Nghiên cứu tính đa dạng cây thuốc ngành ngọc lan (magnoliophyta) ở khu rừng mường phăng – điện biên - Pdf 44

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ VIỆT NAM
VIỆN SINH THÁI VÀ TÀI NGUYÊN SINH VẬT

*****

LÊ BÁ DUY

“NGHIÊN CỨU ĐA DẠNG CÂY THUỐC NGÀNH NGỌC LAN
(Magnoliophyta) Ở KHU RỪNG MƯỜNG PHĂNG, ĐIỆN BIÊN”

LUẬN VĂN THẠC SĨ SINH HỌC
Chuyên ngành: Thực vật
Mã ngành: 60420111

NGƯỜI HƯỚNG DẪN: T.S VŨ TIẾN CHÍNH

HÀ NỘI – 2015


i

LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn này, tôi nhận được sự hướng dẫn khoa học của
TS. Vũ Tiến Chính. Nhân dịp này tôi xin bầy tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất đến
các thầy cô.
Tôi xin chân thành cảm ơn PGS. TS. Trần Thế Bách – Viện Sinh thái và
Tài nguyên sinh vật và tôi xin trân trọng cảm ơn các cán bộ Phòng thực vật–
Viện sinh thái và tài nguyên sinh vật, Ban lãnh đạo và phòng đào tạo sau đại
học-Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật tạo mọi điều kiện giúp đỡ tôi trong
suốt quá trình nghiên cứu.

nghiên cứu ...................................................................................................................12
CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
......................................................................................................................................14
2.1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ......................................................................14
2.2. Nội dung nghiên cứu ............................................................................................14
2.3. Phương pháp nghiên cứu ....................................................................................14
2.3.1. Phương pháp kế thừa .................................................................................................. 14
2.3.2. Điều tra thực địa theo tuyến ..................................................................................... 15
2.3.3. Điều tra tình hình khai thác sử dụng dược liệu . Error! Bookmark not defined.
2.3.4. Thu thập số liệu, tài liệu ............................................................................................. 16
2.3.5. Xử lý số liệu ..................................................................................................................... 16
CHƯƠNG 3 ĐẶC ĐIỂM ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN - KINH TẾ VÀ XÃ HỘI KHU
RỪNG MƯỜNG PHĂNG, TỈNH ĐIỆN BIÊN .......................................................20
3.1. Điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên khu vực nghiên cứu ....................20
3.2. Điều kiện kinh tế, xã hội ......................................................................................23
3.2.1. Dân số và dân tộc .......................................................................................................... 23
3.2.2. Các hoạt động kinh tế chủ yếu ................................................................................. 25
3.2.2.1. Sản xuất nông nghiệp ...................................................................................... 25
3.2.2.2. Sản xuất lâm nghiệp ........................................................................................ 26
3.2.2.3. Tiểu thủ công nghiệp, làng nghề, dịch vụ ...................................................... 26
3.2.2.4. Thương mại và du lịch .................................................................................... 26
CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ..................................................................29
4.1. Đa dạng cây thuốc thuộc ngành Ngọc lan (Magnoliophyta) ở khu vực nghiên
cứu ................................................................................................................................29
4.1.1. Tính đa dạng về các bậc taxon ................................................................................. 29
4.1.2 Đa dạng họ (92 họ) ......................................................................................................... 30
4.1.3. Sự đa dạng ở mức độ chi: .......................................................................................... 32


iv


FAO

Tổ chức Nông Lương của Liên Hợp Quốc

HTX

Hợp tác xã

IUCN

Tổ chức Bảo tồn thiên nhiên quốc tế

KHCN và MT

Khoa học công nghệ và môi trường

UBND

Ủy ban nhân dân

VQG

Vườn quốc gia

TCN

Trước công nguyên

VU

Bảng 4.17. Các loài có tiềm năng chữa bệnh vô sinh .......................................................................47
Bảng 4.18. Các loài có tiềm năng chữa bệnh xơ gan ........................................................................48
Bảng 4.19. Các loài có tiềm năng chữa bệnh xuất huyết não ..........................................................48
Bảng 4.20. Danh sách những loài trong sách đỏ Việt Nam thuộc ngành Ngọc lan ở khu vực
nghiên cứu.............................................................................................................................................49


vii

DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 4.1. Số lượng các taxon của các ngành cây thuốc.................................................................30
Biểu đồ 4.2. Các họ có nhiều loài nhất thuộc ngành Ngọc lan..........................................................31
Biểu đồ 4.3. Các chi có nhiều loài cây thuốc nhất..............................................................................32
Biểu đồ: 4.4. Loài cây thuốc sử dụng chữa bệnh tại khu vực nghiên cứu.......................................34

DANH MỤC BẢN ĐỒ
Bản đồ Quy hoạch 3 loại rừng.............................................................................................................28


1

MỞ ĐẦU
Việt Nam là một trong những Trung tâm đa dạng sinh học của thế giới,
với hệ động, thực vật rất phong phú. Theo thống kê chưa đầy đủ thì nước ta có
khoảng 15.000 loài thực vật có mạch đã được mô tả [29], trong đó có đến 1/3 số
cây cỏ đã và đang được sử dụng làm thuốc chữa bệnh [12],[13],[14].
Trải qua hơn 4000 năm lịch sử hình thành và phát triển, nhân dân ta đã
không ngừng tìm tòi, tích lũy kinh nghiệm về mọi mặt trong đời sống. Đặc biệt
là sử dụng các cây cỏ quanh mình để chăm sóc sức khỏe cho bản thân, gia đình
và cả cộng đồng. Do sự khác biệt về phong tục tập quán, về hệ thực vật mà mỗi

1.1. Tình hình nghiên cứu và sử dụng cây thuốc ở một số nước trên thế giới
Dân tộc thực vật học đã được hình thành ngay từ khi xuất hiện con người
để sống và đấu tranh hòa nhập với thiên nhiên. Con người đã sử dụng cây cỏ
phục vụ cho cuộc sống của mình (như cây làm thức ăn, làm nhà ở, cây làm
thuốc, cây lấy tinh dầu…). Các loài cây và các bài thuốc gia truyền gắn liền với
đời sống các dân tộc. Sự phát triển của loài người, mỗi dân tộc, mỗi Quốc gia
đều có những nền y học cổ truyền riêng. Những ghi chép đầu tiên về cây thuốc
được tìm thấy cách đây hơn 5 ngàn năm, từ những nét khắc trên đất sét của
người Sumeria, thuộc Mesopotamia cổ xưa (là Irắc ngày nay), đề cập đến sử
dụng cây carum và cây húng tây. Cũng thời gian này, kinh nghiệm sử dụng cây
thuốc cũng được bắt đầu hình thành và phát triển ở Trung Quốc và Ấn Độ. Cho
đến nay giá trị làm thuốc của hai loài thực vật kể trên vẫn được thừa nhận. Tuy
nhiên, nhiều bằng chứng khảo cổ học cho thấy kinh nghiệm sử dụng cây thuốc
xuất hiện từ rất lâu đời. Rễ của cây Thục quỳ (Althea officinalis), cây Lan dạ
hương (Hyacinthus sp.) và cây Cỏ thi (Achillea millefolium). Điều này cho thấy,
trên thực tế, thực vật được dùng làm thuốc xuất hiện trước khi có sự ghi chép
của sử sách.
Sử dụng cây thuốc được các quốc gia trên thế giới tiến hành ở các mức độ
khác nhau tùy thuộc vào sự phát triển của dân tộc đó. Nền y học Trung Quốc
được xem là cái nôi của y học cổ truyền, các bài thuốc được xem như hình thành
sớm nhất từ đây. Từ năm 3216 trước công nguyên, Thần Nông – một nhà dược
học tài năng đã chú ý tìm hiểu tác động của cây cỏ đến sức khỏe con người. Ông
đã thử nghiệm tác dụng các loài cây thuốc trên chính bản thân bằng uống, nếm
rồi ghi chép tất cả những hiều biết vào cuốn sách “Thần nông bản thảo” gồm
365 vị thuốc rất có giá trị. Trong đó, nhiều bài thuốc vẫn được sử dụng cho tới
ngày nay như cây Gai mèo (Cannabis sp) để chống nôn, cây Đại phong tử


3




4

“A Physical Directory”, sau đó vài năm, ông lại xuất bản cuốn “The English
Physician” [9],[10]. Đây là cuốn dược điển có giá trị và là một trong những cuốn
sách hướng dẫn đầu tiên dành cho nhiều đối tượng sử dụng, người không chuyên
có thể sử dụng để làm cẩm nang chăm sóc sức khỏe. Cho đến nay, cuốn sách
này vẫn được tham khảo và trích dẫn rộng rãi.
Thầy lang và những bài thuốc cổ truyền từ thực vật đóng vai trò quan trọng
đối với sức khỏe của hàng triệu người. Tỷ lệ người làm nghề thuốc cổ truyền và
các bác sĩ được đào tạo ở các trường Đại học có liên quan tới toàn bộ dân số
của các nước châu Phi. Ước tính số lượng thầy lang ở Tanzania có khoảng
30.000 – 40.000 người, trong đó, bác sĩ làm nghề y chỉ có khoảng 600 người.
Tương tự ở Malawi có khoảng gần 20.000 người làm nghề thuốc cổ truyền
nhưng số lượng bác sĩ rất ít. Nền y học cổ truyền ở các quốc gia châu Phi có ảnh
hưởng lớn đến sức khỏe cộng đồng.
Cùng với phương thức chữa bệnh theo kinh nghiệm dân gian, các nhà khoa
học trên thế giới tiến hành tìm hiểu, nghiên cứu cơ chế và các hợp chất hóa học
trong cây có tác dụng chữa bệnh, đúc rút thành những cuốn sách có giá trị. Các
nhà khoa học công nhận rằng hầu hết các cây cỏ đều có tính kháng sinh, đó là
khả năng miễn dịch tự nhiên của thực vật. Tác dụng kháng khuẩn do các hợp
chất tự nhiên có mặt phổ biến trong thực vật như phenolic, antoxy, các dẫn xuất
quino, ancaloid, flavonoid, saponin, … Cho đến nay, nhiều hợp chất tự nhiên đã
được giải mã về cấu trúc, những hợp chất này được chiết xuất từ cây cỏ để làm
thuốc. Dựa vào cấu trúc được giải mã, người ta có thể tổng hợp nên các chất
nhân tạo để chữa bệnh. Gotthall (1950) đã phân lập được chất Glucosid
barbaloid từ cây Lô hội (Aloe vera), chất này có tác dụng với vi khuẩn lao ở
người và vi khuẩn Baccilus subtilis. Lucas và Lewis (1994) đã chiết xuất một
hoạt chất có tác dụng với các loài vi khuẩn gây bệnh tả, lị, mụn nhọt từ Kim

vật bậc cao có mạch và ngành thực vật bậc thấp được sử dụng trực tiếp làm
thuốc hoặc cung cấp các hoạt chất tự nhiên để làm thuốc. Trong đó, vùng nhiệt
đới Châu Mỹ có hơn 1.900 loài, vùng nhiệt đới châu Á có khoảng 6.500 loài
thực vật có hoa được dùng làm thuốc. Mức độ sử dụng thuốc thảo dược ngày
càng cao.
Khoảng 80% dân số ở các quốc gia đang phát triển sử dụng các phương
pháp y học cổ truyền để chăm sóc sức khỏe, trong đó chủ yếu là cây cỏ. Trung


6

Quốc là nước đông dân nhất thế giới, có nền y học dân tộc phát triển nên trong
số cây thuốc đã biết hiện nay có tới 80% số loài (khoảng trên 4.000 loài) là được
sử dụng theo kinh nghiệm cổ truyền của các dân tộc ở đất nước này. Ở Ghana,
Mali, Nigeria và Zambia, 60% trẻ em có triệu chứng sốt rét ban đầu được điều
trị tại chỗ bằng thảo dược. Tỷ lệ dân số tin tưởng vào hiệu quả sử dụng thảo
dược và các biện pháp chữa bệnh bằng y học cổ truyền cũng đang tăng nhanh ở
các quốc gia phát triển. Ở châu Âu, Bắc Mỹ, và một số nước khác, ít nhất 50%
dân số sử dụng thực phẩm bổ sung hay thuốc thay thế từ thảo mộc. Ở Đức, 90%
dân số sử dụng các phương thuốc có nguồn gốc thiên nhiên để chăm sóc sức
khỏe. Ở Anh, chi phí hàng năm cho các loại thuốc thay thế từ thảo mộc là 230
triệu đôla.
Theo số liệu của trung tâm thương mại quốc tế từ năm 1976, các nước
công nghiệp phát triển đã nhập khẩu hơn 300 triệu USD và đến năm 1980 con số
này đã tăng lên 551 triệu USD. Chỉ tính riêng 12 loại dược liệu có nhu cầu sử
dụng cao ở Mỹ là Bạch quả, Sâm Triều Tiên, Tỏi, Valeriana officinalis, … từ
năm 1998 đã đạt doanh số bán lẻ là 552 triệu USD. Đến năm 2003, thị trường
thảo dược toàn cầu đã vượt mức 60 tỷ USD hàng năm và con số này vẫn tiếp tục
tăng. (Đề án phát triển ngành dược và xây dựng hệ thống cung cấp thuốc của
Việt Nam giai đoạn 2007 – 2015 và tầm nhìn đến 2020).

75.000 hecta rừng bị phá hủy.
Tiềm năng chữa bệnh của nhiều loài thảo dược đang ngày càng được khám
phá, vì thế vấn đề bảo tồn đa dạng sinh học nói chung và bảo tồn cây thuốc nói
riêng đang là mối quan tâm hàng đầu của nhiều quốc gia nhằm phục vụ cho mục
đích chăm sóc và bảo vệ sức khỏe của con người.
1.2. Tình hình nghiên cứu và sử dụng cây thuốc ở Việt Nam
Việt Nam được công nhận là một trong những trung tâm đa dạng và
phong phú nhất thế giới, bởi vì có đặc điểm địa lý, khí hậu nhiệt đưới gió mùa
nòng và ẩm cũng như tác động của di cư thực vật từ miền Nam Trung Quốc,
Ấn Độ và các khu vực Himalaya Malaysia-Indonesia.
Ước tính, nước ta có khoảng 15.000 loài thực vật bậc cao có mạch [29] ,
800 loài rêu, 600 loài nấm và hơn 2.000 loài tảo [22],[23],[36]. Trong tổng số
gần 4000 loài cây thuốc đã được ghi nhận ở Việt Nam, có tới 90% là cây thuốc


8

mọc tự nhiên, tập tung chủ yếu trong các quần xã rừng và chỉ có khoảng 10%
là cây thuốc trồng. Theo số liệu thống kê của ngành Y tế, mỗi năm ở Việt
Nam tiêu thụ từ 30 - 50 ngàn tấn các loại dược liệu khác nhau để sử dụng trong
y học cổ truyền làm nguyên liệu ngành cho công nghiệp Dược và xuất khẩu.
Trong đó, trên 2/3 khối lượng này được khai thác từ nguồn cây thuốc mọc tự
nhiên và trồng trọt. Riêng từ nguồn cây thuốc tự nhiên đã cung cấp tới trên 20
ngàn tấn mỗi năm. Khối lượng dược liệu này trên thực tế mới chỉ bao gồm từ
hơn 200 loài được khai thác và đưa vào thương mại có tính phổ biến hiện
nay. Bên cạnh đó, còn nhiều loài dược liệu khác vẫn được thu hái, sử dụng tại
chỗ trong cộng đồng và hiện chưa có những con số thống kê cụ thể.
Trong cuốn sách “Nam Dược Thần Hiệu” và “Hông Nghĩa Giác Tự Y Thư”
của Tuệ Tĩnh đã mô tả hơn 630 vị thuốc, 50 đơn thuốc chữa các loại bệnh trong
đó 37 đơn thuốc chữa bệnh thương hàn. Hai cuốn sách này được xem là những

sách “Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam” và tái bản vào năm 2000 [30].
Công trình này thống kê gần 800 loài cây, con và vị thuốc, trong đó nhiều loài
thực vật đã được mô tả về mặt cấu tạo, phân bố, cách thu hái và chế biến, thành
phần hóa học, công dụng và liều dùng.
Năm 1980 Đỗ Huy Bích, Bùi Xuân Chương đã giới thiệu 519 loài cây
thuốc, trong đó có 150 loài mới phát hiện “Sổ tay cây thuốc Việt Nam”.[6]
Đề cập đến cây thuốc trong hệ thực vật Việt Nam,Võ Văn Chi là người đầu tiên
có tâm huyết, năm 1976 trong luận án khoa học của mình, ông đã thống kê có
1360 loài cây thuốc thuộc 192 họ trong ngành hạt kín ở miền Bắc Việt Nam.
Năm 1991, trong một báo cáo tham gia hội thảo quốc gia về cây thuốc lần thứ II
ở thành phố Hồ Chí Minh, tác giả đã giới thiệu một danh sách các loài cây thuốc
ở Việt Nam có 2 280 loài cây thuốc, thuộc 254 họ trong 8 ngành. Năm 1997 tác
giả giới thiệu “ Từ điển cây thuốc Việt Nam” giới thiệu 3.200 loài cây thuốc,
đây là một công trình có ý nghĩa khoa học và thực tiễn rất lớn phục vụ cho
ngành dược và các nhà thực vật học [12]. Đặc biệt năm 2012, tác giả đã tái bản
có bổ sung công trình trên với 4.470 loài cây thuốc [13].
Các kết quả điều tra dược liệu của Viện Dược liệu từ năm 1961 đến 1985
đã phát hiện 1.863 loài cây thuốc, trong 1033 chi, 236 họ, 101 bộ, 17 lớp, 11
ngành được xếp loại theo hệ thống của nhà thực vật học Takhtajan. Đến năm
2000, số loài cây thuốc đã tăng lên tới 3.849 loài thuộc 307 họ thực vật.


10

Theo Đỗ Huy Bích hàng năm nước ta khai thác và sử dụng tới 300 loài
cây thuốc ở các mức độ khác nhau[7]. Khó mà thống kê được một cách đầy đủ
khối lượng dược liệu tự nhiên được khai thác bởi vì hàng năm ngoài cơ sở sản
xuất của nhà nước còn có những cơ sở của tư nhân, của những ông Lang, bà Mế
và người dân từng địa phương tự thu hái về chữa bệnh theo kinh nghiệm dân
gian.

Trần Văn Ơn, trong luận án tiến sĩ của mình đã xác định ở Vườn Quốc gia
Ba Vì có 503 loài cây thuốc được người Dao sử dụng để chữa 131 loại bệnh
[36].
Như vậy, mặc dù chưa thống kê đầy đủ song các dẫn liệu kể trên cũng đã
nói lên sự phong phú và tầm quan trọng của nguồn tài nguyên cây thuốc của
Việt Nam.
Tình trạng về nguồn tài nguyên thực vật nói chung và nguồn cây thuốc
nói riêng hiện nay không còn nguyên vẹn như xưa. Do phá rừng, đốt nương làm
rẫy, khai thác ồ ạt dẫn tới nguồn tài nguyên cây thuốc ngày càng cạn kiệt, nhiều
loài cây thuốc bị giảm về trữ lượng như Bình vôi (Stephania brachyandra),
Chùa dù (Elsholtzia penduliflora), Tục đoạn (Dipsacus asper),… Đặc biệt đối
với những cây quý hiếm thì tình trạng suy kiệt càng trở nên gay gắt hơn nhiều:
Sâm vũ diệp (Panax bipinnatifidus), Tam thất hoang (Panax stipuleanatus), Ngũ
gia bì gai (Acanthopanax trifoliatus)… hiện lâm vào tình trạng bị đe dọa tuyệt
chủng.
Nhận thức được vai trò và tiềm năng của cây thuốc trong công tác chăm sóc
sức khỏe, chữa bệnh và phát triển kinh tế, bảo vệ bản sắc văn hóa dân tộc
trong nhiều năm nay, Nhà nước Việt Nam trong đó các Bộ ngành và các cơ
quan đã tích cực tham gia và phê chuẩn các công ước quốc tế như “Công ước
đa dạng sinh học (1992)”, “kế hoạch hành động đa dạng sinh học (1994)” và
ban hành nhiều luật chính sách có gắn liền với chăm sóc sức khỏe, phát triển
ngành dược với việc bảo tồn cây thuốc như: “Định hướng chiến lược chăm sóc
sức khỏe bảo vệ nhân dân trong thời gian 1996 – 2010” và “chính sách quốc gia
về thuốc Việt Nam (1996)”, “chiến lược phát triển ngành Dược đến 2010
(2002)”, “chính sách quốc gia về y dược học cổ truyền đến năm 2010 (2003)”,
“Đề án phát triển ngành dược và xây dựng hệ thống cung cấp thuốc của Việt
Nam giai đoạn 2007– 2015 và tầm nhìn đến 2020 (2007)”. Một trong số đó là
việc triển khai nhiệm vụ “bảo tồn nguồn gen và phát triển giống cây thuốc”



thuốc địa phương phục vụ vào thương mại, buôn bán cho khách du lịch. Trải qua


13

bao thế hệ, những kinh nghiệm đó đã ngày càng được người dân tích lũy. Sự
hiểu biết về các loài cây thuốc của người dân nơi đây được thể hiện qua việc sử
dụng chúng trong việc trị bệnh người ốm, việc thu hái, địa điểm thu hái cũng
như cách chế biến chúng.
Khu rừng Mường Phăng – Điện Biên Đông tỉnh Điện Biên là một khu
rừng nguyên sinh nằm trong khu du tích lịch sử nên tại đây vấn đề nghiên cứu
về tài nguyên thực vật nói chung và tài nguyên cây thuốc nói riêng chưa được
chú trọng. Mới đây, một số chương trình dự án đã được các cơ quan chức năng
và các tổ chức nước ngoài đầu tư và thực hiện, đặc biệt là các chương trình
nghiên cứu về sự đa dang thành phần loài, các nhóm loài.
Như vậy, cho đến nay vẫn chưa có công trình nghiên cứu nào về vấn đề
tài nguyên cây thuốc mà được đồng bào Thái Đen nơi đây sử dụng. Dưới sự
hướng dẫn của các thầy cô tại Viện Sinh thái và Tài nguyên Sinh vật tôi đã
mạnh dạn nghiên cứu để hoàn thành luận văn tốt nghiệp cao học của mình.


14

CHƯƠNG 2
ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Mục tiêu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đánh giá đa dạng tài nguyên cây thuốc, kinh nghiệm sử dụng cây thuốc
của đồng bào dân tộc trong khu rừng Mường Phăng – Điện Biên.
Các loài cây thuốc thuộc ngành Ngọc lan (Magnoliophyta) và một số bài
thuốc của một số ông lang, bà mế có kinh nghiệm của đồng bào dân tộc ở khu

15

Sau khi thu thập đầy đủ các tài liệu liên quan, tiến hành thống kê, kiểm tra
và hiệu chỉnh lại toàn bộ thông tin một cách chính xác trên cơ sở các tại liệu
tham khảo chuyên ngành từ đó xác định giá trị thông tin kế thừa.
2.3.2. Điều tra thực địa theo tuyến
Dựa trên nền bản đồ địa hình, bản đồ hiện trạng rừng của Khu rừng Mường
Phăng, Điện Biên kết hợp đi thực địa để xác định các hướng tuyến điều tra.
Nguyên tắc lập tuyến: Tuyến điều tra phải đại diện, phải đảm bảo đi qua
tất cả các kiểu rừng.
Lựa chọn người dân đi cùng để dẫn đường, phải là người biết nhiều về
cây rừng, thường xuyên đi rừng. Lựa chọn người dẫn đường thuộc nhiều thành
phần dân tộc trong khu vực nghiên cứu để khai thác được kiến thức bản địa của
người dân trong phương thức thu hái và sử dụng cây rừng có giá trị làm thuốc.
Trong quá trình điều tra ngoại nghiệp tiến hành thu mẫu, ghi chép, chụp
ảnh sau đó giám định mẫu trong phòng tiêu bản.
Với những mẫu chưa biết tên hoặc mẫu quý hiếm ngoài thực địa tiến hành
xử lý mẫu, ghi chép lại những đặc điểm dễ nhận biết như: Đặc điểm vỏ cây, kích
thước cây nhất là đặc điểm màu sắc, mùi vị… sau đó chuyển đến Viện Sinh thái
và Tài nguyên Sinh vật Việt Nam để giám định mẫu.
Điều tra khảo sát sơ bộ sau đó ta tiến hành chọn tuyến điều tra. Tuyến
được chọn phải đảm bảo yêu cầu phải chạy qua các sinh cảnh đặc trưng cho khu
bảo tồn. Trên mỗi tuyến cắt ngang chọn các ô tiêu chuẩn là những điểm chốt đặc
trưng nhất để nghiên cứu đa dạng tài nguyên cây thuốc (Theo Nguyễn Nghĩa
Thìn, 1997).
Trên mỗi tuyến, tiến hành điều tra các loài cây thuốc của đồng bào dân tộc
sử dụng trong phạm vi 10 m mỗi bên. Mỗi loài lấy 5 - 6 tiêu bản.
- Các tuyến điều tra thực địa:

- Bản Phăng 1

Phương pháp chuyên gia: Dựa vào kinh nghiệm của các chuyên gia đặc
biệt là các vật đề như xác định tên khoa học các mẫu đã thu hái.
Phương pháp xử lý mẫu vật, chỉnh lý tên khoa học (theo Nguyễn Nghĩa
Thìn, 1997). Các tiêu bản tươi được thu thập ngoài thực địa tiếp tục xử lý trong
phòng thí nghiệm tại Phòng Thực vật, Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật.


17

Các mẫu sau khi sấy khô được ngâm tẩm bằng dung dịch cồn chứa 0,3-0,5%
HgCl2 để diệt khuẩn và chống côn trùng phá hại. Các mẫu tiêu bản được sấy
khô, ép khẳng, trình bày và khâu trên giấy bìa cứng kích thứoc 28 cm x 42 cm.
Xác định tên khoa học, kiểm tra, chỉnh lý tên theo các tài liệu chính là các
tập Thực vật chí Việt Nam, Danh lục các loài thực vật ở Việt Nam.
Xây dựng danh lục: Điều chỉnh khối lượng họ, chi theo hệ thống của bộ
Sách “Danh lục các loài thực vật ở Việt Nam”. Danh lục được xây dựng theo
nguyên tắc sự tiến hóa của các ngành thực vật, các chi loài được xếp theo vần
ABC. Ngành Ngọc lan do khối lượng lớn nên chia thành 2 lớp Ngọc lan và lớp
Hành. Danh lục ngoài tên khoa học, tên Việt Nam của các loài còn có các thông
tin khác như dạng sống, công dụng, môi trường sống, bộ phận sử dụng làm
thuốc theo mẫu.
Đánh giá tính đa dạng của các loài cây thuốc, về tần số sử dụng các bộ
phận, về số lượng các bộ phận sử dụng làm thuốc, nhóm bệnh,...
Xác định các loài quí hiếm có nguy cơ bị tiêu diệt: Trên cơ sở danh lục
thực vật, lập danh sách các loài quí hiếm ở khu vực nghiên cứu. Các loài được
xác định quí hiếm có nguy cơ bị tiêu diệt dựa vào tiêu chí của công trình sau:
- Sách đỏ Việt Nam, 2007;
Các nhóm bệnh được phân chia theo tài liệu của Lê Trần Đức (1997) “Cây
thuốc Việt Nam trồng hái chế biến và trị bệnh ban đầu”. Chi tiết như sau:
- Nhóm 1: Bệnh ngoại cảm (gồm Cảm mạo phát sốt ớn lạnh, Nghẹt mũi, Cảm


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status