Nghiên cứu đa dạng cây thuốc ở khu bảo tồn thiên nhiên sốp cộp, tỉnh sơn la - Pdf 29



S húa bi Trung tõm Hc liu
Viện HàN LÂM Khoa học và Công nghệ Việt Nam
Viện Sinh thái và Tài nguyên Sinh vật
TRN TH THU HUYN NGHIấN CU A DNG CY THUC KHU
BO TN THIấN NHIấN SP CP, TNH SN LA

Luận văn thạc sĩ Sinh học


NGHIấN CU A DNG CY THUC KHU
BO TN THIấN NHIấN SP CP, TNH SN LA Chuyên ngành: Thực vật học
Mã số: 60. 42. 01.11

Luận văn thạc sĩ Sinh học
Ng-ời h-ớng dẫn khoa học:
PGS. TS. Trần huy thái Số hóa bởi Trung tâm Học liệu

Lêi c¶m ¬n Lời đầu tiên tôi xin bày tỏ lòng biết ơn tới sự giúp đỡ, chỉ bảo tận tình
của thầy hƣớng dẫn PGS.TS. Trần Huy Thái.
Tôi xin cảm ơn Ban quản lý, tập thê cán bộ Khu Bảo tổn thiên nhiên
Sốp Cộp, nhân dân huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La đã giúp đỡ và tạo điều kiện

quả nêu trong luận văn là trung thực và chƣa đƣợc công bố ở bất kỳ công
trình nào.

Hà Nội, ngày 1 tháng 12 năm 2013 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu

MỤC LỤC
Trang
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục các bảng
Danh mục các hình vẽ, ảnh
Danh mục các ký hiệu, các chữ viết tắt
MỞ ĐẦU………………………………………………….……….… 1
Chƣơng 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU ………………………………………………….3
1.1. Tình hình nghiên cứu và sử dụng cây thuốc ở trên thế giới ……………… 3
1.2. Tình hình nghiên cứu và sử dụng cây thuốc ở Việt Nam ………… ….…….8
1.3. Tình hình nghiên cứu đa dạng cây thuốc ở Khu Bảo tồn thiên nhiên
Sốp Cộp…….…………….…………………………………………………12
Chƣơng 2: ĐỐI TƢỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU…… 14
2.1. Mục tiêu nghiên cứu ………………………………………….….….…… 14
2.1.1. Mục tiêu tổng quát ……………… …………………….…………… 14
2.1.2. Mục tiêu cụ thể ……………………… …………….…… ………… 14
2.2. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn………………………………………… 14
2.2.1.Ỹ nghĩa khoa học……………………………………………… …… 14
2.2.2.Ỹ nghĩa thực tiễn ……………………………………………… … 14
2.3. Đối tƣợng và phạm vi nghiêu cứu ………………………………………….14
2.4. Nội dung nghiên cứu ……….………………………………………………14
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu

DANH MỤC CÁC BẢNG Trang
Bảng 3.1. Dân số tại Khu BTTN Sốp Cộp ……………………………….… 23
Bảng 4.1. Sự phân bố các bậc taxon của các loài thực vật đƣợc sử dụng làm thuốc tại
Khu BTTN Sốp Cộp……………………………………………… 25
Bảng 4.2. Sự phân bố các bậc taxon của các loài thực vật trong ngành Ngọc lan đƣợc
sử dụng làm thuốc tại Khu BTTN Sốp Cộp…………. 26
Bảng 4.3. Thống kê 10 họ có nhiều loài nhất………………………… …………27
Bảng 4.4 Thông kê 10 chi có nhiều loài nhất… …28
Bảng 4.5. Các loài đƣợc sử dụng làm thuốc tại Khu BTTN Sốp Cộp có tên trong Sách
đỏ Việt Nam và Nghị định 32CP………………. …………… ………… 29
Bảng 4.6. Dạng thân của các loài cây thuốc đƣợc đồng bào dân tộc ở Khu
BTTN Sốp Cộp sử dụng……………………………………………………… 30
Bảng 4.7. Các nhóm bệnh đƣợc ngƣời dân chữa trị bằng cây thuốc tại Khu BTTN Sốp
Cộp………………………………………………… …………… …… … 31
Bảng 4.8. Các loài có tiềm năng chữa đau mắt tại Khu BTTN Sốp Cộp 32
Bảng 4.9. Các loài có tiềm năng chữa bệnh tê thấp tại Khu BTTN Sốp Cộp… 33
Bảng 4.10. Các loài có tiềm năng giải độc tại Khu BTTN Sốp Cộp….….……… 34
Bảng 4.11. Các loài có tiềm năng chữa cảm cúm tại Khu BTTN Sốp Cộp … 34
Bảng 4.12. Các loài có tiềm năng chữa bệnh phụ nữ tại Khu BTTN Sốp Cộp… 35
Bảng 4.13. Các loài có tiềm năng làm lợi sữa tại Khu BTTN Sốp Cộp…… 35
Bảng 4.14. Các loài có tiềm năng giúp an thần tạ Khu BTTN Sốp Cộp… …… 35
Bảng 4.15. Các loài có tiềm năng trị rắn rết cắn tại Khu BTTN Sốp Cộp… ……36
Bảng 4.16. Các loài có tiềm năng chữa bệnh bại liệt tại Khu BTTN Sốp Cộp… 36

Ảnh 10 : Bông ổi (Lantana camara)
Ảnh 11: Cỏ roi ngựa (Verbena officinalis) Số hóa bởi Trung tâm Học liệu

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

BTTN
Bảo tồn thiên nhiên
FAO
Tổ chức Lƣơng thực và Nông nghiệp Liên hợp quốc
IUCN
Tổ chức Bảo tồn thiên nhiên quốc tế
NĐ 32/2006
Nghị định số 32/2006/NĐ-CP 30/3/2006 của Chính phủ
SĐVN
Sách đỏ Việt Nam
TCN
Trƣớc công nguyên
WB
Ngân hàng thế giới
WHO
Tổ chức Y tế thế giới
WWF
Quỹ Quốc tế bảo vệ thiên nhiên


thuốc nói riêng đang là mối quan tâm hàng đầu của nhiều quốc gia nhằm phục
vụ cho mục đích chăm sóc và bảo vệ sức khỏe của con ngƣời.
Khu bảo tồn thiên nhiên Sốp Cộp với diện tích 16.552,204 ha, có vị trí
chiến lƣợc quan trọng của Tây Bắc nói chung và của tỉnh Sơn La nói riêng, Số hóa bởi Trung tâm Học liệu

với những nét đặc thù về tự nhiên, kinh tế xã hội, môi trƣờng sinh thái nơi đây
đƣợc đánh giá là nơi có giá trị đa dạng sinh học cao, chính vì vậy năm 1968
khu vực Sốp Cộp đã đƣợc Chủ tịch Hội đồng Bộ trƣởng phê duyệt đƣa vào hệ
thống các khu rừng đặc dụng Việt Nam. Khu BTTN Sốp Cộp nằm hoàn toàn
trong vành đai nhiệt đới và đây cũng chính là nơi hội tụ của các luồng thực
vật có trong khu vực đó là luồng thực vật Himalaya- Vân Nam- Quảng Châu
từ phía Bắc đổ xuống, Malaysia-Indonesia từ phía Nam hƣớng lên; Luồng
thực vật khô hạn India-Mianmar từ phía Tây sang và khu hệ thực vật đặc hữu
bản địa Bắc Vân Nam- Trung Hoa. Chính đặc điểm này đã tạo cho khu hệ
thực vật phong phú về thành phần loài và đa dạng thực vật rừng. Đồng thời
Khu BTTNSốp Cộp là khu rừng phòng hộ đầu nguồn của một sông lớn là
Sông Mã chảy qua huyện Sông Mã, qua một phần của đất bạn Lào rồi đổ ra
tỉnh Thanh Hoá. Tuy nhiên, vấn đề nghiên cứu về tài nguyên thực vật nói
chung và tài nguyên cây thuốc nói riêng vẫn chƣa đƣợc chú trọng.
Để góp phần bảo tồn và phát triền nguồn tài nguyên về dƣợc liệu quý
tại Khu BTTN Sốp Cộp, chúng tôi đã thực hiện đề tài “ Nghiên cứu đa dạng
cây thuốc ở Khu Bảo tồn thiên nhiên Sốp Cộp, tỉnh Sơn La’’. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu

CHƢƠNG 1


cuốn sách “Thủ hậu bị cấp phƣơng” tác giả đã kê 52 đơn thuốc chữa bệnh từ
các loại cây cỏ. Vào giữa thế kỷ XVI, Lý Thời Trân đã thống kê đƣợc 12.000
vị thuốc trong tập “Bản thảo cƣơng mục” đƣợc nhà xuất bản Y học trích dẫn
1963.
Ở Ấn Độ, nền y học cổ truyền đƣợc hình thành cách đây hơn 3000
năm. Chủ trƣơng của ngƣời Ấn Độ ngừa bệnh là chính, nếu phải điều trị bệnh
thì các liệu pháp tự nhiên chủ yếu thông qua thực phẩm và thảo mộc sẽ giúp
loại bỏ gốc rễ căn bệnh. Bộ sử thi Vedas đƣợc viết vào năm 1.500 TCN và
cuốn Charaka samhita đƣợc các thầy thuốc Charaka bổ sung tiếp vào bộ sử thi
Vedas, trình bày cụ thể 350 loài thảo dƣợc. Ấn Độ là quốc gia rất phát triển về
nghiên cứu thảo dƣợc nhƣ tổng hợp chất hữu cơ, tách chiết chứng minh cấu
trúc, sàng lọc sinh học, thử nghiệm độc tính, và nghiên cứu tác dụng hóa học
của các chất tới cơ thể con ngƣời. Hiện nay, chính phủ khuyến khích sử dụng
công nghệ cao trong trồng cây thuốc. Hầu hết các viện nghiên cứu dƣợc của
Ấn Độ đã tham gia vào nghiên cứu chuyển hóa các loại thuốc và hợp chất có
hoạt tính từ thực vật.
Những hiểu biết về thảo mộc của ngƣời Hy Lạp và Roma gắn liền với
nền văn minh phát triển từ rất sớm của họ. Ngƣời Hy Lạp cổ xƣa chịu ảnh
hƣởng của ngƣời Babylon, Ai Cập, Ấn Độ. Hippocrat (460 – 377 TCN)- thầy
thuốc nổi tiếng ngƣời Hy Lạp đƣợc mệnh danh là cha đẻ của y học hiện đại
khi ông là ngƣời đƣa ra quan niệm “Hãy để thức ăn của bạn là thuốc và thuốc
chính là thức ăn của bạn”.
Ở Châu Âu, vào thời Trung cổ, các kiến thức về cây thuốc chủ yếu
đƣợc các thầy tu sƣu tầm và nghiên cứu. Họ trồng cây thuốc và dịch các tài
liệu về thảo mộc bằng tiếng Ả rập. Vào năm 1649, Nicolas Culpeper đã viết
cuốn sách “A Physical Directory”, sau đó vài năm, ông lại xuất bản cuốn
“The English Physician”. Đây là cuốn dƣợc điển có giá trị và là một trong
những cuốn sách hƣớng dẫn đầu tiên dành cho nhiều đối tƣợng sử dụng,


teeta), ngƣời ta đã chiết xuất đƣợc berberin. Trong lá và rễ cây Hẹ (Allium
odorum) có các hợp chất sulfua, saponin và chất đắng. Năm 1948, Shen-Chi-Số hóa bởi Trung tâm Học liệu

Shen phân lập đƣợc một hoạt chất Odorin ít độc đối với động vật bậc cao
nhƣng lại có tác dụng kháng khuẩn. Hạt của cây Hẹ cũng có chứa chất
Alcaloid có tác dụng kháng khuẩn gram dƣơng, gram âm và nấm. Reserpin và
serpentin là chất hạ huyết áp đƣợc chiết xuất từ cây Ba gạc (Rauvolfia spp.).
Đặc biệt, vinblastin và vincristin vừa có tác dụng hạ huyết áp vừa có tác dụng
làm thuốc chống ung thƣ, đƣợc chiết xuất từ cây Dừa cạn. Digitalin đƣợc
chiết xuất từ cây Dƣơng địa hoàng (Digitalis spp.), strophantin đƣợc chiết
xuất từ cây Sừng dê (Strophanthus spp.) để làm thuốc trợ tim. Từ những
thành tựu nghiên cứu cấu trúc, hoạt tính của các hợp chất tự nhiên, nhiều loại
thuốc có tác dụng chữa bệnh cao đã ra đời bằng tổng hợp hoặc bán tổng hợp.
Dƣợc lý hiện đại chủ yếu tập trung vào các hợp chất tự nhiên có hoạt
tính chữa bệnh trong khi các nhà nghiên cứu về thảo mộc cho rằng tác dụng
chữa bệnh của cây thuốc là do sự kết hợp của nhiều thành phần có trong cây
thuốc. Chẳng hạn nhƣ chất khoáng, vitamin, tinh dầu glycosid và nhiều chất
khác đóng vai trò quan trọng trong việc tăng cƣờng hoặc hỗ trợ các đặc tính
chữa bệnh của cây thuốc, bảo vệ cơ thể của các tác nhân gây độc. Trong khi
đó, các hợp chất đƣợc phân lập và tổng hợp có khả năng chữa bệnh hiệu quả
nhƣng vì thiếu đi các hợp chất tự nhiên khác nên chúng có khả năng gây độc
đối với cơ thể. Trƣớc đây, việc sử dụng thảo dƣợc để chữa bệnh thƣờng bị
hiểu lầm với phép thuật và mê tín dị đoan. Ngày nay, khoa học hiện đại đã
chứng minh đƣợc khả năng chữa bệnh của thảo mộc. Vì vậy, thế giới ngày
càng quan tâm tới cây thuốc cũng nhƣ phƣơng pháp chữa bệnh bằng y học cổ
truyền.
Theo thống kê của tổ chức Y tế thế giới (WHO), có trên 20.000 loài

Năm 1988, hội thảo quốc tế về bảo tồn cây thuốc đã đƣợc tổ chức tại
Chiang Mai (Thái Lan) với sự tham gia của nhiều chuyên gia đến từ 16 quốc
gia thuộc các khu vực khác nhau trên thế giới. Hội thảo đƣa ra văn bản kết
luận: đánh giá cao tầm quan trọng của cây thuốc trong chăm sóc sức khỏe, giá
trị kinh tế và tiềm năng của cây cỏ đối với việc tìm ra thuốc mới. Đồng thời
báo động về mất tính đa dạng sinh vật cây cỏ và các nền văn hóa trên thế giới
đã ảnh hƣởng đến việc tìm kiếm thuốc mới mang lại lợi ích toàn cầu. Tuyên Số hóa bởi Trung tâm Học liệu

bố Chiang Mai cũng chỉ ra sự cấp thiết cần hợp tác ở mức độ toàn cầu để thiết
lập các chƣơng trình bảo tồn cây thuốc.
Tuy nhiên nguồn tài nguyên cây thuốc đang bị đe dọa nghiêm trọng do
thảm thực vật bị tàn phá, bị khai thác quá mức và bị sử dụng lãng phí. Tri
thức sử dụng cây thuốc bị mai một do không đƣợc tƣ liệu hóa, thế hệ trẻ ở
nhiều cộng đồng ít quan tâm đến học tập kinh nghiệm sử dụng cây cỏ làm
thuốc của thế hệ trƣớc. Đặc biệt, ở các vùng rừng nhiệt đới và á nhiệt đới là
nơi có mức độ đa dạng sinh học cao của thế giới nhƣng lại bị tàn phá nhiều
nhất. Theo số liệu của tổ chức FAO của Liên hợp quốc, trong vòng 40 năm
(1940 – 1980), diện tích của các loại rừng kể trên đã bị thu hẹp tới 44%, ƣớc
tình khoảng 75.000 ha rừng bị phá hủy. Ngày nay trong xu thế phát triển toàn
cầu, các ngành công nghiệp đƣợc phát triển mạnh mẽ dẫn tới môi trƣờng bị ô
nhiễm nghiêm trọng. Đời sống kinh tế xã hội ngày càng cao do vậy việc sử
dụng cây thuốc phục vụ cho việc chăm sóc sức khỏe ngày một nhiều. Điều đó
dẫn tới việc bảo tồn và phát triển nguồn tài nguyên cây thuốc không theo kịp
so với nhu cầu phát triển, mà nó đã đem lại lợi nhuận cho ngành công nghiệp
dƣợc vô cùng lớn.
Tiềm năng chữa bệnh của nhiều loài thảo dƣợc đang ngày càng đƣợc
khám phá, vì thế vấn đề bảo tồn đa dạng sinh học nói chung và bảo tồn cây

mới đƣợc mang đến qua quá trình khai thác thuộc địa, họ đã gián tiếp thúc
đẩy quá trình nghiên cứu thực vật của Việt Nam nói chung và nghiên cứu cây
thuốc nói riêng. Đặc biệt bộ sách “Thực vật chí đại cƣơng Đông Dƣơng” của
Lecomte xuất bản cuối thế kỷ XVIII đầu thể kỷ XIX đã mô tả và phân loại
hơn 7.000 loài thực vật. Đến năm 1952 tác giả tái bản lại cuốn sách, bổ sung
và đặt tên mới là “Những cây thuốc của Campuchia, Lào và Việt Nam” gồm 4
tập, 1.050 trang và thống kê khoảng 1.480 loài thực vật. Tuy nhiên cuốn sách
này chƣa hoàn thiện về mô tả, phân bố, thành phần hóa học và dƣợc lý của
các loại thảo mộc.
Ngay sau khi đất nƣớc đƣợc thống nhất, có rất nhiều công trình điều tra
nghiên cứu cây thuốc đƣợc thực hiện. Phạm Hoàng Hộ và Nguyễn Văn
Dƣơng đã xuất bản bộ sách “Cây cỏ Việt Nam” vào năm 1980 đã giới thiệu
công dụng làm thuốc của nhiều loài thực vật [16]. Đỗ Tất Lợi (1995) đã xuất Số hóa bởi Trung tâm Học liệu

bản bộ sách “Cây thuốc và vị thuốc Việt Nam” và tái bản vào năm 2005 [27].
Công trình này thống kê gần 800 loài cây, con và vị thuốc, trong đó nhiều loài
thực vật đƣợc mô tả về mặt cấu tạo, phân bố, cách thu hái và chế biến, thành
phần hóa học, công dụng và liều dùng.
Năm 1980, Đỗ Huy Bích, Bùi Xuân Chƣơng đã giới thiệu 519 loài cây
thuốc, trong đó có 150 loài mới phát hiện “Sổ tay cây thuốc Việt Nam” [9].
Đề cập đến cây thuốc trong hệ thực vật Việt Nam,Võ Văn Chi là ngƣời đầu
tiên có tâm huyết, năm 1976 trong luận án khoa học của mình, ông đã thống
kê có 1360 loài cây thuốc thuộc 192 họ trong ngành hạt kín ở miền Bắc Việt
Nam. Năm 1991, trong một báo cáo tham gia hội thảo quốc gia về cây thuốc
lần thứ II ở thành phố Hồ Chí Minh, tác giả đã giới thiệu một danh sách các
loài cây thuốc ở Việt Nam có 2.280 loài cây thuốc bậc cao có mạch, thuộc
254 họ trong 8 ngành. Năm 1997 tác giả giới thiệu “ Từ điển cây thuốc Việt

nhiều loài thực vật có tinh dầu của Việt Nam [29]. Năm 2005, Lã Đình Mỡi
và cộng sự giới thiệu tiếp công trình “Những cây chứa các hợp chất có hoạt
tính sinh học” đây đƣợc coi là những ghi chép đầu tiên, có hệ thống và tƣơng
đối hoàn chỉnh về nguồn tài nguyên thực vật có chứa các chất có hoạt tính
sinh học đƣợc sử dụng làm thuốc ở nƣớc ta [30].
Nguyễn Tiến Bân và cộng sự (2003, 2005) đã công bố bộ sách “Danh
lục các loài thực vật Việt Nam” [5], [6]. Cuốn sách đã trình bày đầy đủ các
thông tin về tên khoa học, tên thƣờng gọi, nhận dạng, phân bố, dạng sống –
sinh thái và công dụng. Bộ sách này rất có ý nghĩa cho việc tra cứu danh pháp
các loài thực vật.
Năm 1990-1995 trong hội thảo quốc tế lần thứ 2 về Dân tộc sinh học
tại Côn Minh - Trung Quốc, Nguyễn Nghĩa Thìn đã giới thiệu lịch sử nghiên
cứu về vấn đề dân tộc dƣợc học, giới thiệu 2 300 loài thuộc 1136 chi, 234 họ
thuộc 6 ngành thực vật có mạch bậc cao Việt Nam đƣợc sử dụng làm thuốc và
giới thiệu hơn 1000 bài thuốc đƣợc thu thập ở Việt Nam.
Trần Văn Ơn, trong luận án tiến sĩ của mình đã xác định ở Vƣờn quốc gia Ba
Vì có 503 loài cây thuốc đƣợc ngƣời Dao sử dụng để chữa 131 loại bệnh.
Cao Thị Hải Xuân nghiên cứu về cây thuốc VQG Cát Bà thì có 443 loài thuộc Số hóa bởi Trung tâm Học liệu

thuộc 335 chi, 118 họ chữa 15 nhóm bệnh khác nhau.
Nhƣ vậy, mặc dù chƣa thống kê đầy đủ song các dẫn liệu kể trên cũng
đã nói lên sự phong phú và tầm quan trọng của nguồn tài nguyên cây thuốc
của Việt Nam.
Tình trạng về nguồn tài nguyên thực vật nói chung và nguồn cây thuốc
nói riêng hiện nay không còn nguyên vẹn nhƣ xƣa. Do phá rừng, đốt nƣơng
làm rẫy, khai thác ồ ạt dẫn tới nguồn tài nguyên cây thuốc ngày càng cạn kiệt,
nhiều loài cây thuốc bị giảm về trữ lƣợng nhƣ Bình vôi (Stephania

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu

CHƢƠNG 2
ĐỐI TƢỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Mục tiêu nghiên cứu
2.1.1. Mục tiêu tổng quát
Góp phần bảo tồn và phát triển nguồn tài nguyên cây thuốc tại Khu bảo
tồn thiên nhiên Sốp Cộp, tỉnh Sơn La.
2.1.2. Mục tiêu cụ thể
- Đánh giá sự đa dạng nguồn tài nguyên cây thuốc và kinh nghiệm sử dụng
cây thuốc của đồng bào địa phƣơng tại Khu BTTN Sốp Cộp, tỉnh Sơn La .
- Đề xuất các giải pháp bảo tồn, khai thác và sử dụng bền vững.
2.2. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
2.2.1. Ý nghĩa khoa học
Cung cấp dữ liệu khoa học về đa dạng cây thuốc tại Khu bảo tồn thiên nhiên
Sốp Cộp, huyện Sốp Cộp, tỉnh Sơn La.
2.2.2. Ý nghĩa thực tiễn
- Làm cơ sở khoa học để bảo tồn, phát triển các loài cây thuốc tại Khu BTTN
Sốp Cộp, huyện Sốp Cộp, tỉnh Sơn La.
- Làm cơ sở cho việc xây dựng chiến lƣợc trong các chƣơng trình qui hoạch,
quản lý, bảo vệ, phát triển tài nguyên thực vật của Khu bảo tồn thiên nhiên
Sốp Cộp, huyện Sốp Cộp, tỉnh Sơn La.
2.3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Đối tƣợng nghiên cứu là các loài thực vật bậc cao có mạch đƣợc sử
dụng làm thuốc tại Khu BTTN Sốp Cộp, huyện Sốp Cộp, tỉnh Sơn La.
Thời gian thực hiện: Từ tháng 12 năm 2012 đến tháng 8 năm 2013.

2.5.2. Điều tra ngoại nghiệp
2.5.2.1. Điều tra theo tuyến


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status