ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
NGUYỄN CÔNG
HOAN
NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM CẤU TRÚC CÁC TRẠNG THÁI THẢM
THỰC VẬT THỨ SINH PHỤC HỒI TỰ NHIÊN TẠI TRẠM ĐA
DẠNG SINH HỌC MÊ LINH TỈNH VĨNH PHÚC
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP
Thái Nguyên, 2008
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
NGUYỄN CÔNG
HOAN
NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM CẤU TRÚC CÁC TRẠNG THÁI THẢM
THỰC VẬT THỨ SINH PHỤC HỒI TỰ NHIÊN TẠI TRẠM ĐA
DẠNG SINH HỌC MÊ LINH TỈNH VĨNH PHÚC
Chuyên ngành: Lâm học
Mã số: 60.62.60
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP
Người hướng dẫn khoa học : TS. Nguyễn Văn
Sinh
Thái Nguyên, 2008
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên htt p :// w w
w. l r
c -tnu. e d
u. v
n
cuốn luận văn này.
Thái Nguyên, ngày 15 tháng 11 năm 2008
Tác giả
Nguyễn Công Hoan
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên htt p :// w w
w. l r
c -tnu. e d
u. v
n
MỤC LỤC
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Lời cảm ơn
Trang
Danh mục các ký hiệu, chữ viết tắt i
Danh mục các bảng ii
Danh mục các hình iii
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
Chương 1 - TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 3
1.1. Trên thế giới 3
1.1.1. Những nghiên cứu về cấu trúc rừng 3
1.1.2. Những nghiên cứu về tái sinh 7
1.2. Những nghiên cứu ở Việt Nam 10
1.2.1. Những nghiên cứu về cấu trúc rừng 10
1.1.2. Những nghiên cứu về tái sinh 17
Chương 2 - ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN, KINH TẾ XÃ HỘI KHU VỰC 18
3.5.1. Phương pháp luận 29
3.5.2. Phương pháp thu thập số liệu 29
3.5.3. Phương pháp phân tích và sử lý số liệu 34
Chương 4
-
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
40
4.1. Các đặc
trƣng
của TTV hồi tự nhiên tại Trạm Đa dạng sinh học 40
Mê Linh
4.1.1 Trạng thái TTV thứ sinh phục hồi TN sau nương rẫy 41
4.1.2. Trạng thái TTV thứ sinh phục hồi TN sau khai thác kiệt 44
4.2. Đặc điểm cấu trúc tổ thành sinh thái 48
4.2.1. Chỉ số IVI và công thức tổ thành sinh thái trong quần hợp cây gỗ 49
4.2.2. Đánh giá sự biến động thành phần loài giữa các nhóm cây 59
4.2.3. Đánh giá chỉ số đa dạng sinh học của quần hợp cây gỗ 61
4.2.4. Đặc điểm cấu trúc tầng phiến 62
4.3. Một số đặc điểm cấu trúc ngang 63
4.3.1. Phân bố loài theo các nhóm tần số xuất hiện 63
4.3.2. Sự phân bố số loài cây theo cấp đường kính 66
4.3.3. Sự phân bố số cây theo cấp đường kính 67
4.4. Một số đặc điểm cấu trúc đứng 69
4.4.1. Phân bố số cây theo cấp chiều cao 69
4.4.2. Phân bố loài theo cấp chiều cao 72
4.5. Quy luật
tƣơng
quan giữa chiều cao và
đƣờng
kính thân cây 73
TN Tự nhiên NR
Nương rẫy
KTK Khai thác kiệt
[…] Trích dẫn tài liệu
i
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng Nội dung Trang
2.1 Số liệu khí tượng trạm khí tượng Vĩnh Yên 21
3.1
4.1
4.2.
4.3
4.4
4.5
4.6
4.7
4.8
4.9
4.10
4.11
4.12
4.13
4.14
4.15
4.16
4.17
4.18
4.19
Ký hiệu độ nhiều (độ dầy rậm) thảm tươi
Tổng số loài và loài ưu thế sinh thái ở hai TTV
55
57
60
60
60
62
66
68
70
72
75
76
78
79
81
ii
DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình Nội dung Trang
2.1
3.1
3.2
4.1
4.2
4.3
4.4
4.5
4.6
4.7
4.8
4.9
67
68
71
73
77
77
iii
1
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên htt p :// w w
w. l r
c -tnu. e d
u. v
n
ĐẶT VẤN
ĐỀ
Rừng là di sản của mỗi quốc gia, có ý nghĩa quan trọng trong đời sống con
người. Ngoài khả năng cung cấp gỗ, củi, dược liệu….rừng còn có vai trò to lớn
trong việc bảo vệ đất, nước, không khí tạo nên sự cân bằng sinh thái và sự phát
triển bền vững của sự sống trên trái đất.
Vai trò của rừng là rất to lớn, thế nhưng trong những năm vừa qua diện tích
rừng tự nhiên của chúng ta ngày càng giảm sút cả về số lượng và chất lượng.
Theo số liệu thống kê của Viện điều tra quy hoạch rừng, năm 1945 tổng diện
tích rừng tự nhiên của nước ta là 14 triệu ha, tương đương với độ che phủ là
43%, đến năm 1990 tổng diện tích rừng nước ta chỉ còn là 9,175 triệu ha, tương
đương với độ che phủ là 27,2%. Nguyên nhân chủ yếu dẫn đến mất rừng là do
chiến tranh, khai thác bừa bãi, đốt nương làm rẫy. Từ khi Chính phủ có chỉ thị
Tài nguyên sinh vật (Viện khoa học và Công nghệ Việt Nam) nằm trong những
vùng đệm của Vườn quốc gia Tam Đảo. Đây là vùng đồi núi thấp phía Đông
Bắc Việt Nam, nơi rừng đã bị phá hủy một cách nghiêm trọng do những tác
động của con người như: đốt nương làm rẫy, chăn thả gia súc, khai thác gỗ
củi…. Kết quả điều tra đã cho thấy, rừng nguyên sinh trên khu vực địa bàn Trạm
đã bị phá huỷ hoàn toàn, thay vào đó là các trạng thái thảm thực vật thứ sinh
nhân tác: trảng cỏ, trảng cây bụi, rừng thứ sinh phục hồi tự nhiên và rừng trồng
nhân tạo. Vấn đề đặt ra là phải làm gì để xúc tiến phục hồi thảm thực vật rừng tự
nhiên trên địa bàn Trạm.
Trước thực tiễn đó, chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài: “ Nghiên cứu đặc
điểm cấu trúc các trạng thái thảm thực vật thứ sinh phục hồi tự nhiên tại
Trạm Đa dạng sinh học Mê Linh tỉnh Vĩnh Phúc ” nhằm đánh giá thực trạng
và đặc điểm cấu trúc của các trạng thái thảm thực vật thứ sinh phục hồi tự nhiên
tại Trạm làm cơ sở khoa học đề xuất các giải pháp xúc tiến quá trình phục hồi
nhằm nâng cao chất lượng rừng và các quá trình diễn ra trong hệ sinh thái rừng
tự nhiên.
3
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên htt p :// w w
w. l r
c -tnu. e d
u. v
n
Chương
1
TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
Ngay từ những năm đầu của thế kỷ 20, ở Việt Nam và các nước trên thế
w. l r
c -tnu. e d
u. v
n
vật và giữa thực với hoàn cảnh sống. Trên quan điểm sinh thái thì cấu trúc rừng
chính là hình thức bên ngoài phản ánh nội dung bên trong của hệ sinh thái rừng,
thực tế cấu trúc rừng nó có tính quy luật và theo trật tự của quần xã.
Các nghiên cứu về cấu trúc sinh thái của rừng mưa nhiệt đới đã được P. W.
Richards (1952), G. N. Baur (1964), E. P. Odum (1971)… tiến hành. Những
nghiên cứu này đã nêu lên quan điểm, các khái niệm và mô tả định tính về tổ
thành, dạng sống và tầng phiến của rừng.
Theo tác giả G. N. Baur (1964) [64] đã nghiên cứu các vấn đề về cơ sở sinh
thái nói chung và về cơ sở sinh thái học trong kinh doanh rừng nói riêng, trong
đó đi sâu nghiên cứu cấu trúc rừng, các kiểu sử lý về mặt lâm sinh áp dụng cho
rừng mưa tự nhiên. Từ đó tác giả đưa ra các nguyên lý tác động sử lý lâm sinh
cải thiện rừng.
P. Odum (1971) [70] đã hoàn chỉnh học thuyết về hệ sinh thái trên cơ sở
thuật ngữ hệ sinh thái (ecosystem) của Tansley (1935). Khái niệm sinh thái được
làm sáng tỏ là cơ sở để nghiên cứu các nhân tố cấu trúc trên quan điểm sinh thái
học.
Công trình nghiên cứu của R. Catinot (1965) [5], J. Plaudy (1987) [34] đã
biểu diễn cấu trúc hình thái rừng bằng các phẫu đồ rừng, nghiên cứu các cấu trúc
sinh thái thông qua việc mô tả phân loại theo các khái niệm dạng sống, tầng
phiến.
1.1.1.2. Mô tả về hình thái cấu trúc rừng
Hiện tượng thành tầng là sự sắp xếp không gian phân bố của các thành phần
trong quần xã có các dạng sống khác nhau). Tuy nhiên, nhiều nhà sinh thái học
cho rằng phân loại hình thái, các phổ dạng sống của Raunkiaer kém ý nghĩa hơn
các dạng sinh trưởng của Humboldt và Grinsebach. Trong các loại rừng dựa
theo cấu trúc và dạng sống của thảm thực vật, phương pháp dựa vào hình thái
bên ngoài của thảm thực vật được sử dụng nhiều nhất.
Kraft (1884) lần đầu tiên đưa ra hệ thống phân cấp cây rừng, ông phân chia
cây rừng thành 5 cấp dựa vào khả năng sinh trưởng, kích thước và chất lượng
cây rừng. Phân cấp của Kraft phản ánh được tình hình phân hoá cây rừng, tiêu
chuẩn phân cấp rõ ràng, đơn giản và dễ áp dụng nhưng chỉ phù hợp với rừng
thuần loài đều tuổi. Việc phân cấp cây rừng cho rừng tự nhiên hỗn loài nhiệt đới
là một vấn đề phức tạp, cho đến nay vẫn chưa có tác giả nào đưa ra phương án
phân cấp cây rừng cho rừng nhiệt đới tự nhiên được chấp nhận rộng rãi.
Như vậy, hầu hết các tác giả khi nghiên cứu về tầng thứ thường đưa ra
những nhận xét mang tính định tính, việc phân chia tầng thứ theo chiều cao
6
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên htt p :// w w
w. l r
c -tnu. e d
u. v
n
mang tính cơ giới nên chưa phản ánh được sự phân tầng của rừng tự nhiên nhiệt
đới.
1.1.1.3. Nghiên cứu định
lƣợng
cấu trúc rừng
Việc nghiên cứu cấu trúc rừng đã có từ lâu và được chuyển dần từ mô tả
u. v
n
Việc định lượng các đặc điểm cấu trúc rừng đã được tác giả trên thế giới sử
dụng trong quá trình nghiên cứu các hệ sinh thái rừng tự nhiên, kể cả các hệ sinh
thái rừng tự nhiên vùng nhiệt đới (Weidelt 1968, Brun 1969, H. Lamprecht
1969).
Phương pháp phân tích lâm sinh đã được H. Lamprecht (1969) [67] mô tả
chi tiết. Các tác giả nghiên cứu rừng tự nhiên vùng nhiệt đới sau đó đã vận dụng
phương pháp này và mở rộng thêm những chỉ tiêu định lượng mới cho phân tích
cấu trúc rừng tự nhiên như Kammesheidt (1994) [66], Nguyen Van Sinh (2000)
[72].
Tóm lại, trên thế giới các công trình nghiên cứu về đặc điểm cấu trúc rừng
nói chung và rừng nhiệt đới nói riêng rất phong phú đa dạng, có nhiều công trình
nghiên cứu công phu đã đem lại hiệu quả cao trong kinh doanh rừng.
1.1.2. Những nghiên cứu về tái sinh rừng
Như chúng ta đã biết tái sinh rừng là một quá trình sinh học mang tính đặc
thù của hệ sinh thái rừng, biểu hiện của nó là sự xuất hiện của một thế hệ cây
con của những loài cây gỗ ở những nơi còn hoàn cảnh rừng như: Dưới tán rừng,
lỗ trống trong rừng, đất rừng sau khai thác, đất rừng sau nương rẫy. Vai trò lịch
sử của lớp cây tái sinh là thay thế thế hệ cây già cỗi. Vì vậy, tái sinh rừng được
hiểu theo nghĩa hẹp là quá trình phục hồi thành phần cơ bản của rừng chủ yếu là
tầng cây gỗ [25], [26], [71].
Theo quan điểm của các nhà nghiên cứu thì hiệu quả tái sinh rừng được xác
định bởi mật độ, tổ thành loài cây, cấu trúc tuổi, chất lượng cây con, đặc điểm
phân bố. Sự tương đồng hay khác biệt giữa tổ thành lớp cây con và tầng cây gỗ
đã được nhiều nhà khoa học quan tâm (Mibbre-ad, 1930 ; Richards, 1952 ; Baur
G.N, 1964 ; Rollet, 1969). Do tính phức tạp về tổ thành loài cây, trong đó chỉ có
một số loài cây có giá trị nên trong thực tiễn người ta chỉ khảo sát những loài
số lượng ô phải đủ lớn mới phản ánh trung thực tình hình tái sinh rừng. Để giảm
sai số trong khi thống kê tái sinh tự nhiên, Barnard (1950) đã đề nghị một phương
pháp “ điều tra chẩn đoán ” mà theo đó kích thước ô đo đếm có thể thay đổi tuỳ
theo giai đoạn phát triển của cây tái sinh ở các trạng thái rừng khác nhau.
Các công trình nghiên cứu về phân bố tái sinh tự nhiên rừng nhiệt đới đáng
chú ý là công trình nghiên cứu của P.W. Richards (1952), Bernard Rollet (1974)
tổng kết các kết quả nghiên cứu về phân bố số cây tái sinh tự nhiên đã nhận xét:
trong các ô có kích thước nhỏ (1 m x 1 m; 1 m x 1,5 m) cây tái sinh tự nhiên có
dạng phân bố cụm, một số ít có phân bố Poisson. Ở Châu Phi trên cơ sở các số
liệu thu thập Tayloer (1954), Barnard (1955) xác định số lượng cây tái sinh trong
rừng nhiệt đới thiếu hụt cần thiết phải bổ sung bằng trồng rừng nhân tạo. Ngược
lại, các tác giả nghiên cứu về tái sinh tự nhiên rừng nhiệt đới Châu á như
Budowski (1956), Bava (1954), Atinot (1965) lại nhận định dưới tán rừng nhiệt
đới nhìn chung có đủ số lượng cây tái sinh có giá trị kinh tế, do vậy các biện pháp
9
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên htt p :// w w
w. l r
c -tnu. e d
u. v
n
lâm sinh đề ra cần thiết
9
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên htt p :// w w
w. l r
sinh mạnh mẽ. Trong điều kiện này chúng là nhân tố gây trở ngại rất lớn cho tái
sinh rừng (Xannikov, 1967; Vipper, 1973) (dẫn theo Nguyễn Văn Thêm, 1992)
[50].
Tái sinh tự nhiên của thảm thực vật sau nương rẫy được một số tác giả
1
0
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên htt p :// w w
w. l r
c -tnu. e d
u. v
n
nghiên cứu. Saldarriaga (1991) nghiên cứu tại rừng nhiệt đới ở Colombia và
Venezuela nhận xét: Sau khi bỏ hoá, số lượng loài thực vật tăng dần từ ban đầu
đến rừng thành
10
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên htt p :// w w
w. l r
c -tnu. e d
u. v
n
thục. Thành phần của các loài cây trưởng thành phụ thuộc vào tỷ lệ các loài
nguyên thuỷ mà nó được sống sót từ thời gian đầu của quá trình tái sinh, thời gian
c -tnu. e d
u. v
n
Vũ Đình Phương (1987) [32] đã đưa ra phương pháp phân chia rừng phục
vụ cho công tác điều chế với phân chia theo lô và dựa vào 5 nhân tố: Nhóm sinh
thái tự nhiên, các giai đoạn phát triển và suy thoái của rừng, khả năng tái tạo
rừng bằng con đường tái sinh tự nhiên, đặc điểm về địa hình, thổ nhưỡng với
một bảng mã hiệu dùng để tra trong qúa trình phân chia.
Đối với hệ sinh thái rừng nhiệt đới ở Việt Nam, Thái Văn Trừng (2000)
[61] dựa vào sự ghép nối của 2 hệ thống phân loại: hệ thống phân loại đặc điểm
cấu trúc ngoại mạo làm tiêu chuẩn và hệ thống phân loại thảm thực vật dựa trên
yếu tố hệ thực vật làm tiêu chuẩn đã phân chia thảm thực vật Việt Nam thành 5
nhóm kiểu thảm (gọi là 5 nhóm quần hệ) với 14 kiểu quần hệ (gọi là 14 quần
hệ). Mặc dù còn một số điểm cần bàn luận và chỉnh lý bổ sung thêm nhưng bảng
phân loại thảm thực vật Việt Nam của GS. Thái Văn Trừng từ bậc quần hệ trở
lên gần phù hợp với hệ thống phân loại của UNESCO (1973).
Khi nghiên cứu cấu trúc, việc mô hình hoá quy luật phân bố số cây theo
đường kính và theo chiều cao được chú ý nhiều hơn. Đây là quy luật cơ bản nhất
trong các quy luật kết cấu lâm phần. Biết được quy luật phân bố, có thể xác định
được số cây tương ứng từng cỡ kính hay từng cỡ chiều cao, làm cơ sở xác định
trữ lượng lâm phần.
Nguyễn Văn Trương (1983) [59] khi nghiên cứu cấu trúc rừng hỗn loài đã
xem xét sự phân tầng theo hướng định lượng, phân tầng theo cấp chiều cao một
cách cơ giới. Từ những kết quả nghiên cứu của các tác giả đi trước, Vũ Đình
Phương (1987) [32] đã nhận định, việc xác định tầng thứ của rừng lá rộng thường
xanh là hoàn toàn hợp lý và cần thiết, nhưng chỉ trong trường hợp rừng có sự
phân tầng rõ rệt có nghĩa là khi rừng đã phát triển ổn định mới sử dụng phương
theo các dạng hàm phân bố xác suất khác nhau, nổi bật là các công trình của các
tác giả như Đồng Sĩ Hiền (1974) [19] dùng hàm Meyer và hệ đường cong
Poisson để
nắn phân bố thực nghiệm số cây theo cỡ đường kính cho rừng tự nhiên làm cơ sở
cho việc lập biểu độ thon cây đứng ở Việt Nam. Nguyễn Hải Tuất (1982, 1986)
[48, 49] đã sử dụng hàm phân bố giảm, phân bố khoảng cách để biểu diễn cấu
trúc rừng thứ sinh và áp dụng quá trình Poisson vào nghiên cứu cấu trúc quần thể
rừng. Trần Văn Con (1991) [6] đã áp dụng hàm Weibull để mô phỏng cấu trúc
đường kính cho rừng khộp ở Đăklăk. Lê Sáu (1995) [36] đã sử dụng hàm
Weibull để mô phỏng các quy luật phân bố đường kính, chiều cao tại khu vực
Kon Hà Nừng, Tây Nguyên.
Bùi Văn Chúc (1996) [14] đã nghiên cứu cấu trúc rừng phòng hộ đầu nguồn
Lâm trường sông Đà ở các trạng thái rừng IIA, IIIA
1
và rừng trồng làm cơ sở
cho việc lựa chọn loài cây.
Theo Nguyễn Nghĩa Thìn (1997) [53], thống kê thành phần loài của Vườn
Quốc Gia Tam Đảo có khoảng 2.000 loài thực vật, trong đó có 904 loài cây có
13
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên htt p :// w w
w. l r
c -tnu. e d
u. v
n
ích ở Tam Đảo thuộc 478 chi, 213 họ thuộc 3 ngành Dương xỉ, ngành Hạt trần