Nghiên cứu một số giải pháp bảo tồn đa dạng sinh học có sự tham gia của cộng đồng ở Khu bảo tồn thiên nhiên Tà Đùng, tỉnh Đăk Nông - Pdf 24


LÊ QUANG DẦN
- LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP
- ĐỒNG NAI, 2013BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆPVÀ
PTNT
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP
LÊ QUANG DẦN
NGHIÊN CỨU MỘT SỐ GIẢI PHÁP BẢO TỒN ĐA
DẠNG SINH HỌC CÓ SỰ THAM GIA CỦA CỘNG
ĐỒNG Ở KHU BẢO TỒN THIÊN NHIÊN TÀ
ĐÙNG, TỈNH ĐĂK NÔNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
LÂM NGHIỆP

Đồng Nai, 2013

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP

LÊ QUANG DẦN

NGHIÊN CỨU MỘT SỐ GIẢI PHÁP BẢO TỒN ĐA DẠNG

Người cam đoan Lê Quang Dần
ii
LỜI CẢM ƠN
Sau thời gian tham gia chương trình đào tạo Cao học Lâm nghiệp, chuyên
ngành Lâm học, khoá học 2010 - 2013 tại cơ sở 2 - trường Đại học Lâm nghiệp, tác
giả đã được Nhà trường cho tiến hành thực tập tốt nghiệp với đề tài "Nghiên cứu
một số giải pháp bảo tồn đa dạng sinh học có sự tham gia của cộng đồng ở Khu
bảo tồn thiên nhiên Tà Đùng, tỉnh Đăk Nông".
Qua 6 tháng thực hiện, với sự giúp đỡ của tập thể công chức, viên chức Khu
BTTN Tà Đùng và các ban ngành, địa phương vùng đệm cùng với sự nỗ lực cố
gắng của bản thân, tác giả đã hoàn thành đề tài nói trên.
Là thành quả của một khóa học, vì thế qua đây tác giả xin được bày tỏ lòng

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU vii
DANH MỤC HÌNH viii
ĐT VN Đ 1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VN Đ NGHIÊN CỨU 4
1.1. Các nghiên cứu liên quan trên thế giới 4
1.1.1. Nghiên cứu về bảo tồn đa dạng sinh học 4
1.1.2. Nghiên cứu về quản lý tài nguyên rừng có sự tham gia của cộng
đồng 6
1.2. Những nghiên cứu có liên quan ở Việt Nam 12
1.2.1. Nghiên cứu về bảo tồn đa dạng sinh học 12
1.2.2. Nghiên cứu về quản lý tài nguyên rừng có sự tham gia của cộng
đồng 13
1.3. Nhận xét và đánh giá chung 18
CHƯƠNG 2: MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG VÀ
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 21
2.1. Mục tiêu đề tài 21
2.1.1. Mục tiêu tổng quát 21
2.1.2. Mục tiêu cụ thể 21
2.2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 21
2.3. Nội dung nghiên cứu 21
2.4. Phương pháp nghiên cứu 22 iv
2.4.1. Quan điểm và cách tiếp cận của đề tài 22
2.4.2. Phương pháp thu thập và phân tích dữ liệu 24
CHƯƠNG 3: ĐIU KIỆN TỰ NHIÊN, XÃ HỘI KHU VỰC NGHIÊN CỨU 33
3.1. Đặc điểm tự nhiên 33
3.1.1. Vị trí địa lý, ranh giới, diện tích Khu bảo tồn 33
3.1.2. Địa hình, địa thế 33

dạng sinh học 79
4.4. Đề xuất một số giải pháp bảo tồn dựa vào cộng đồng tại KBTTN Tà Đùng 84
4.4.1. Phân tích thực trạng công tác bảo tồn ĐDSH tại Khu BTTN Tà
Đùng 84
4.4.2. Đề xuất các giải pháp bảo tồn đa dạng sinh học dựa vào cộng
đồng tại Khu BTTN Tà Đùng 87
CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 95
5.1. Kết luận 95
5.1.1. Về tính đa dạng sinh học và các mối đe dọa đến tính ĐDSH 95
5.1.2. Về nhận thức của cộng đồng, kiến thức bản địa và tình hình sử
dụng tài nguyên rừng 95
5.1.3. Về sự tham gia của cộng đồng đối với công tác bảo tồn ĐDSH 96
5.1.4. Về cơ chế chính sách và các giải pháp huy động cộng đồng tham
gia bảo tồn ĐDSH 96
5.2. Tồn tại 97
5.3. Kiến nghị 97
TÀI LIỆU THAM KHẢO 98
vi
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
CITES
Công ước Quốc tế về buôn bán các loài thực vật, động vật hoang
dã nguy cấp
CNH
Công nghiệp hóa
CSHT
Cơ sở hạ tầng
BSM

Công cụ đánh giá hiệu quả công tác bảo tồn
PCCCR
Phòng cháy chữa cháy rừng
PRA
Đánh giá nông thôn có sự tham gia
QLBVR
Quản lý bảo vệ rừng
SWOT
Điểm mạnh - Điểm yếu - Cơ hội - Thách thức
(Strengths-Weakness-Opportunities - Threats)
TNR
Tài nguyên rừng
TV
Thực vật
UBND
Ủy ban nhân dân
VCF
Quỹ bảo tồn rừng đặc dụng Việt Nam
VENN
Sơ đồ phân tích các bên liên quan
VQG
Vườn Quốc gia
WWF
Quỹ Quốc tế và bảo vệ thiên nhiên vii
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Số hiệu
bảng

So sánh tài nguyên động vật KBTTN Tà Đùng với một số nơi
khác
52
4.9
Tổng hợp tình trạng bảo tồn các loài động vật tại KBTTN Tà
Đùng
53
4.10
Phân bố số hộ và cách tiếp cận vào tài nguyên rừng của hộ
55
4.11
Tỷ lệ các hộ có hoạt động ảnh hưởng đến tài nguyên rừng
56
4.12
Các loại lâm sản lấy từ rừng tại Khu BTTN Tà Đùng
57
4.13
Phân tích SWOT về khả năng tiếp cận tài nguyên rừng
61
4.14
Phân bố số hộ theo mức thu nhập từ hoạt động lâm nghiệp
63
4.15
Phân bố số hộ theo đặc điểm nhận thức về tài nguyên rừng
65
4.16
Phân bố số hộ theo đặc điểm hiểu biết chính sách, hương ước
66
4.17
Cấu trúc tổ chức và vai trò của các tổ chức đối với thôn

Tên hình vẽ
Trang
2.1
Tóm tắt các bước nghiên cứu của đề tài
23
4.1
Sự phân bố các taxon của từng ngành tại KBTTN Tà Đùng
44
4.2
Bí kỳ nam (Hydnophytum formicarum Jack)
50
4.3
Bổ béo đen (Goniothalamus vietnamensis Ban)
50
4.4
Lan kim tuyến (Anoectochilus roxburghii (Wall.) Lindl)
50
4.5
Lá khôi (Ardisia sylvestri Pitard.)
50
4.6
Vù hương (Cinanmomum balanse)
50
4.7
Song (Calamus poilanei Conr)
50
4.8
Tỷ lệ % sự phân bố các loài động vật tại KBTTN Tà Đùng
52
4.9

Sơ đồ Venn về tương tác quyền lực giữa các tổ chức ở thôn
Păng So
72
4.20
Sơ đồ cơ cấu tổ chức Ban quản lý Khu BTTN Tà Đùng
91
1
ĐT VN Đ

Đa dạng sinh học đã và đang là vấn đề được cộng đồng quốc tế quan tâm,
bởi vì đa dạng sinh học là nền tảng của cân bằng sinh thái, phát triển của nhiều
ngành dịch vụ và đưa lại sinh kế, lợi ích của một phần lớn dân số trên hành tinh.
Nếu đa dạng sinh học bị suy giảm sẽ ảnh hưởng tới cuộc sống của loài người ở hiện
tại và trong tương lai. Sự mất đi của một hoặc một số loài sẽ làm mất đi một hoặc
một số mắt xích trong chuỗi và lưới thức ăn tự nhiên từ đó làm phá vỡ thế tự cân
bằng của hệ sinh thái và thường thúc đẩy chúng diễn thế theo chiều hướng tiêu cực,
tức là dẫn tới sự phá hủy hệ sinh thái. Nhiều loài động, thực vật quý hiếm có giá trị
sử dụng rất cao mà cho tới nay con người vẫn không thể sản xuất nhân tạo để thay
thế được. Sự mất đi nguồn gen quý hiếm của nhiều loài, đặc biệt là những loài đặc
hữu sẽ khiến các thế hệ tương lai chỉ còn biết tới chúng thông qua sách vở và những
hình ảnh còn lưu trữ mà sẽ không bao giờ biết thực tế chúng thế nào nên sẽ ảnh
hưởng rất lớn tới thế hệ tương lai,… và còn rất nhiều lý do khác nữa khiến việc bảo
tồn đa dạng sinh học rất được quan tâm chú trọng.
Việt Nam là một quốc gia được đánh giá là có tính đa dạng sinh học rất cao

như: Về thực vật có hệ sinh thái rừng kín thường xanh, mưa ẩm á nhiệt đới và rừng
kín hỗn giao lá rộng, lá kim với các loài đặc hữu, quý hiếm như Thông lá dẹt, Trầm
hương, Xá xị Về động vật có Báo gấm, Voọc vá chân đen, Vượn má hung, Hươu
vàng… Vùng núi Tà Đùng còn là một phần của khu vực chim đặc hữu cao nguyên
Đà Lạt, là một trong bốn vùng chim đặc hữu của Việt Nam, tại đây đã phát hiện có
05 loài chim đặc hữu của Việt Nam là Gà tiền mặt đỏ (Polyplectron germaini), Gà
lôi vằn (Lophura nycthemera annamensis), Khướu đầu đen (Garrulax milleti),
Khướu ngực đốm (Garrulax annamensis), Khướu mỏ dài (Jabouileia danjoui),
nhiều loài và phân loài khác đặc hữu cho Đông Dương và là những loài có vùng
phân bố hẹp trên phạm vi toàn cầu. Vì vậy, việc thành lập Khu BTTN Tà Đùng có ý
nghĩa quan trọng trong việc bảo vệ các hệ sinh thái rừng trên núi cao Tây Nguyên,
bảo tồn các loài động, thực vật hoang dã, đặc biệt là các loài đặc hữu và quý hiếm.
Từ khi được thành lập tới nay, mặc dù đã có nhiều nỗ lực nhưng công tác
bảo tồn của Khu BTTN Tà Đùng vẫn còn nhiều bất cập cần phải giải quyết, đặc biệt
3
là việc ngăn chặn sự xâm phạm trái phép của cộng đồng địa phương vào khu bảo
tồn. Thực tế cho thấy, mặc dù người dân có nhận thức được hành vi sai trái của
mình nhưng để đảm bảo sinh kế họ vẫn vào rừng khai thác tài nguyên. Như vậy, cần
phải giải quyết vấn đề sinh kế cho cộng đồng và huy động họ tham gia vào công tác
bảo tồn đa dạng sinh học của Khu bảo tồn.
Cho đến nay đã có một số nghiên cứu về ĐDSH cũng như nghiên cứu về vai
trò và mức độ tham gia của cộng đồng trong công tác bảo vệ rừng, bảo tồn ĐDSH
tại khu vực. Tuy nhiên các nghiên cứu còn mang tính riêng lẻ, độc lập từng nội
dung riêng biệt (chỉ nghiên cứu về ĐDSH hoặc nghiên cứu về xã hội) và chủ yếu
được thực hiện bởi các chuyên gia, các học viên từ bên ngoài nên chưa thật sự đầy
đủ và sát thực tế.
Với vị trí là một học viên đang trực tiếp làm công tác quản lý tại Khu BTTN

vật của trái đất phải bao gồm từ 5 triệu đến 10 triệu loài, thậm chí có thể tới 30 triệu loài.
Như vậy có thể nói rằng những bí ấn về thế giới sinh vật mà con người còn phải nghiên
cứu là vô tận.
Ở Đông Dương có một số công trình nghiên cứu về thực vật như: Lecomte -
Thực vật Đông Dương (1905, 1952); Guibier - Rừng Đông Dương (quyển những
5
cây gỗ Đông Dương, 1926); Maurand - Lâm Nghiệp Đông Dương (1943); Humbert
(1938, 1950).
Để phát triển kinh tế, con người vô tình đã huỷ hoại nguồn tài nguyên thiên nhiên
vô giá của chính mình. Những cố gắng khắc phục hậu quả đó, trong những năm gần đây
trên thế giới đã xây dựng được 1.500 vườn thực vật thế giới hiện lưu giữ ít nhất 35.000
loài thực vật (15% số loài thực vật hiện có). Riêng vườn thực vật Hoàng gia Anh Kew
hiện có 25.000 loài (chiếm 10% của thế giới). Một sưu tập cây ở California có tới 72
trong số 110 loài Thông được biết .
Bên cạnh các công trình nghiên cứu về thực vật cũng còn rất nhiều công trình
nghiên cứu về động vật được biết đến như:
 George Finlayson (1928): Bước đầu đưa ra những nhận xét về một số loài thú
gặp ở Việt Nam, Lào, Campuchia.
 Brousmiche (1887) đã giới thiệu ngắn gọn về một số loài thú ở Bắc Bộ, chủ yếu
là các loài có giá trị kinh tế, dược liệu và khu phân bố của chúng.
 Năm 1904, De poussargues đã thống kê được 200 loài thú và loài phụ thú ở Việt
Nam, Lào, Campuchia, Thái Lan. Riêng ở Việt Nam phát hiện 117 loài và phụ
loài.
 Boutan (1906) cho xuất bản cuốn sách “Mười năm nghiên cứu động vật Đông
Dương” đã đưa khái quát chung về phân loại thú và một số dẫn liệu về hình thái,
đặc điểm sinh học và phân bố về địa lý của 10 loài thú đặc biệt.
 Dollman và Thomas (1960) đã công bố một số kết quả nghiên cứu mô tả các

pháp quản lý tài nguyên trên cơ sở cộng đồng luôn chứa đựng những sắc thái của
phong tục, tập quán, ý thức tôn giáo, nhận thức, kiến thức của người dân, đặc điểm
quan hệ gia đình, họ hàng, làng xóm, của chính sách, luật pháp. Trong khi các nước
công nghiệp phát triển đề cao vai trò của cá nhân, thì các nước đang phát triển mà
đặc biệt là ở vùng Châu Á - Thái Bình Dương, gia đình và cộng đồng được đánh giá
cao. Trong nhiều trường hợp, quản lý tài nguyên thiên nhiên trên cơ sở cộng đồng
đã đem lại những hiệu quả to lớn cho phát triển kinh tế xã hội và bảo vệ môi trường
sinh thái.
7
Don Gilmour và Fischer [12] cho rằng quản lý rừng cộng đồng là các hoạt
động kiểm soát và quản lý các nguồn tài nguyên rừng do người dân địa phương thực
hiện, những người này sử dụng chúng cho các mục đích của cộng đồng và nó là một
bộ phận hữu cơ của hệ thống canh tác. Quản lý rừng trên cơ sở cộng đồng đó là
hình thức quản lý các diện tích rừng của Nhà nước giao cho cộng đồng quản lý.
* Chiến lược và chính sách cho quản lý tài nguyên rừng trên cơ sở có sự
tham gia của cộng đồng:
Theo Bhargava (1997) [21], Chiến lược và Chính sách quản lý tài nguyên
thiên nhiên miền núi trên cơ sở cộng đồng của các nước trong khu vực đều tiến
hành theo những hướng:
(1) Bổ sung và sửa đổi chính sách để tăng quyền quản lý và sử dụng tài
nguyên cho người dân và các cộng đồng. Những giải pháp chủ yếu để tăng quyền
quản lý tài nguyên trên cơ sở cộng đồng là: cấp giấy chứng nhận quyền quản lý sử
dụng tài nguyên lâu dài cho hộ gia đình và cộng đồng, quy hoạch phát triển có sự
tham gia của người dân, xây dựng những tổ chức và hương ước đảm bảo quyền sử
dụng và phát triển tài nguyên, xây dựng những hợp đồng trách nhiệm giữa gia đình,
cộng đồng với Nhà nước.
(2) Kết hợp những giải pháp hỗ trợ kinh tế để khuyến khích với những giải

quản lý như du lịch, chính quyền.
Gilmour (1999) [38] lại cho rằng nguyên nhân chủ yếu dẫn đến tính kém
hiệu quả của các chương trình bảo tồn đa dạng sinh học, quản lý tài nguyên thiên
nhiên là chưa giải quyết tốt mối quan hệ lợi ích giữa các cá nhân trong cộng đồng,
giữa lợi ích cộng đồng địa phương và lợi ích quốc gia. Do đó, chưa phát huy được
nội lực của các cộng đồng để quản lý và bảo vệ tài nguyên rừng. Vì vậy, quản lý tài
nguyên rừng cần phát triển theo hướng kết hợp hoạt động bảo tồn và phát triển tài
nguyên với hoạt động sản xuất để cải thiện chất lượng cuộc sống người dân, thống
nhất lợi ích của người dân và lợi ích Quốc gia trong hoạt động bảo tồn và phát triển
tài nguyên rừng.
Poffenberger và McGean, Bo (1993) [41] trong báo cáo “Liên minh cộng
đồng: Đồng quản lý rừng ở Thái Lan” đã có nghiên cứu điểm tại Vườn quốc gia
9
Dong Yai nằm ở Đông Bắc và khu phòng hộ Nam Sa ở phía Bắc Thái Lan. Tại
Dong Yai, người dân đã chứng minh được khả năng của họ trong việc tự tổ chức
các hoạt động bảo tồn, đồng thời phối hợp với Cục lâm nghiệp Hoàng gia xây dựng
hệ thống quản lý rừng đảm bảo ổn định về môi trường sinh thái và phục vụ lợi ích
của người dân trong khu vực. Tại Nam Sa, cộng đồng người dân cũng rất thành
công trong công tác quản lý rừng phòng hộ. Họ khẳng định nếu Chính phủ có chính
sách khuyến khích và chuyển giao quyền lực thì họ chắc chắn sẽ thành công trong
việc kiểm soát tài nguyên.
Nick Salafky (2000) [40] và các cộng sự cho rằng vào những năm của thập
kỷ 90 thế kỷ trước, các nhà bảo tồn bắt đầu phát triển một cách tiếp cận mới nhằm
đáp ứng nhu cầu về lợi ích kinh tế và bảo tồn. Những cách tiếp cận này dựa vào
việc thực hiện các sinh kế độc lập và có mối liên hệ trực tiếp với bảo tồn. Đặc điểm
cơ bản của cách tiếp cận này là mối quan hệ giữa đa dạng sinh học và con người
xung quanh. Người dân địa phương được hưởng lợi ích trực tiếp từ đa dạng sinh

đây ở mỗi nước, mỗi khu vực đều tìm tòi, thử nghiệm và lựa chọn cho mình một
chiến lược và chính sách quản lý thích hợp. Tuỳ thuộc vào đặc điểm kinh tế - chính
trị - xã hội, điều kiện tự nhiên và tập quán canh tác của mỗi dân tộc, mỗi quốc gia
mà mỗi nước hình thành nên một hệ thống quản lý sử dụng tài nguyên khác nhau.
Nhìn tổng quát, có xu hướng chung là gắn liền đất đai tài nguyên rừng với những cư
dân địa phương, phát triển một phương sách quản lý tài nguyên vì con người, do
con người.
Không giống như các phương thức quản lý tài nguyên truyền thống chỉ quan
tâm đến các vấn đề kỹ thuật và lực lượng chuyên trách liên quan tới quản lý hệ sinh
thái tự nhiên. Quản lý tài nguyên trên cơ sở cộng đồng đòi hỏi phải có sự kết hợp
hài hoà giữa vấn đề kỹ thuật với vấn đề xã hội, trong đó đặc biệt chú ý phát huy vai
trò của kiến thức bản địa và các tổ chức quần chúng ở địa phương.
Một trong những vấn đề cơ bản nhất trong quản lý tài nguyên là vấn đề sử
dụng và quyền sở hữu. Tất cả các thảo luận và tranh cãi về sở hữu công cộng đều
liên quan trực tiếp tới tài nguyên, tự nhiên và xã hội. Vì vậy, quản lý tài nguyên là
một khái niệm khá rộng, bao quát nhiều vấn đề khác nhau. Tuy nhiên, với đề tài này
11
chủ yếu quan tâm nhiều tới lĩnh vực quản lý tài nguyên rừng - một loại tài nguyên
có khả năng phục hồi cao, sức sản xuất lớn, có vai trò quan trọng trong kinh tế và
bảo vệ môi trường nhưng đang trong tình trạng bị suy thoái và phải chịu nhiều đe
doạ. Vì lý do đó mà công cuộc quản lý tài nguyên rừng trên cơ sở cộng đồng đã và
đang thu hút nhiều sự quan tâm của thế giới và trong nước.
Trong khu vực Đông Nam Á ước tính có khoảng từ 80 đến 100 triệu người
sống trên đất rừng công cộng, con số này có thể sẽ tăng lên gấp đôi trong vòng từ 20
- 30 năm tới. Hơn thế, có tới 200 triệu cư dân nông thôn ít nhiều sống phụ thuộc vào
rừng và cuối cùng, có khoảng 150 triệu người dân thành thị hưởng thụ những giá trị
môi trường từ các hệ thống rừng đầu nguồn mang lại. Tuy nhiên, diện tích rừng

mảnh đất của mình một cách lâu dài. Các chính sách về quản lý tài nguyên mỗi khi
ban hành phải thu hút được sự tham gia đông đảo của người dân địa phương, đặc
biệt là các gia đình nghèo lâu nay sống bằng nghề rừng.
+ Việc hoạch định chính sách quản lý tài nguyên phải thông qua đàm thoại
và khảo sát thực tế tại các cộng đồng địa phương để tìm hiểu rõ nhu cầu và khả
năng của người dân, tránh các chủ trương gò ép, duy ý chí được đưa từ trên xuống.
+ Các cấp quản lý trực tiếp (cấp thôn bản và cấp hộ gia đình) có vai trò đặc
biệt quan trọng vì nó liên quan trực tiếp đến việc động viên và huy động các nguồn
lực của dân, đến việc quản lý và sử dụng đất và rừng, đến việc giải quyết tranh chấp
hay xung đột trong nội bộ cộng đồng. Nói tóm lại, nó trực tiếp hình thành môi
trường kinh tế và xã hội thuận lợi cho việc quản lý tài nguyên. Cho tới nay, cấp thôn
bản ở một số nước trong đó có Việt Nam vẫn chưa chính thức được công nhận nằm
trong bộ máy hành chính nhà nước, tuy nhiên, nó là một tổ chức tự quản của dân, do
dân bầu ra cùng nhau bàn bạc và ra quyết định. Chính vì vậy nhà nước phải làm sao
phát huy hết vai trò to lớn nội tại của tổ chức này.
1.2. Những nghiên cứu có liên quan ở Việt Nam
1.2.1. Nghiên cứu về bảo tồn đa dạng sinh học
Việt Nam được công nhận là Trung tâm đặc hữu về loài, chứa đựng một
phần hoặc toàn bộ trong 05 vùng chim đặc hữu (EBA) do Birdlife International xác
định, 03 vùng sinh thái trong hơn 200 vùng sinh thái toàn cầu do WWF xác định và
13
06 Trung tâm đa dạng sinh học về thực vật do IUCN xác định. Toàn bộ đất nước
Việt Nam nằm trong điểm nóng Inđô - Bơ Ma do tổ chức Bảo tồn Quốc tế xác định,
là một trong những vùng sinh học bị đe dọa nhất và giàu có nhất trên thế giới [8].
Từ những năm 1960, Việt Nam đã tiến hành những bước chính thức đầu tiên
nhằm bảo tồn thiên nhiên thông qua việc ban hành những Nghị định về bảo vệ một
số khu rừng và một số loài quý hiếm như Hổ và Voi, cũng như nghiêm cấm các

thức như một trong những giải pháp hiệu quả để quản lý tài nguyên thiên nhiên
vùng cao. Đó là cách quản lý mà mọi thành viên cộng đồng đều được tham gia vào
quá trình phân tích đánh giá thực trạng, xác định nguyên nhân và hình thành giải
pháp để phát huy mọi nguồn lực của địa phương cho bảo vệ, phát triển và sử dụng
tối ưu các nguồn tài nguyên thiên nhiên.
Tuy nhiên, các giải pháp để khuyến khích cộng đồng tham gia quản lý tài
nguyên thiên nhiên ở mỗi hoàn cảnh cụ thể sẽ khác nhau. Nó phụ thuộc vào đặc
điểm của nguồn tài nguyên hiện có, vào chính sách, luật pháp Nhà nước, vào những
quy định của cộng đồng, làng xóm, những phong tục, tập quán, ý thức tôn giáo,
nhận thức và kiến thức, kinh nghiệm và trình độ của người dân v.v Trong nhiều
trường hợp ở nước ta, sự phụ thuộc này vẫn chưa được làm sáng tỏ đầy đủ. Đây là
lý do vì sao việc nghiên cứu nhằm xây dựng giải pháp quản lý tài nguyên thiên
nhiên trên cơ sở cộng đồng ứng với mỗi nhóm dân tộc cùng toàn bộ phức hệ các
điều kiện tồn tại của họ vẫn luôn được đặt ra ở Việt Nam.
Trong những năm qua, đã có nhiều công trình nghiên cứu có liên quan tới
quản lý rừng dựa vào cộng đồng, có thể kể tới một số công trình nghiên cứu sau:
- Viện khoa học Lâm nghiệp Việt Nam - Trung tâm nghiên cứu tài nguyên
môi trường rừng (1998), khi nghiên cứu kiến thức bản địa của đồng bào vùng cao
trong nông nghiệp và quản lý tài nguyên thiên nhiên đã khẳng định tầm quan trọng
của kiến thức bản địa trong quản lý tài nguyên thiên nhiên, theo các tác giả thì chính
cộng đồng địa phương là những người hiểu biết sâu sắc nhất về những tài nguyên
nơi họ sinh sống, về cách thức giải quyết mối quan hệ kinh tế - xã hội trong cộng
đồng. Họ có khả năng phát triển loài cây trồng vật nuôi cho hiệu quả cao và bền
vững trong hoàn cảnh sinh thái của địa phương. Cộng đồng dân cư địa phương vừa
là người thực hiện các chương trình quản lý tài nguyên, vừa là người hưởng lợi từ
hoạt động quản lý tài nguyên, nên những giải pháp quản lý tài nguyên, bảo tồn đa
15


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status