Nhân thân người dưới 18 tuổi phạm tội xâm phạm sở hữu từ thực tiễn quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh - Pdf 46

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN THỊ CẨM

NHÂN THÂN NGƯỜI DƯỚI 18 TUỔI PHẠM TỘI XÂM
PHẠM SỞ HỮU TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN BÌNH TÂN,
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Chuyên ngành: Tội phạm học và phòng ngừa tội phạm
Mã số: 60 38 01 05

TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI – 2017


Công trình được hoàn thành tại:Học viện Khoa học Xã hội
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS.Trần Hữu Tráng

Phản biện 1: Ts. Võ Thị Kim Oanh
Phản biện 2: Ts. Đinh Thị Mai

Luận văn sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận văn thạc
sỹ họp tại Học viện Khoa học xã hội hồi: 15 giờ 30 ngày 10 tháng 10
năm 2017.

Có thể tìm hiểu luận văn tại: Thư viện Học viện khoa học xã hội


MỞ ĐẦU

Để thực hiện được mục đích nêu trên, luận văn cần thực hiện
ba nội dung sau:
Thứ nhất: Nghiên cứu làm rõ những vấn đề lý luận chung về
nhân thân người dưới 18 tuổi phạm tội XPSH;
Thứ hai: Phân tích làm rõ các đặc điểm nhân thân người dưới
18 tuổi phạm tội XPSH và các yếu tố tác động đến sự hình thành
nhân thân người phạm tội XPSH trên địa bàn quận

ình Tân, giai

đoạn 2012 - 2016;
Thứ ba: Nghiên cứu đề xuất các giải pháp tăng cường phòng
ngừa các tội XPSH từ khía cạnh nhân thân người dưới 18 tuổi phạm
tội trên địa bàn quận ình Tân, TP. Hồ Chí Minh.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
2


Đối tượng nghiên cứu của đề tài là những vấn đề lý luận và
thực ti n nhân thân người dưới 18 tuổi phạm tội XPSH trên địa bàn
quận ình Tân.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu nhân thân người dưới 18 tuổi phạm tội
XPSH dưới góc độ tội phạm học và phòng ngừa tội phạm trên địa
bàn quận ình Tân, TP. Hồ Chí Minh trong giai đoạn từ năm 2012
đến năm 2016.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp luận
Đề tài nghiên cứu dựa trên cơ s phép biện chứng duy vật của

- Ý nghĩa thực ti n của đề tài: Những biện pháp phòng ngừa
đưa ra trong đề tài rút ra được từ đặc điểm nhân thân người dưới 18
tuổi phạm tôi XPSH có thể được vận dụng vào thực ti n công tác
phòng, chống tội phạm tội XPSH nói riêng và tội phạm hình sự nói
chung trên địa bàn quận ình Tân trong thời gian tới. Kết quả nghiên
cứu của luận văn cũng có thể được dùng làm tài liệu tham khảo trong
các cơ s đào tạo luật trong cả nước.
7. Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần m đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo,
nội dung của luận văn được cấu trúc thành ba chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận chung về nhân thân người
dưới 18 tuổi phạm tội xâm phạm s hữu;
Chương 2: Thực trạng nhân thân người dưới 18 tuổi phạm tội
xâm phạm s hữu trên địa bàn quận ình Tân, TP. Hồ Chí Minh, giai
đoạn 2012-2016
Chương 3: Hoàn thiện giải pháp phòng ngừa các tội xâm
phạm s hữu trên địa bàn quận ình Tân, TP. Hồ Chí Minh từ khía
cạnh nhân thân người phạm tội.
4


Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ NHÂN THÂN
NGƯỜI PHẠM TỘI XÂM PHẠM SỞ HỮU
1.1. Khái niệm, ý nghĩa của nhân thân người phạm tội
xâm phạm sở hữu
1.1.1.Khái niệm nhân thân người dưới 18 tuổi phạm tội xâm
phạm sở hữu
Nhân thân người phạm tội là tổng hợp những đặc điểm, dấu
hiệu thể hiện bản chất xã hội của con người và các đặc điểm, dấu

phạm sở hữu
- Các đặc điểm nhân chủng học của người dưới 18 tuổi phạm
tội xâm phạm s hữu
- Các đặc điểm xã hội của người dưới 18 tuổi phạm tội xâm
phạm s hữu
- Các đặc điểm tâm lý học xã hội của người dưới 18 tuổi phạm
tội xâm phạm s hữu;
1.2.1. Nhóm đặc điểm sinh học (nhân chủng học)
Các đặc điểm nhân chủng học của nhân thân người phạm tội
XPSH, bao gồm: giới tính, độ tuổi…
a. Giới tính
b. Độ tuổi
1.2.2. Nhóm đặc điểm xã hội
Cũng như nhóm đặc điểm nhân chủng học, những đặc điểm về
xã hội trong nhân thân người phạm tội các tội nói chung và nhóm tội
XPSH nói riêng là những đặc điểm đặc trưng của cá nhân người
phạm tội. Nhóm đặc điểm này bao gồm: trình độ học vấn, hoàn cảnh
gia đình, nơi cư trú…
a. Trình độ học vấn

6


Mỗi người có một trình độ học vấn khác nhau, trình độ học
vấn là một yếu tố ảnh hư ng rất lớn đến nhận thức của con người,
đến khả năng ứng xử của con người trong các mối quan hệ xã hội nói
chung và hành vi phạm tội nói riêng. Thực tế cho thấy những người
có trình độ cao thì khả năng nhận thức, hiểu biết càng cao dẫn đến
việc lựa chọn cách thức ứng xử trước những vấn đề xã hội của cuộc
sống thường rất linh hoạt và thông minh từ đó sẽ kiểm soát được các

cá nhân tự hành động và tự ra quyết định theo ý kiến riêng mà không
muốn bị ảnh hư ng của người khác.
Về nhu cầu khám phá cái mới: Tìm hiểu, khám phá cái mới là
một trong những nhu cầu của các em

lứa tuổi chưa thành niên. Tuy

vậy, sự tò mò và khám phá cái mới cũng có thể tr thành một trong
những nguyên nhân dẫn tới hành vi phạm tội của các em , nếu các
em thiếu sự hướng dẫn, kiểm tra, giám sát của gia đình, xã hội,
không tự chủ được bản thân và không phân biệt được phải trái, đúng
sai.
1.3. Những yếu tố tác động đến sự hình thành nhân thân
người dưới 18 tuổi phạm tội xâm phạm sở hữu:
1.3.1. Các yếu tố khách quan thuộc môi trường sống
a. Môi trường gia đình
Thứ nhất, gia đình quá nuông chiều con cái. Gia đình mà bố
mẹ quá nuông chiều con cái, bao bọc, thỏa mãn tất cả mọi nhu cầu
của con… làm hình thành trong đứa trẻ một thái độ tự mãn, ỷ lại,
quen dựa dẫm, luôn đòi hỏi, đua đòi, sống gấp, coi trọng giá trị vật
chất, sống hết tham vọng, hết ý chí phấn đấu, lười lao động… Những
đứa trẻ này, nếu gia đình, cha mẹ không đáp ứng hoặc không còn khả
năng đáp ứng nhu cầu của chúng, sẽ có thái độ phản kháng, bất mãn,
căm giận bố mẹ, bỏ nhà ra đi, tụ tập với bạn bè hư, vướng vào các tệ
nạn xã hội như ma túy, nghiện game, cờ bạc… và để thỏa mãn nhu
cầu về vật chất, có trẻ đã lấy trộm cắp đồ đạc của gia đình, hoặc của

8



tốt, trẻ d hình thành đặc điểm nhân thân xấu như coi thường đạo
9


đức, pháp luật, coi thường tài sản, tính mạng của người khác… và
khi gặp những tình huống thuận lợi, trẻ sẽ lựa chọn cách thức xử sự
trái đạo đức, trái pháp luật.
-Thứ hai, sự thiếu quan tâm, quản lí sát sao của thầy cô giáo;
sự phối hợp thiếu hiệu quả giữa gia đình và nhà trường, dẫn đến trẻ
bỏ học, trốn học, tụ tập bạn bè xấu và nghe theo sự lôi kéo của bạn
bè tham gia vào các tệ nạn xã hội như ma túy, cờ bạc, chơi games …
và để có tiền thỏa mãn các s thích lệch lạc đó, họ d thực hiện hành
vi phạm tội XPSH.
c. Môi trường bạn bè
Cùng với cha mẹ, người thân, thầy cô thì bạn bè đặc biệt là
bạn bè đồng trang lứa có sự ảnh hư ng rất lớn trong hình thành các
đặc điểm nhân thân người phạm tội.
d. Môi trường kinh tế, văn hóa, xã hội
- Mặt trái của kinh tế phát triển là lối sống hư ng thụ, chạy
theo đồng tiền, kiếm tiền bằng mọi giá.
- Địa vị xã hội nhiều khi được tính bằng tiền nên nhiều người
luôn tìm mọi cách để có tiền, chứng tỏ vị trí của mình.
- Kinh tế phát triển kéo theo các tế nạn xã hội, nghiện games,
cờ bạc, lô đề, mại dâm, ma túy... để có tiền phục vụ các tệ nạn này
nhiều người đã bất chấp đạo đức, pháp luật để phạm tội XPSH.
- Sự yếu kém trong quản lí nhà nước, quản lí nhân khẩu, quản
lí người lao động tự do.
- Sự yếu kém trong đào tạo nghề, tạo việc làm cho người lao
động....
- Cùng với sự phát triển của xã hội thì một loạt những tác động

tư ng coi trọng vật chất, xem thường các giá trị đạo đức, xem thường
pháp luật, lười biếng lao động, xem thường tính mạng tài sản người
khác, vướng vào các tệ nạn xã hội như cờ bạc,ma túy, rượu chè… Từ
đó khi nhu cầu, s thích không thể thõa mãn một cách hợp pháp, họ
sẵn sàng vi phạm pháp luật để có tiền đáp ứng nhu cầu, s thích của
mình.
11


1.3.2. Các yếu tố chủ quan thuộc về người phạm tội xâm
phạm sở hữu
a. Sai lệch về sở thích
S thích chính là thú vui, thú tiêu khiển, là những hoạt động
thường xuyên hoặc theo thói quen đem lại cho con người niềm vui,
sự phấn kh i trong khoảng thời gian thư giãn, s thích cũng chỉ về sự
hứng thú, thái độ ham thích đối với một đối tượng nhất định. S
thích của mỗi người, mỗi cá nhân có thể giống nhau, cũng thể khác
nhau.
b. Sai lệch về nhu cầu và cách thức thỏa mãn nhu cầu
Nhu cầu là một hiện tượng tâm lý của con người; là đòi hỏi,
mong muốn, nguyện vọng của con người về vật chất và tinh thần để
tồn tại và phát triển, là cảm giác thiếu hụt một cái gì đó… Mỗi người
có khả năng, trình độ nhận thức, những đặc điểm tâm sinh lý khác
nhau, khả năng phản ứng với môi trường xung quanh cũng khác nhau
nên nhu cầu của mỗi người vì thế cũng khác nhau.
c. Hạn chế trong năng lực trí tuệ
Mỗi cá nhân có năng lực trí tuệ khác nhau, do vậy mặc dù
sống trong một môi trường xã hội chung nhưng họ lại có sự phát
triển khác nhau về mặt nhận thức, hiểu biết về thế giới xung quanh.
d. Sai lệch, hạn chế trong ý thức pháp luật của cá nhân

2015 thấp nhất (5 vụ, 14 bị cáo).
2.1.2. Cơ cấu của tình hình tội xâm phạm sở hữu do người
chưa thành niên thực hiện trên địa bàn quận Bình Tân
2.1.2.1 Cơ cấu theo tội danh (điều luật)
- Tội tội cướp giật tài sản (điều 136) chiếm tỷ lệ cao nhất, hơn
một nửa số vụ phạm tội XPSH do người dưới 18 tuổi thực hiện trên
13


địa bàn và trong giai đoạn nghiên cứu (53,42%); kế đến là tội cướp
tài sản (điều 133) chiếm 43,83% và tội trộm cắp tài sản (điều 138)
chiếm 15,06 %;
- Các tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản (điều 134), tội cưỡng
đoạt tài sản (điều 135), tội công nhiên chiếm đoạt tài sản (điều 137),
tội lừa đảo ciếm đoạt tài sản (điều 139), tội lạm dụng tín nhiệm
chiếm đoạt tài sản (điều 140), chiếm giữ trái phép tài sản (điều 141),
tội vô ý gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản (điều 145), tội sử dụng
trái phép tài sản (điều 142), tội thiếu trách nhiệm gây thiệt hại
nghiêm trọng đến tài sản của Nhà nước (điều 144), hoàn toàn không
có người dưới 18 tuổi thực hiện trên địa bàn trong giai đoạn này.
2.1.2.2 Cơ cấu theo nơi thường trú
Theo phân tích tại bảng 2.8 và 2.11 cho ta thấy số bị cáo có
nơi đăng ký hộ khẩu thường trú quận ình Tân là là 33 bị cáo chiếm
32,67%; số bị cáo có nơi đăng ký hộ khẩu thường trú các quận,
huyện khác trên địa bàn TP.HCM là 11 bị cáo chiếm tỷ lệ 19,30%,
hộ khẩu thường trú tại các tỉnh khác là 57 bị cáo chiếm 56,44% và có
02 bị cáo không có hộ khẩu thường trú.
2.2. Thực trạng nhân thân người dưới 18 tuổi phạm tội
xâm phạm sở hữu tại quận Bình Tân từ giai đoạn 2012 - 2016
Kết quả nghiên cứu 48 vụ án với 101 bị cáo phạm tội XPSH


trình độ cấp 3 chiếm 16,83% (17 bị cáo).
d. Hoàn cảnh gia đình
Nghiên cứu 48 vụ án với 101 bị cáo phạm tội XPSH do người

dưới 18 tuổi thực hiện trên địa bàn quận ình Tân từ năm 2012 đến
2016, cho thấy về quan hệ gia đình:
- Số bị cáo được sống trong gia đình có đầy đủ cha mẹ là 98 bị
cáo chiếm 97% và 3 bị cáo sống trong gia đình không có đủ cha, mẹ
(cha hoặc mẹ mất hoặc cả hai mất hoặc không biết cha, mẹ là ai).
e. Nơi cư trú, hộ khẩu thường trú
- Về hộ khẩu thường trú: Số bị cáo có nơi đăng ký hộ khẩu
thường trú quận ình Tân là là 33 bị cáo chiếm 32,67%; số bị cáo có
nơi đăng ký hộ khẩu thường trú các quận, huyện khác trên địa bàn
15


TP.HCM là 11 bị cáo chiếm tỷ lệ 19,30%, hộ khẩu thường trú tại các
tỉnh khác là 57 bị cáo chiếm 56,44% và có 02 bị cáo không có hộ
khẩu thường trú.
- Về nơi cư trú: số bị cáo cư trú tại quận ình Tân là 46 bị cáo
chiếm 45,54%, các quận huyện khác trên địa bàn TP.HCM là 18 bị
cáo chiếm 17,82%, cư trú các tỉnh khác là 28 bị cáo chiếm 27,72%,
còn lại 9 bị cáo không có chỗ

xác định chiếm tỷ lệ 9,81%.

2.2.3. Thực trạng các đặc điểm đạo đức - tâm lý
Đối với nhóm đặc điểm này thì qua nghiên cứu tác giả chú ý
đến đặc điểm về s thích, thói quen, động cơ mục đích phạm tội.


lành mạnh như: thích chơi bời, nghiện ma túy, rượu chè, mê game.
2.3. Các đặc điểm nhân thân đặc trưng của người dưới 18
tuổi phạm tội XPSH trên địa bàn quận Bình Tân
Thứ nhất, phần lớn người dưới 18 tuổi phạm tội XPSH trên địa
bàn quận ình Tân là nam giới, có độ tuổi từ 16 đến 18 tuổi chiếm
94,06%,
Thứ hai, Phần lớn người dưới 18 tuổi phạm tội XPSH trên địa
bàn quận ình Tân có trình độ học vấn thấp chủ yếu là từ trung học
cơ s tr xuống.
Thứ ba, Phần lớn người dưới 18 tuổi phạm tội XPSH trên địa
bàn quận Bình Tân thuộc gia đình đủ ăn, giàu có. Phần lớn không có
nghề nghiệp hoặc có nhưng nghề nghiệp không ổn định.
Thứ tư, Phần lớn người dưới 18 tuổi phạm tội XPSH trên địa
bàn quận ình Tân là tạm trú (75,74%), đến ình Tân một mình để
tìm việc và phạm tội.
Thứ năm, động cơ mục đích phạm tội chủ yếu là hám lợi, thỏa
mãn nhu cầu bản thân, lười lao động, có nhu cầu , thói quen không
lành mạnh như: mê game, nghiện ma túy, thích chơi bời.
2.4. Thực trạng những yếu tố động đến sự hình thành nhân
thân người phạm tội xâm phạm sở hữu tại quận Bình Tân
2.4.1. Các yếu tố khách quan thuộc môi trường sống
17


a. Môi trường gia đình
Thứ nhất, gia đình quá nuông chiều con cái.
Thứ hai, gia đình thiếu sự quan tâm chăm sóc, giáo dục con
cái một cách đúng đắn
Thứ ba, gia đình có hoàn cảnh kinh tế khó khăn


pháp luật lao động cho các doanh nghiệp trên địa bàn. Đặc biệt, quận
rất quan tâm đến công tác cải cách hành chính.
Cùng với sự phát triển nhanh chóng của nền kinh tế thị trường
mang lại nhiều mặt tích cực, thì trong quá trình điều hành, quản lý
của Nhà nước cũng có nhiều vấn đề mà từ đó sẽ tạo điều kiện môi
trường xấu cho hành vi phạm tội XPSH xảy ra.
Trẻ mới lớn rất thích khám phá, học hỏi những cái mới. Vì vậy
các em nhanh chóng tiếp thu những nét văn hóa của người dân

đây

nhưng không phải em nào cũng biết chọn lọc và kiềm chế những nhu
cầu của mình dần. Nếu người lớn không quan tâm, không kịp thời
uốn nắn, đó chính là căn nguyên của tội phạm.
2.4.2. Các yếu tố chủ quan thuộc về người phạm tội
a. Sai lệch về sở thích
b. Sai lệch về nhu cầu và cách thức thỏa mãn nhu cầu
c. Sai lệch, hạn chế trong ý thức pháp luật của cá nhân

19


Chương 3
CÁC GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG PHÒNG NGỪA TÌNH
HÌNH CÁC TỘI XÂM PHẠM SỞ HỮU TỪ KHÍA CẠNH
NHÂN THÂN NGƯỜI PHẠM TỘI DƯỚI 18 TUỔI
3.1. Dự báo sự tay đổi của các yếu tố tác động đến sự hình
thành các đặc điểm nhân thân người phạm tội xâm phạm sở hữu
dưới 18 tuổi trên địa bàn quận Bình Tân

quả nghiên cứu của luận văn sẽ góp phần hoàn thiện lý luận cũng
như thực ti n về nhân thân người dưới 18 tuổi phạm tội XPSH, cũng
như góp phần vào công tác giữ gìn an ninh trật tự, an toàn xã hội trên
địa bàn quận ình Tân nói riêng và TP.HCM nói chung./.

21




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status