QĐ-UB ngày 11/11/2002 của UBND tỉnh Sơn
La về việc thành lập 4 Ban quản lý Khu bảo tồn thiên nhiên trực thuộc Chi cục
Kiểm lâm Sơn La. Khu bảo tồn thiên nhiên Tà Xùa được UBND tỉnh Sơn La thành
lập năm 2003 với tổng diện tích là 17.650 ha. Trong đó, diện tích các phân khu như
sau:[11]
Phân khu bảo vệ nghiêm ngặt:
15.211 ha;
Phân khu phục hồi sinh thái:
2.439 ha;
Phía nam giáp với xã Làng Chếu và Phiêng Ban (huyện Bắc Yên), xã Gia Phù,
Huy Thượng, Quang Huy, Huy Bắc, Suối Bau (huyện Phù Yên) của tỉnh Sơn La
Phía tây giáp với xã Làng Chếu, Xím Vàng của huyện Bắc Yên.
2.1.2. Địa hình
Khu bảo tồn nằm ở sườn Đông Nam của dãy Hoàng Liên Sơn, địa hình cao
dốc, mức độ chia cắt mạnh, có nhiều đỉnh cao trên 2.000m dọc theo dãy Phu Sa
Phin, cao nhất là đỉnh Phu Chiêm Sơn có độ cao 2.765 m. Thấp nhất là khu vực
cánh đồng lúa Mường Thải, có độ cao là 320m: Địa hình nghiêng dần từ Tây Bắc
xuống Đông Nam. Độ dốc trung bình 300, nhiều nơi độ dốc trên 400.[11]
Về mặt địa mạo, dựa trên các chỉ tiêu trắc lượng hình thái của địa hình, khu
bảo tồn thiên Tà Xùa được phân chia thành các kiểu địa hình sau:
Kiểu bề san bằng
Chiếm phần bề mặt phân thuỷ của các khối và nhánh núi với đặc điểm chung
là các bề mặt hẹp, kéo dài không liên tục, có độ dốc nhỏ
Máng trũng xâm thực là phần đáy trũng thấp của các dòng chảy phần thượng
lưu. Đặc điểm chính của kiểu địa hình là trắc diện ngang dạng chữ V hẹp, trắc diện
dọc tương đối thẳng và thường cắt vào đá gốc.
12
Máng trũng xâm thực tích tụ có trắc diện ngang vẫn giữ dạng chữ V nhưng mở
rộng hơn. Trắc diện dọc có tính phân bậc, xen kẽ giữa những đoạn tương đối thẳng
cắt vào đá gốc là những ổ tích tụ với vật liệu cuội, sỏi, cát.
Kiểu địa hình karst
Độ dốc lớn (thường trên 35o), lớp phủ thổ nhưỡng mỏng, nhiều nơi trơ đá gốc.
Kiểu địa hình này đặc trưng cho các hệ sinh thái núi đá vôi.
2.1.3. Thổ nhưỡng
Nền vật chất trong khu vực hầu hết là các sản phẩm trầm tích lục nguyên với
các loại đá mẹ chủ yếu là đá trầm tích và biến chất, đá hỗn hợp kiềm và trung tính,
đá vôi,... Khu BTTN Tà Xùa có 8 loại đất, thuộc 4 nhóm đất chính sau:
Nhóm đất mùn alit trên núi cao (A): diện tích 3778,0 ha (chiếm 21,4% tổng
diện tích tự nhiên của khu BTTN) [11]. Phân bố tập trung ở khu vực đỉnh núi Phu
Chiêm Sơn, núi Háng Đồng. Tầng mặt chủ yếu là lớp mùn khô từ xác thực vật phân
hủy. Thành phần cơ giới từ tơi xốp đến thịt nhẹ giàu dinh dưỡng.
Nhóm đất đỏ vàng (F): diện tích 1131 ha (chiếm 6,4%). Đất phát triển trên
nhóm đất trầm tích và biến chất, đá kiềm và trung bình, đá vôi..., phân bố ở độ cao
700 - 1.700m[11]. Phần lớn khu vực này có thực bì che phủ nên tầng mùn dày.
Thành phần cơ giới từ tơi xốp đến thịt nhẹ và thịt trung bình. Tầng đất dày phổ biến
từ 80 - 100cm[11].
Nhóm đất mùn vàng đỏ trên núi (H): diện tích nhiều nhất 12.580 ha (chiếm
71,3%)[11]. Vùng núi thấp phát triển trên nhóm đá trầm tích và biến chất, Thành
phần cơ giới từ thịt nhẹ đến thịt trung bình. Tầng đất dày từ 70 - 110cm, nghèo dinh
dưỡng và dễ bị xói mòn do độ dốc lớn[11].
2.2.1. Dân số, dân tộc và lao động
Theo số liệu thống kê của các địa phương trong KBTTN như sau:
Xã Suối Tọ: Xã có 9 bản với 507 hộ và 3.447 nhân khẩu, mật độ dân số thấp
(24,54 người/km2) [32]. Thành phần dân tộc, chủ yếu là người Mông, địa bàn sinh
sống rải rác trên các triền núi cao, độ dốc lớn. Canh tác chủ yếu là lúa nương và
ngô. Xã Suối Tọ có diện tích rừng tự nhiên lớn, phần lớn thuộc khu BTTN Tà Xùa.
Xã Mường Thải: Toàn xã có 761 hộ với 3.553 khẩu trong đó dân tộc Mông có
3 bản với 823 nhân khẩu (chiếm 23,3 %), dân tộc Dao có 2 bản với 820 nhân khẩu
(chiếm 23,3 %), dân tộc Mường có 3 bản với 1.433 nhân khẩu (chiếm 40,7 %), dân
tộc Kinh có 2 bản với 477 nhân khẩu (chiếm 12,7 %). Xã có 429 hộ nghèo với
2.040 nhân khẩu trong đó hộ nghèo dân tộc thiểu số là 396 hộ. Tổng số lao động
14
của xã là 1.868 người; trong đó lao động nam là 953 người, lao động nữ là 915
người; lao động được đào tạo nghề là 207 người (chiếm 11,08%)[32].
Xã thuộc vùng khó khăn của huyện Phù Yên, có 10 bản và 4 dân tộc sinh sống
là Kinh, Mường, Mông, Dao sống trong Khu bảo tồn thiên nhiên Tà Xùa. Xã được
chia làm 2 vùng, vùng cao gồm 5 bản : Giáp Đất, Khe Lành, Khoai Lang, Suối Tàu,
Suối Quốc và 5 bản vùng thấp (Bản Chiếu, Thải Hạ, Thải Thượng, Văn Yên, Phúc
Yên)[32].
Xã Tà Xùa: Là xã đặc biệt khó khăn của huyện Bắc Yên, cách trung tâm huyện
khoảng 14 km, địa hình phức tạp chủ yếu là đồi, núi. Toàn xã có 380 hộ với 2.691
nhân khẩu, thành phần dân tộc chủ yếu là dân tộc Mông[32]. Xã Tà Xùa có điều
kiện giao thông giữa các bản đến nay đã tương đối thuận lợi. Hiện nay xã đang
được đầu tư để tăng cường cơ sở vật chất và nâng cao đời sống nhân dân.
Xã Háng Đồng: Háng Đồng là xã vùng cao của huyện Bắc Yên, xã có 6 bản,
có với dân số 2.265 khẩu với 100% là đồng bào dân tộc Mông, trong đó số hộ
nghèo là 232 hộ. Tổng diện tích tự nhiên của xã là 9.158 ha[32]. Nhân dân chủ yếu
Tọ
Thải
Xùa
Đồng
Tổng
507
761
380
232
1.880
3.447
3.553
2.691
2.265
11.956
trồng lúa nương và ngô. Dân tộc Mường, Thái sinh sống và canh tác ở dưới thấp
hơn, chủ yếu trồng lúa nước và ngô. Dân tộc Kinh chủ yếu là đi làm kinh tế mới nên
tập trung hầu hết ở trung tâm các xã[32]. Do địa hình đồi núi nên di chuyển giữa
các xã trong khu bảo tồn còn gặp nhiều khó khăn, các hoạt động giao lưu văn hóa văn nghệ giữa các xã ít diễn ra. Lao động chủ yếu là lao động không được đào tạo
nên chất lượng rất thấp, các thủ tục lạc hậu không phổ biến nhưng vẫn diễn ra. Tỷ lệ
hộ nghèo vẫn cao. Nhìn chung tình hình dân số của các xã trong khu bảo tồn đã có
những thay đổi đáng kể tỷ lệ gia tăng dân số tự nhiên giảm dần theo từng năm, đời
sống nhân dân dần được cải thiện nhờ các chương trình hỗ trợ của nhà nước, các
chương trình xóa đói giảm nghèo.
2.2.2. Hiện trạng sản xuất nông, lâm nghiệp
Sản xuất nông nghiệp
Do địa hình có nhiều núi cao, độ dốc lớn, nên diện tích dành cho sản xuất
nông nghiệp không nhiều.
Xã Mường Thải có diện tích đất nông nghiệp nhiều nhất sau đó là xã Suối Tọ,
hai xã còn lại là các xã thuộc vùng núi cao nên diện tích đất nông nghiệp ít. Các cây
nông nghiệp chính là ngô, khoai, sắn, lúa nương. Sản xuất nông nghiệp phần lớn để
phục vụ đời sống hàng ngày của người dân trong vùng.
Diện tích trồng màu phụ thuộc vào thời tiết, do vậy sản lượng lương thực
trong vùng không ổn định.
Chăn nuôi đóng vai trò quan trọng thứ 2 sau trồng trọt. Ngoài việc cung cấp
sức kéo, trâu bò còn cung cấp phân bón phục vụ sản xuất.
Trong vùng chăn nuôi dê, trâu, bò gặp nhiều khó khăn do diện tích chăn thả
ngày càng thu hẹp.
Bảng 2 : Kết quả các hoạt động sản xuất nông nghiệ p ở các xã năm 2011[32]
STT
A
1
974,1
9,3
4,6
66,7
1.375,3
719
6,3
34,6
97
16
Tà Xùa
4.496,6
Háng
Đồng
9.158
511
343
87,8
494,58
420,44
23
29,58
Mường
Thải
Tà Xùa
Háng
Đồng
145
Tấn
Tấn
Tấn
1.692,5
537,2
1.155,3
2.350,5
925,5
1.425
973,6
684
289
520
Con
Con
1.200
4.850
Nguồn:UBND các xã Háng Đồng, Tà Xùa, Mường Thải, Suối Tọ
Qua thống kê về tình hình sản xuất nông nghiệp của các xã trong khu BTTN
Tà Xùa (Bảng 2) có thể đánh giá như sau :
Các xã có diện tích tự nhiên lớn song diện tích có thể dùng để sản xuất nông
nghiệp không nhiều như xã Suối Tọ có diện tích lớn nhất nhưng diện tích đất sản
xuất nông nghiệp chỉ chiếm 7,7%, xã Mường Thải là 20%, xã Tà Xùa là 11,4%, xã
Háng Đồng là 5,4%. Qua đó có thể thấy bình quân đất nông nghiệp cho người dân
là 0,29 ha/người. Tuy sản lượng cây trồng tăng do đưa các giống cây có năng suất
vào gieo trồng nhưng tình trạng thiếu lương thực vẫn diễn ra. Đây cũng là nguyên
nhân chính dẫn đến tình trạng người dân vẫn đốt nương làm rẫy do thiếu đất sản
xuất nông nghiệp.
Sản xuất lâm nghiệp
Về quy hoạch 3 loại rừng trên phạm vi các xã thuộc Khu bảo tồn thiên nhiên
khu vực Tà Xùa cơ cấu như sau:
Rừng phòng hộ: diện tích 14.270,6 ha; thuộc hệ thống rừng phòng hộ đầu
nguồn Sông Đà, phân bố hầu hết ở các xã[32].
Rừng đặc dụng: diện tích 11.325,4 ha thuộc xã Tà Xùa và Háng Đồng[32].
Rừng sản xuất: diện tích 10.320,2 ha; phân bố ở cả 4 xã[32].
Trong những năm gần đây, các xã trong khu BTTN Tà Xùa đã tham gia nhận
khoán bảo vệ rừng với diện tích hơn 10.830,4 ha, khoanh nuôi 449 ha, trồng rừng
17
116 ha[32]. Ở xã Mường Thải vẫn còn tình trạng khai thác gỗ để xây dựng nhà, chủ
yếu ở khu vực rừng sản xuất.
y tế xã chưa được xây dựng kiên cố, đang còn là nhà gỗ, lợp mái tôn và đặc biệt
chưa có điện lưới để khám chữa bệnh cho nhân dân.
2.2.5. Giáo dục
Trong khu vực có 4 xã đều có trường và điểm trường mầm non, cấp I và cấp II
với 90% số em trong độ tuổi tới trường. Thiết bị đồ dùng học tập thiếu. Chất lượng
giảng dạy và kiến thức của học sinh chưa cao so với mức bình quân trong vùng.
Hiện tượng bỏ học còn diễn ra khá phổ biến do còn nhiều khó khăn như đường giao
thông đi lại xa xôi, có bản các em phải đi bộ 4-5 km để tới trường học. Những tháng
gia đình làm nương rẫy các em trong gia đình ít lao động phải nghỉ học để phụ giúp
gia đình. Hầu hết học sinh ở các xã trong khu BTTN chỉ học hết cấp 1, 2 còn số học
sinh theo học lên cấp 3 và cao hơn ít[32]:
Bảng 3 : Thống kê trường học, học sinh, giáo viên của các xã trong khu BTTN[32]
Xã
Trường
mầm
non
Trường
cấp I và
II
Mường Thải
1
2
572
54
87
73
2
100
520
20
10
65
1
2
172
462
76