Bộ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC sư PHẠM HÀ NỘI 2
ĐẶNG VIỆT CƯỜNG
NGHIÊN CỬU TÍNH ĐA DẠNG CẦY THUÓC TRONG
THẢM THỰC VẬT THỬ SINH PHỤC HÒI Tự NHIÊN • •
• • TẠI XÃ THƯỢNG CỬU, THANH SƠN, PHÚ THỌ
Chuyên ngành: Sinh thái học
Mã số: 60 42 01 20
LUẬN VĂN THẠC SĨ SINH HỌC
Người hướng dẫn khoa học: TS. Lê Đồng Tấn
HÀ NỘI, 2013 MỒ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Thực vật với vai trò không chỉ là lá phổi xanh khổng lồ điều hoà khí hậu, là khâu
quan trọng trong chu trình tuần hoàn vật chất của tự nhiên, thảm thực vật rừng còn là
nguồn tài nguyên vô giá cung cấp nguyên liệu cho nhiều ngành công nghiệp (gỗ, giấy,
1
dệt ), là thức ăn cho động vật nói chung, đặc biệt là nguồn dược liệu quý giá đối với
việc chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ của con người. Vì vậy, việc nghiên cứu đa dạng và
bảo tồn thực vật nhằm phục vụ yêu cầu xây dựng, quy hoạch, phát triển kinh tế, bảo vệ
nguồn gen, bảo vệ môi trường đã trỏ' thành một nhiệm vụ chiến lược nhu cầu cấp thiết
trên toàn thế giới. Và nguồn dược liệu từ thực vật ngày càng được ưa chuộng sử dụng do
tính chất ưu việt của nó như an toàn, ít tác dụng phụ, việc sử dụng tương đối dễ dàng,
chính điều này thúc đẩy mạnh hướng nghiên cứu về chúng.
Việt Nam nằm trong vành đai nội chí tuyến, lãnh thố trải dài trên nhiều vĩ độ, địa
hình phức tạp kết hợp với kiểu khí hậu nhiệt đới gió mùa tạo nên sự đa dạng về thiên
nhiên, cho nên hệ thực vật rất phong phú và được coi là một trong những trung tâm đa
dạng sinh vật có tính đa dạng sinh học cao trên thế giới với nhiều loài có giá trị khoa
học và kinh tế cao, loài đặc hữu, nhiều nguồn gen quỷ hiếm. Theo các tài liệu đã công
bố, Việt Nam có khoảng 17.000 loài thực vật, trong đó ngành Tảo có 2.200 loài, ngành
Rêu 480 loài, ngành Quyết lá thông 1 loài, ngành Thông đất 55 loài, ngành cỏ tháp bút 2
loài, ngành Dương xỉ 700 loài, ngành Hạt trần 70 loài và ngành Hạt kín 13.000 loài,
trong đó các loài thực vật đã cung cấp một nguồn dược liệu vô cùng quý giá. Tuy nhiên,
sinh phục hồi tự nhiên ở xã Thượng Cửu, Thanh Sơn, Phú Thọ.
- Phạm vi nghiên cứu: Tại xă Thượng Cửu, huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ.
5. Phương pháp nghiên cứu
Đe nghiên cứu tính đa dạng cây thuốc trong thảm thực vật thứ sinh phục hồi tự
nhiên tại khu vực nghiên cứu, chúng tôi sử dụng các phương pháp phổ biến đã và đang
được áp dụng hiện nay theo cuốn Thực vật học dân tộc của Gary J. Martin (2002) và
Nguyễn Nghĩa Thìn (2007) [25,32]. Các bước tiến hành cụ thể như sau:
Phương pháp kế thừa: Ke thừa các kết quả về thông tin, số liệu và những tư liệu,
kết quả liên quan đến đề tài mà các công trình nghiên cứu đã công bố.
Phương pháp nghiên cứu tham dự (PRA, RRA): Thu hút sự tham gia của cộng
đồng những người có sự hiếu biết thấu đáo tường tận về y học dân tộc mà họ đã trải
nhiều đời chung sống với nó. Vì đây là những người giữ gìn nguồn gen bản địa, họ có
cả kho tàng rất phong phú về kiến thức truyền thống về cây thuốc mà đề tài cần nghiên
3
cứu khai thác (Việc nhân giống, kinh nghiệm chăm sóc, chống đỡ thiên tai, dịch bệnh,
khai thác, sử dụng sản phẩm của cây thuốc). Đồng thời họ là những người sẽ nhận
chuyển giao sản phẩm (Cây bảo tồn), kỹ thuật và sẽ đem công sức vào việc phát triển
cây thuốc sau này với mục tiêu phát triên kinh tế gia đình và giữ gìn một loài cây quí tại
địa phương.
Điều tra, thống kê, phân tích: Đánh giá thực trạng tình hình kinh tế - xã hội tác
động diễn biến sự phát triển cây thuốc ở nơi nghiên cứu.
Điều tra thực địa: Được thực hiện trong các chuyến đi thực địa nhằm thu thập các
dữ liệu về phân loại (Thu thập mẫu vật, chụp ảnh, quan sát và ghi chép các đặc điếm
của mẫu ở trạng thái tươi, và các đặc điểm khác); thu thập số liệu về đa dạng sinh học
(Số lượng, chất lượng, diễn biến về số lượng và chất lượng), tình trạng suy thoái trong
những vùng tiểu sinh thái cụ thể của các loài ở nơi nghiẽn cứu; phỏng vấn người dân về
thực trạng sử dụng cây thuốc tại địa phương.
Phân tích và xử lý số liệu: Được tiến hành trong phòng thí nghiệm, nhằm xây
dựng danh lục các loài, đánh giá về sự đa dạng, giá trị tài nguyên,
Đe tra cứu nhận biết các họ, chúng tôi căn cứ vào cẩm nang tra cứu và nhận biết
người Trung Hoa cổ đại đã sử dụng 365 vị thuốc và cây thuốc đế phòng và chữa bệnh.
Vào thời nhà Hán (năm 168 trước công nguyên) trong cuốn sách “Thủ hậu cấp phương”,
tác giả đã thống kê 52 đơn thuốc trị bệnh từ các loài cây cỏ. Tới giữa thế kỷ XVI, Lý
Thời Trân thống kê 1.200 vị thuốc trong tập “Bản thảo mục cương” [17].
Năm 384-322 trước công nguyên, Aristote người Hy Lạp đã ghi chép và lưu giữ
sớm nhất về kiến thức cây cỏ ở nước này. Sau đó, năm 340 trước công nguyên
Theophraste với tác phẩm "Lịch sử thực vật" đã giới thiệu gần 480 loài cây cỏ và công
dụng của chúng. Tuy công trình của ông mới chỉ dừng lại ở mức mô tả, thống kê, song
nó mở đầu cho một giai đoạn tìm tòi, nghiên cứu sâu về lĩnh vực này [15].
Năm 79-24 trước công nguyên, nhà tự nhiên học người La Mă Plinus soạn thảo bộ
sách "Vạn vật học" gồm 37 tập giới thiệu 1.000 loài cây có ích [15].
Các nhà thực vật người Pháp được coi là những người đầu tiên của châu Âu nghiên
cứu về thực vật Đông Nam Á. Năm 1952, tác giả người Pháp A.Pétélot có công trình
5
"Les phantes de médicinales du Cambodye, du Laos et du Vietnam" gồm 4 tập nghiên
cứu về cây thuốc và sản phẩm làm thuốc từ thực vật ở Đông Dương [42].
Theo một hướng khác, nghiên cứu cây thuốc trên thế giới tập trung theo các mục
đích cụ thể. Nhiều công trình theo hướng này đã được công bố trong những năm gần
đây: Các cây chữa ung thư, các cây thuốc chữa bệnh tiểu đường, [26]. Tài nguyên cây
cỏ là đối tượng sàng lọc đế tìm các thuốc mới. Viện Ung thư quốc gia Mỹ đã đầu tư
nhiều tiền bạc để sàng lọc đến 35.000 trong số trên 250.000 loài cây cở trên khắp thế
giới để tìm thuốc chữa ung thư. Theo nguồn dữ liệu NAPRALERT, đến năm 1985 đã có
khoảng 3.500 cấu trúc hóa học mới có nguồn gốc từ thiên nhiên được phát hiện, trong đó
có 2.618 từ thực vật bậc cao, 512 từ thực vật bậc thấp và 372 từ các nguồn khác. Rõ
ràng là nguồn tài nguyên cây cỏ và tri thức sử dụng chúng để làm thuốc còn là một kho
tàng khổng lồ, trong đó phần đã khám phá còn quá ít ỏi [28].
Trải qua hàng nghìn năm, một số lượng lớn các loài thực vật bậc cao đã và đang
được con người sử dụng với nhiều mục đích khác nhau. Theo UNESCO năm 1992 thì ở
các vùng nông thôn của các nước đang phát triển, các sản phấm làm lương thực - thực
phẩm có nguồn gốc thực vật chiếm tỷ lệ 90-93%. Người ta ước tính có khoảng 35.000-
kinh nghiệm chữa bệnh của cộng đồng gồm 54 dân tộc Việt Nam, cùng với kinh nghiệm
sử dụng các nguồn dược liệu phong phú của đất nước trong vùng nhiệt đới tạo thành một
nền y học truyền thống.
Nen y học cổ truyền Việt Nam phát triển gắn liền với tên tuổi và sự nghiệp của các
danh y nổi tiếng mỗi thời đại như: Đời nhà Lý có nhà sư Nguyễn Minh Không; đời nhà
Trần có Phạm Ngũ Lăo, Phạm Công Bân, Tuệ Tĩnh với các bộ sách “Nam dược thần
hiệu”, “Tuệ Tĩnh y thư”, Thời Lê Dụ Tông có Hải Thượng Lãn Ông với cuốn “Lăn
Ồng tâm lĩnh”, ông được nhân dân mệnh danh là ông tổ của nghề thuốc Việt Nam [33].
Sau cách mạng tháng 8-1945, y dược học cô truyên đạt được những thành tựu to
lớn. Dưới sự lãnh đạo của Bộ Y tế cùng với sự phát triển của y học hiện đại, sức khoẻ
của người dân được quan tâm và chăm lo chu đáo hơn. Việc nghiên cứu cây thuốc ở
nước ta được quan tâm nhiều, có nhiều tác giả đi sâu nghiên cứu, tìm tòi và phát hiện
thêm nhiều loài cây thuốc mới.
7
Đỗ Tất Lợi (1957) cho xuất bản cuốn “Dược liệu học và các vị thuốc Việt Nam”
gồm 3 tập, năm 1962-1965 tiếp tục xuất bản cuốn “Những cây thuốc và vị thuốc Việt
Nam” gồm 6 tập [33]. Đây là những bộ sách có giá trị lớn về khoa học và thực tiễn, kết
hợp giữa khoa học dân gian với khoa học hiện đại.
Năm 1980, Đỗ Huy Bích, Bùi Xuân Chương đã giới thiệu 519 loài cây thuốc, trong
đó có 150 loài mới phát hiện trong “Sổ tay cây thuốc Việt Nam”. Viện Dược liệu (Bộ Y
tế) cùng với hệ thống trạm nghiên cứu dược liệu, điều tra ở 2.795 xã, phường, thuộc 351
huyện, thị xã của 47 tỉnh, thành phố trong cả nước đă có những đóng góp đáng kế trong
các điều tra sưu tầm nguồn tài nguyên cây thuốc và kinh nghiệm sử dụng cây thuốc
trong y học cổ truyền dân gian. Ket quả được đúc kết trong “Danh lục cây thuốc miền
Bắc Việt Nam”, “Danh lục cây thuốc Việt Nam”, tập “Atlas (bản đồ) cây thuốc”. Võ
Văn Chi (1976), trong luận án Phó tiến sĩ khoa học của mình ông đã thống kê 1.360 loài
cây thuốc thuộc 192 họ trong ngành Hạt kín miền Bắc. Đen năm 1991, trong một báo
cáo tham gia hội thảo quốc gia về cây thuốc lần thứ hai tố chức tại thành phố Hồ Chí
Minh, tác giả đã giới thiệu một danh sách các loài cây thuốc Việt Nam có 2.280 loài cây
thuốc bậc cao có mạch, thuộc 254 họ trong 8 ngành. Trên cơ sở các kết quả nghiên cứu
việc điều tra về y dược thiên nhiên và y dược dân tộc của nước ta. Tào Duy cần và Trần
Sỹ Viên (2007) đã thống kê trên 500 vị thuốc Nam - Bắc thường dùng với hàng chục
ngàn bài thuốc trong cuốn "Cây thuốc, vị thuốc, bài thuốc Việt Nam" [4].
Bên cạnh những công trình nêu trên là các bài báo, sách chuyên khảo, các hội thảo
trong nước và quốc tế, nhiều công trình khác điều tra thành phần loài và kinh nghiệm sử
dụng cây thuốc của các dân tộc thiểu số ở nước ta đã được tiến hành trong những năm
vừa qua. Trong thời gian 1994-2005, phòng thực vật dân tộc học thuộc Viện Sinh thái và
Tài nguyên sinh vật đã triến khai nghiên cứu tại các cộng đồng dân tộc người H’Mông,
Dao, Tu Dí, Mường, Thái, Khơ Mú, Tày, Nùng, Hoa tại các tỉnh Lào Cai, Lai Châu, Sơn
La, Hòa Bình, Hà Giang [18].
Cùng với sự ra đời của các công trình nghiên cứu, nhiều tổ chức về y học dân tộc
được thành lập: Hội Đông y Việt Nam, Viện nghiên cứu Đông y Các tổ chức này đă
thành công trong việc điều tra, sưu tầm dược liệu: Sưu tầm được 1.863 loài cây thuốc
9
thuộc 238 họ thực vật, thu thập 8.000 tiêu bản của 1.296 loài [11].
Các công trình nói trên đều có một hướng nghiên cứu chung là mô tả các loài, nêu
thành phần hoá học, đặc biệt nói đến công dụng, cách chế biến và liều lượng. Nhờ đó
giúp cho người sử dụng có thêm hiểu biết cơ bản về loại dược liệu mình sử dụng, có độ
tin cậy cao. Tuy nhiên, hầu hết các tác giả chưa quan tâm chú ý đến việc mô tả từng loài
cây thuốc, nơi sống của chúng.
1.3. Những nghiên cứu tài nguyên cây thuốc trong các thảm thực vật ở xã
Thượng Cửu, huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ
Các công trình nghiên cứu về cây thuốc trong các thảm thực vật xã Thượng Cửu,
huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ còn rất ít.
Tại đây đồng bào các dân tộc (Mường, Dao, ) ở xă Thượng Cửu từ lâu đời đã có
tập quán sử dụng thực vật để làm thuốc chữa bệnh. Do thói quen, điều kiện sống nên ít
được tiếp cận và sử dụng thuốc Tây, từ lẽ đó ngày càng có nhiều người sử dụng thực vật
để làm thuốc, chính vì vậy mà ở mỗi xóm đều có các ông lang, bà mế hành nghề cắt
thuốc trị các bệnh thông thường cho đến ngày nay. Các cây thuốc thường được sử dụng
để chữa các bệnh gồm: Bố máu, gan, thận, phụ nữ sau sinh,
toàn xã là 7.235,75 ha. Trong đó, diện tích đất lâm nghiệp với 5.255,2 ha (chiếm 72,63%
tổng diện tích), đất rừng phòng hộ là 4.192,40 ha, đất rừng sản xuất là 1.062,80 ha. Tuy
nhiên, diện tích đất nông nghiệp chiếm tỉ lệ ít, khoảng 111,19 ha (chiếm 1,54% tống
diện tích), nên việc thực hiện an ninh lương thực tại chỗ gặp không ít khó khăn. Ngoài
ra, diện tích đất hoang hóa, chưa sử dụng hiện nay còn khá lớn khoảng 1.748,46 ha
(chiếm 24,16% tổng diện tích).
- Đất đai tại xã Thượng Cửu được chia làm 02 loại chính:
Đất Fearalit đỏ vàng: Phát triển trên GnaixenPecmatit, tập trung ở các gò đồi trên
địa bàn toàn xã, loại đất này chiếm khoảng 75% diện tích tự nhiên của xã, đất có chất
lượng trung bình, thành phần cơ giới trung bình, độ dày tầng đất từ 40-80 cm, loại đất
này thích hợp với trồng rừng, trồng cây công nghiệp dài ngày, cây ăn quả.
Đất dổc tụ và đất lầy: Được tích tụ lâu dài từ các loại đất trên đồi do quá trình rửa
trôi xuống các khe xen kẽ giữa các quả đồi, loại đất này có thành phần cơ giới, chất dinh
dưỡng trong đất ở mức trung bình, thích hợp trồng các loại cây ngắn ngày, cây lương
1
1
thực.
Có thế nói, Thượng Cửu có nhiều loại đất rất phù hợp với sản xuất nông lâm
nghiệp, nhất là với cây lâm nghiệp, cây công nghiệp và cây dược liệu.
- Khoáng sản: Trên địa bàn xã hiện có 05 mỏ sắt thuộc xóm Vì và xóm Mu, hiện
đang khai thác (Do một số công ty Gang thép CNVN, Thăng Long, Tân Liên
Thành).
2.2.3. Khí hậu thuỷ văn [37].
- Thượng Cửu mang đặc trưng của khí hậu nhiệt đới gió mùa, hàng năm chia thành
hai mùa rõ rệt. Mùa hè trùng với gió Đông Nam từ tháng 4 đến tháng 10 (nhiệt
độ trung bình từ 22-23,2°c, trung bình tối cao là 28,4
()
c, tối thấp là 16,1
W
C), trời
Nông lâm nghiệp là ngành kinh tế chủ đạo của xã (chiếm 95,53% tổng giá trị sản
xuất), với diện tích đất rừng sản xuất lớn vì thế nguồn lợi từ việc trồng rừng mang lại rất
lớn. Tuy nhiên, phát triến lâm nghiệp trên địa bàn xã vẫn còn một số hạn chế như: Công
tác quy hoạch đất lâm nghiệp còn chưa cụ thế trên thực tể, gây khỏ khãn trong quản lý
và sử dụng, rừng trông là các loài giông cũ cỏ năng suât thấp: Keo lá tràm, keo tai
tượng, bạch đàn úc; các mặt hàng lâm sản ngoài gỗ khai thác với quy mô nhỏ, sản phẩm
tiêu thụ chủ yếu dưới dạng nguyên liệu thô; trình độ sản xuất còn hạn chế, đa số hộ sản
xuất dựa trên kinh nghiệm cũ, chưa đáp ứng được yêu cầu kỹ thuật đặt ra khi sản xuất
hàng hoá.
Cơ sở hạ tầng còn chưa được đầu tư đồng bộ, chưa đáp ứng được nhu cầu đời sống
của người dân cũng như sự phát triển của kinh tế - xã hội. Trên địa bàn xã có 2 trạm
biến thế nên một số khu xóm vẫn chưa có điện lưới quốc gia vẫn phải sử dụng điện nước
do người dân tự lắp. Tỷ lệ hộ dùng nước hợp vệ sinh đạt khoảng 60 %, người dân vẫn
chủ yếu sử dụng nước giếng khoan, giếng khơi, nước khe lạch.
2.3.Thời gian nghiên cứu
Từ tháng 11/2011 - 5/2013.
2.4.Nội dung nghiên cứu
- Phân loại và đánh giá hiện trạng thảm thực vật.
- Nghiên cứu tính đa dạng loài cây thuốc.
- Hiện trạng và tiềm năng cây thuốc trong các kiếu thảm thực vật.
1
3
- Các yếu tố tác động đến nguồn gen cây thuốc.
- Đe xuất giải pháp bảo vệ, khai thác và sử dụng bền vững nguồn tài nguyên cây
thuốc.
2.5.Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu tính đa dạng cây thuốc trong thảm thực vật thứ sinh phục hồi tự nhiên
tại xã Thượng Cửu huyện Thanh Sơn tỉnh Phú Thọ, chúng tôi dựa vào phương pháp
nghiên cứu của Gary J. Martin (2002) [25] và Nguyễn Nghĩa Thìn (2007) [32].
CÁC BƯỚC TIÉN HÀNH
- Xóm Tân Liên Thành - xóm Mu, cửa suối vẹn (tọa độ: N 20° 57.561’ - E 105°
07.369’)
Dọc theo hai bên tuyến điều tra bố trí ô tiêu chuẩn 400 m
2
(20 X 20m) và các ô
dạng bản 4 m
2
(2 X 2 m) để thu thập số liệu ô tiêu chuẩn. Ô dạng bản được bố trí trên các
đường chéo, đường vuông góc và các cạnh của ô tiêu chuẩn. Tổng diện tích các ô dạng
bản phải đạt ít nhất là 1/3 diện tích ô tiêu chuẩn. Ngoài ra, dọc hai bên tuyến điều tra
cũng đặt thêm các ô dạng bản phụ để thu thập số liệu bố sung.
Phương pháp thu mẫu: Chất lượng mẫu đặc trưng cho từng loài, một mẫu vật đầy
đủ là mẫu vật có cả cơ quan dinh dưỡng (cành, lá, ) và cơ quan sinh sản (hoa, quả).
Dùng kéo cắt cành để thu mẫu, ở cây cao có thể trèo hoặc dùng kéo chuyên dụng
để cắt. Mỗi cây thu từ 3-10 tiêu bản hoặc nhiều hơn, cây có hoa đơn tính phải thu cả
cành mang hoa đực và cành mang hoa cái. Cùng một cây thu mẫu ở cả cành non và cành
già đế thấy được sự biến đối theo di truyền, cùng một loài thu ở nhiều địa điêm khác
nhau để thấy được sự biến đổi theo sinh thái.
Sau khi thu, mẫu được cắt tỉa sao cho mẫu đặt gọn trong 1 tờ báo có kích thước 40
X 30 cm (các vật đi kèm để bảo quản mẫu như kẹp mẫu, tủ sấy, tủ bảo quản, đều tuân
theo kích thước). Đối với mẫu có kích thước lớn, chỉ giữ lại phần đặc trưng nhất. Neu
mẫu quá lớn, phải cắt mẫu ra từng phần rồi đánh dấu đế sau dễ quan sát.
Sau khi cắt tỉa, mẫu được đeo nhãn, các mẫu trên cùng một cây được đánh cùng
một số hiệư mẫu.
Dùng bút chì hoặc bút chuyên dụng (không phai mực khi ngâm tẩm) ghi chép
những thông tin về đặc điểm của mẫu vật (kích thước cây, đặc điểm thân, cành, lá, màu
1
5
sắc và mùi vị hoa, quả, ), phân bố, tọa độ (dùng GPRS để xác định), sinh thái, dạng
sống (cây thân gỗ, thân bụi, thân thảo, thân leo), giá trị sử dụng, vào sổ lý lịch tiêu
nhanh các họ của Nguyễn Nghĩa Thìn (1997).
Bước 5. Điều tra trong cộng đồng
Trong quá trình nghiên cứu cộng đồng, sử dụng hai phương pháp nghiên cứu là
RRA và PRA.
RRA (đánh giá nhanh nông thôn): Là quá trình nghiên cứu được coi như là điểm
bắt đầu cho sự hiểu biết về tình hình địa phương.
PRA (đánh giá nông thôn có sự tham gia): Là một loạt các cách và phương pháp
cho phép người dân nông thôn cùng chia sẻ, nâng cao và phân tích kiến thức của họ vè
đời sống và điều kiện nông thôn để lập kế hoạch và hành động. Một số kỹ thuật thường
được sử dụng:
- Phỏng vấn: Sử dụng một số câu hỏi cho những người được lựa chọn, thường là
những “ông lang”, “bà mế” (hoặc là “thầy lang”) hay là người biết cây thuốc,
người dân đi lấy thuốc, Có hai cách cung cấp thông tin đế cho người giới thiệu
cây thuốc lựa chọn:
Cách thứ nhất: Đen tận nhà báo trước cho người cung cấp thông tin đi lấy trước
những cây thuốc, sau đó giới thiệu lần lượt cho người điều tra ghi chép. Cách này
thường áp dụng cho những người già yếu, không đi thực địa được, họ bảo người nhà đi
lấy. Người điều tra hướng dẫn tỷ mỷ cách lấy thu mẫu sao cho có thể sử dụng làm tiêu
bản được.
Cách thứ hai: Người giới thiệu cây thuốc cùng đi thực địa, đưa cán bộđiều tra
đến nơi có cây thuốc để giới thiệu và thu thập tiêu bản.
- Thảo luận nhóm: Sau khi có kết quả bước đầu về tri thức, kinh nghiệm và mẫu
vật, đế kiểm tra độ chính xác cũng như có thêm các thông tin bổ sung, chúng tôi
tiến hành thảo luận nhóm. Nhóm thảo luận bao gồm cả những người tham gia và
không tham gia phỏng vấn trước đó. Trong khi thảo luận, các cán bộ nghiên cứu
lần lượt đưa ra những thông tin thu thập được ra đế mọi người cùng thảo luận,
nhiều kinh nghiệm của người dân đẵ được chỉnh lý và bố sung qua quá trình này.
Bước 6. Đe xuất giải pháp
1
7
8
tự nhiên) và phân bố rải rác khắp khu vực. Một số thường thấy như: Mua thường
(Medinilla normale), cỏ chít (Thysanolaena maxima), cỏ cứt lợn (Ageratum conyzoides),
Đơn buốt (Bidens pilosa), Đại bi (Blumea balsanifera), Cúc chỉ thiên (Elephantopus
scaber),
3.1.1.4. Thảm cỏ
Chiếm tỷ lệ diện tích rất nhở, phân bố rải rác. Bao gồm các loài cỏ cao và một số
loài khác như: cỏ tranh (Imperata cylỉndrical), Lách (Saccharum spontaneum), Cỏ chít
Ợhysanolaena maxima), cỏ rác (Microstegium vagans), Mua bà (Medinilla
sangitỉneum), Ké hoa đào (Urena lobata),
3.1.1.5. Rừng trồng
Chiếm diện tích nhỏ 1.056 ha, chiếm 14,56% diện tích tự nhiên. Rừng mới được
trồng khoảng 10 năm trở lại đây, chủ yếu là cây keo tai tượng, bồ đề, sơn, Trong
những năm gần đây đã cho thu hoạch.
3.1.1.6. Các hệ thống cây trồng nông nghiệp
Chiếm một tỷ lệ rất nhỏ (19,88 ha), chiếm 0,28% diện tích tự nhiên của toàn xã,
phân bố rải rác quanh các bản làng, gồm ruộng lúa nước, ruộng lúa nương, nương rẫy
trồng hoa màu.
3.1.2. Hiện trạng thảm thực vật
Trong quá trình điều tra ngoài thực địa, do gặp nhiều khó khăn như: Thời gian
nghiên cứu hạn chế, địa hình phức tạp, độ cao của núi lớn Vì vậy chúng tôi chỉ tập
trung nghiên cứu ở 3 thảm thực vật. Đó là: rừng thứ sinh, thảm cây bụi, thảm cỏ. Qua
điều tra bước đầu đã thống kê được 281 loài thuộc 227 chi, 95 họ. Kết quả nghiên cứu
được trình bày ở bảng 3.1 và bảng 3.2.
Bảng 3.1. Sự phân bo các bậc taxon thực vật ở khu vực nghiên cứu.
T
T
Bậc phân loại Số họ Tỷ lệ
(%)
Số chi Tỷ
Magnoliophyta
4.
ì.
Lớp Mộc lan
Magnoliopsida
70 73,6
8
159 70,0
4
206 73,
3 ỉ
4.
2.
Lớp Hành - Liliopsida J6 16,8
4
56 24,6
7
62 22,
06
Tổng 95 100 227 100 281 100
Qua số liệu bảng 3.1 cho thấy thành phần thực vật ở khu vực nghiên cứu là khá
phong phú và đa dạng. Sự phân bố của các bậc taxon cụ thể như sau: Trong 4 ngành
thực vật bậc cao có mạch. Đa số các taxons đều tập trung trong ngành Ngọc lan
(Magnoliophyta) có số họ, chi và loài phong phú nhất, gồm 86 họ (chiếm 90,53%),
215 chi (94,71%), 268 loài (95,37%). Các ngành còn lại chỉ chiếm một tỷ lệ rất nhỏ.
Trong ngành Ngọc lan (Magnoliophyta), lớp Mộc lan (Magnoliopsida) chiếm tỷ
lệ lớn với 70 họ (73,68%), 159 chi (70,04%) và 206 loài (73,31%). Tỷ lệ hai lớp trong
ngành Ngọc lan có sự phân hóa mạnh.
Bảng 3.2. So lượng và tỷ lệ (%) các họ, chi, loài thực vật trong các kiếu thảm
thực vật ở khu vực nghiên cứu.
Rừng
thứ
Thảm
cây bụi
Thảm cỏ Tổng
1. Họ Hoà thảo - Poaceae 5 11 18 34
2. Họ Đậu - Fabaceae 12 12 9 33
3. Họ Cúc - Asteraceae 4 9 4 17
4.
Họ Thầu dầu
Euphorbiaceae
8 8 0 16
5. Họ Dâu tằm - Moraceae 11 1 0 12
6. Họ Cà phê - Rubiaceae 6 6 0 12
7. Họ Cói - Cyperaceae 1 1 6 8
8.
Họ Đơn nem -
Myrsinaceae
4 3 ] 8
9. Họ Ráy - Araceae 7 0 0 7
1
0.
Họ Vang
Caesalpiniaceae
5 2 0 6
1
1.
Họ Sim - Myrtaceae 2 5 0 6
Tổng 65 58 38 161
Qua bảng 3.3, chúng ta thấy số loài trong khu vực nghiên cứu là 281 loài, số loài
Chò đãi EN
7. Micheỉia balansae (DC.) Dandy Gioi lông VU
8.
Excentrodendron tonkinense
(Gegnep.) Chang
Nghiến EN
9. Anoectochilus calcareus Aver.
Kim tuyến đá
vôi
EN
Từ bảng 3.4 cho thấy trong tổng số loài thực vật tại khu vực nghiên cứu có 6 loài ở
mức sẽ nguy cấp (VU) và 3 loài ở mức nguy cấp (EN), nếu không có các biện pháp bảo
tồn kịp thời thì sẽ có nguy cơ bị tuyệt chủng trong thời gian không xa.
3.2.Nghiên cứu tính đa dạng loài cây thuốc
Đã tiến hành tập trung nghiên cứu thành phần loài cây thuốc trong 3 kiểu thảm
thực vật tại khu vực nghiên cứu: Rừng thứ sinh, thảm cây bụi và thảm cỏ. Ket quả được
trình bày ở bảng 3.5.
2
2
Bảng 3.5, Danh lục các ỉũài cây thuốc điều tra được trong khu vực nghiên cửu.
T
T
Tên khoa hoc Tên Viêt Nam Sinh cành Công dụng
Rừ
ng
th
ứ
Th
ăm
cây
6. GNETACEAE HỌ DÂY GẮM
7. Gnetum montanum Markgf. Gắm núi +
Làm thuốc giáĩ độc như sơn ăn,
ngộ độc. Còn được dùng chùa sốt
vả sốt rét.
D. MAGNOLIOPIIYTA NGÀNH MỘC LAN
MAGNOLIOPSIDA LỚP MỘC LAN
7. ACANTHACEAE HỌ Ô RÔ
S. Justicia geniltirussa Burm, f. Thanh táo +
Lá hạ nhiệt, trị suyễn, đau bụng;
vò rễ, thân trù phong thấp, sái
chấn.
8. ACTINIDIACEAE HỌ DƯƠNG ĐÀO
9. Saurwiia trist\ia DC. Nóng +
Lá, võ trị sai khớp, rắn cắn. vỏ,
hạt trị viêm gỉin. đau răng.
9. AMARANTHACEAE HỌ RAU DÈN
24
1
0.
Ackyranthes aspera L. Có xước + +
Thân, rề sắc uống trị cám mạo,
phát sốt, sổ mũi, sốt rét, lị, quai
bị, thẩp khớp, tiểu buốt, đau bụng
kinh.
1
1.
Amaranthus ỉivỉdus L. Den cơm Trị ran cắn.
1
2.